Chương I KHÁI QUÁT VỀ THỂ KÝ VÀ KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 1. Khái quát về thể ký Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, ký là thể loại văn học “tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu” [10, tr. Còn trong “Từ điển tiếng Việt”, ký là “thể văn tự sự có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất” [45, tr. “Ký là tên gọi chung cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại…), chủ yếu là văn xuôi tự sự, gồm các thể như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký…” [4, tr.
TS Nguyễn Hữu Sơn thì “tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một nhóm thể tài có tính giao thoa giữa báo chí với văn học, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M.Gorki) và thường có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc” [49]. Hoàng Ngọc Hiến cũng đã phân tích và định nghĩa rõ về ký (ét-xe): “Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, ký là một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, tùy bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm (ét-xe)” [17]. Và ông cũng chỉ rõ 3 đặc trưng của ký là “thể loại nằm giữa văn báo chí và văn học”, là “sự hợp nhất truyện và nghiên cứu” (Gorki) và là “sự nhức nhối của trí tuệ” [3, tr. “Ký khác với truyện ở chỗ trong tác phẩm ký không có một xung đột thống nhất; phần khai triển các tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật.
Đề tài và chủ đề của tác phẩm ký có khác so với truyện. Nó thường đề cập (…) đến các vấn đề trạng thái dân sự (kinh tế, xã hội, chính trị) và trạng thái tinh thần (phong hóa, đạo đức) của bản thân môi trường xã hội” [4, tr. Nguyễn Tuân cũng thống nhất với quan điểm này, ông cho rằng “ký và truyện là hai cái khác nhau, mỗi cái có yêu cầu, đặc điểm, giá trị riêng” [3, tr. Trong bài “Ký, một thể loại văn học có giá”, Lê Minh đã có những đánh giá chung nhất về ký: “sức mạnh của ký là công bố những sự thật từ tâm huyết của tác giả, từ nhức nhối trí tuệ và tình cảm của tác giả trước thời cuộc.
Người viết ký phải tìm được cái đẹp (…). Người viết ký phải hết sức tỉnh táo (…) phải luôn luôn tìm nguồn kiến thức để tự trau dồi, nhìn thực tế với con mắt của nhà văn nhưng với tầm nghĩ của một nhà nghiên cứu khoa học xã hội. Và chỗ đứng, luôn luôn là người trong cuộc” [3, tr. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông quan niệm “bút ký là văn học khi nó đáp ứng đủ 3 chữ T sau đây, vốn là yếu tố bản chất của một tác phẩm văn học, là: Triết học, Tâm đạo và Thi pháp” [3, tr.
Đặc trưng cơ bản nhất của ký là trung thực, trần thuật “người thật, việc thật”. Nhưng bên cạnh đó, ký vẫn có quyền hư cấu. Hư cấu vẫn tồn tại trong ký như một phẩm chất mỹ học. Vì vậy, ký có thể đảm nhiệm tốt vai trò thông tin của nó đồng thời đạt được những yêu cầu nghệ thuật khác gây hấp dẫn người đọc.
Nguyễn Tuân cũng như Hoàng Phủ Ngọc Tường đều đề cao việc hư cấu trong viết ký. Theo Nguyễn Tuân, “hư cấu không phải là tách rời thực tiễn và thực tế đời sống, mà chính là rất gắn bó với cuộc sống” [3, tr. Ông cũng cho rằng “cách diễn đạt của thể ký cũng rất đa dạng và phức tạp (…). Ký có quyền dùng tất cả các cách của truyện, kịch, thơ ca, và cả các cách thức của điện ảnh, sân khấu, ca vũ, hội họa, điêu khắc…” [3, tr.
Ở nước ta, ký xuất hiện sớm với tên tuổi của Nguyễn Trãi, Dương Văn An, Lê Hữu Trác, Ngô gia văn phái… thời trung đại, nhất là giai đoạn hậu kỳ, đặc biệt là các tác phẩm “Thượng kinh ký sự” của Lê Hữu Trác, “Tây hành nhật ký” của Phạm Phú Thứ, “Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi” của Trương Vĩnh Ký… Sang thế kỷ XX, thể tài ký xuất hiện và giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn học với tên tuổi của Tản Đà – người “khai sinh cho nhiều thể văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ”. Về sau, ký phát triển mạnh với sự đóng góp của Trọng Lang, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường… Tất cả tạo nên sự phát triển rực rỡ cho thể ký Việt Nam, tạo tiền đề cho cả quá trình sau này. Nhìn chung, các tiểu loại của ký đã phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh bức tranh đời sống xã hội ở một giai đoạn lịch sử phức tạp và đầy biến động. Đó cũng đồng thời là con đường tự định hình, hoàn chỉnh dần các đặc điểm thể loại và xây dựng được nhiều tác phẩm ký xuất sắc, có đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại.
Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 1. Đôi nét về Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ở Huế, ông học hết bậc trung học. Những năm cấp II, cấp III, ông học ở trường Quốc học.
Khi lên đại học, ông chuyển vào Sài Gòn. Từ năm 1957 đến năm 1960, ông là một trong những sinh viên đầu tiên của ban Việt Hán, Trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn khóa I. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn. Từ năm 1960 đến năm 1966, ông về dạy các môn Văn và Triết tại trường Quốc học Huế.
Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Trong những năm sống dưới chế độ Mỹ Diệm, ông đã hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi hòa bình và thống nhất Tổ quốc của học sinh sinh viên và trí thức Huế. Thời gian này, ông từng là Tổng thư ký Hội Sinh viên Huế, từng bị Diệm bắt giam rồi được thả tự do nhân vụ đảo chánh tháng 11/1963 của quân đội Sài Gòn. Từ năm 1964 đến năm 1966, ông tham gia phong trào chống Mỹ Ngụy của Phật tử Huế, từng làm Chủ tịch lực lượng giáo chức tranh đấu Huế.
Lúc này, ông được bầu làm Tổng thư ký tòa soạn báo “Sinh viên Huế”, báo “Dân” và tạp chí “Việt Nam, Việt Nam” của phong trào Huế. Năm 1966 - 1975, ông thoát li lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ, tiếp tục làm báo “Cờ giải phóng” của Thành ủy Huế. Đặc biệt, từ năm 1972 – 1976, ông lao mình vào công cuộc xây dựng ngành văn hóa văn nghệ tỉnh Quảng Trị. Khi ba tỉnh Bình Trị Thiên nhập một, ông vào Huế hoạt động trong Hội Văn học Nghệ thuật.
Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng thư ký Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế, Ủy viên ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Trị kiêm Trưởng ty văn hóa thông tin tỉnh Quảng Trị của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam. Năm 1978, ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 1990 – 1992, ông là Tổng biên tập tạp chí Sông Hương và sau đó là tạp chí Cửa Việt. Rất nhiều những cây bút cấp tiến có tên tuổi từ Hà Nội, Sài Gòn, Paris… như Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Cầm, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Hoàng, Lữ Phương, Trần Độ, Lê Bá Đảng… đã gửi bài đăng tạp chí.
Năm 1998, trong chuyến công tác về văn hóa Huế ở Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, ông không may bị tai biến mạch máu não. Nhờ ý chí, nghị lực và sự giúp đỡ của bác sĩ, bạn bè, người thân, ông đã vượt qua bệnh tật và vẫn tiếp tục lao động trí óc không ngừng cho đến ngày hôm nay. * Các giải thưởng được trao tặng: - Giải văn học Bông sen trắng lần thứ nhất của Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên. - Giải thưởng văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam trao cho tập bút ký “Rất nhiều ánh lửa” – 1980.
- Giải thưởng văn học của ủy ban liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam trao cho tập bút ký “Ngọn núi ảo ảnh” – 2000. - Giải thưởng Văn hóa Huế nhân Festival Huế 2000 trao cho tập tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. - Giải thưởng văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam cho tập “Miền gái đẹp” – 2002. - Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, cùng đợt với vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.
* Tác phẩm: Bút ký: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (1972); Rất nhiều ánh lửa (1979, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980); Ai đã đặt tên cho dòng sông (1984); Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984); Hoa trái quanh tôi (1995); Huế, di tích và con người (1996); Ngọn núi ảo ảnh (2000); Trong mắt tôi (2001); Rượu hồng đào (truyện ký, 2001), Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (2004), Miền cỏ thơm (2007). Nhàn đàm: Nhàn Đàm (1997); Miền gái đẹp (2001) Thơ: Những dấu chân qua thành phố (1976); Người hái phù dung (1995) Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn tự nhận mình là “người ham chơi” vì theo ông, “ham chơi là văn hóa gốc của người Việt”. Chính quan niệm và lối sống thú vị đó đã đem đến cho đời sự nghiệp viết ký phong phú, tài hoa của ông. Hoàng Phủ Ngọc Tường bắt đầu sự nghiệp viết ký của mình trước năm 1975 nhưng phải nói tên tuổi của ông thực sự nổi bật trên văn đàn và chiếm một vị trí quan trọng là từ sau 1975.
Các nhà văn khẳng định được mình trong lĩnh vực này ở giai đoạn trước là Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc, Tô Hoài… đến giai đoạn này vẫn sáng tác đều đặn. Nhưng thực sự có thể nói rằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường mới chính là ngòi bút đại diện cho ký Việt Nam hiện đại trong giai đoạn mới. “Hoàng Phủ nổi tiếng trong văn đàn mấy chục năm nay là cây bút ký có hạng” [7]. Nhiều người so sánh ông với Nguyễn Tuân và xếp ông thứ hai sau Nguyễn Tuân.
Đấy là sự ưu ái và tưởng thưởng cho những gì mà ông không ngừng cống hiến cho cuộc đời.