mở đầu là Kanagawa (1854), đánh dấu sự sụp đổ của Mạc phủ và bắt đầu thời kì hiện đại hóa. Sau gần ba thế kỉ, quyền cai trị đất nước được trao lại cho Thiên hoàng. Năm 1868, cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Minh Trị Thiên hoàng đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ Mạc phủ. Từ đây, Nhật Bản mở cửa và giao lưu với bên ngoài sau thời kì bế quan tỏa cảng.
Đây cũng là con đường chung của các nước trong khu vực giai đoạn giữa thế kỉ XIX. Ví dụ như cuộc chiến tranh nha phiến năm 1842 chính thức báo hiệu cuộc xâm lăng của phương Tây vào Trung Hoa, năm 1858 chiến hạm Pháp và Tây Ban Nha tấn công vào bán đảo Sơn Trà của Việt Nam… Sau khi nắm quyền, Thiên hoàng tiến hành nhiều cải cách quan trọng như xóa bỏ chế độ đẳng cấp khắt khe, sự phân biệt giới tính, địa vị; Âu hóa đời sống xã hội về nhiều mặt… Cụ thể là bốn tầng lớp trong xã hội gồm võ sĩ, nông dân, thợ thủ công, thương nhân được xem như bình đẳng. Do tầng lớp 9 võ sĩ bất bình nên chính phủ dùng tiền để xoa dịu, dẫn đến việc hình thành giai cấp võ sĩ quí tộc tư sản. Chủ trương xây dựng đất nước theo con đường quân sự của họ là nguyên nhân khiến Nhật trở thành đế quốc phong kiến quân phiệt sau này.
Bên cạnh đó, việc tuyển chọn cán bộ cũng có thay đổi. Nguồn gốc không còn là ưu tiên hàng đầu mà năng lực cá nhân mới được xem trọng. Thời kì này, nhiều phái đoàn Nhật được cử sang phương Tây để học hỏi về hành chính và kĩ thuật. Giáo trình đại học qui định nội dung giảng dạy phải đề cập đến các thành tựu mới về khoa học kĩ thuật.
Quân đội được huấn luyện, tổ chức theo mô hình phương Tây như lục quân Đức, hải quân Anh… Ngoài ra, giảng viên nước ngoài được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt để ra sức cống hiến. Mức lương họ nhận cao gấp mười lần so với công chức Nhật đương thời. Những chính sách trên tạo nên cuộc cách mạng toàn diện trong xã hội Nhật. Sự tiến bộ vượt bậc của Nhật là một kì tích khiến thế giới kinh ngạc.
Đất nước Nhật Bản do đó tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa, rút ngắn thời gian công nghiệp hóa và chuyển sang giai đoạn đế quốc quân phiệt. Khi Thiên hoàng qua đời thì triều đại Minh Trị kết thúc. Nhật Bản bước vào thời kì lịch sử mới với hai triều đại Taisho (1912-1926) và Showa (1926- 1989). Thời kì Taisho, các trào lưu dân chủ phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động của giới trí thức.
Lượng sách báo xuất bản tăng vọt. “Vào giữa thập niên 1920, đã có ba tờ báo Nhật phát hành từ một triệu đến một triệu rưỡi số mỗi ngày” [36, tr. Đây là một tín hiệu cho thấy sự phát triển đời sống tinh thần của toàn xã hội. Giai đoạn đầu thế kỉ XX được đánh dấu bởi nhiều cuộc chiến tranh như Trung- Nhật (1894-1895), Nga- Nhật (1904-1905), chiến tranh thế giới II.
Đây là chặng đường phát triển không bình thường nhất của nước Nhật hiện đại. 10 Một cố vấn quân sự Nhật từng nhận định rằng Triều Tiên như một mũi dao chỉ thẳng vào trái tim nước Nhật. Sự hiện diện của bất kì cường quốc quân sự nào tại Triều Tiên là mối đe dọa phải loại bỏ. Do đó, Nhật Bản kiên quyết chấm dứt ảnh hưởng của Trung Quốc lên bán đảo này.
Khi chiến tranh Trung Nhật (1894-1895) nổ ra, nước Nhật thắng trận. Kết quả này càng khẳng định thành công của công cuộc Duy Tân. Chiến tranh Nga- Nhật (1904-1905) là cuộc đại chiến đầu tiên của thế kỉ XX. Xung đột xảy ra giữa hai nước nhằm giành quyền kiểm soát Mãn Châu và Triều Tiên.
Kết quả là Nhật Bản lại chiến thắng. Tham vọng bành trướng chủ nghĩa quân phiệt của Nhật do đó tiếp tục được nuôi dưỡng. Thắng lợi liên tiếp khiến Nhật Bản nảy sinh ý đồ chiếm Trung Quốc và các nước lân cận. Nguồn tài nguyên dồi dào ở các nước này luôn khiến đất nước ít được thiên nhiên ưu đãi như Nhật thèm khát.
Khi thế chiến thứ hai nổ ra, Nhật Bản nhanh chóng bị cuốn vào chiến tranh. Tuy nhiên, do không đủ thế và lực để đương đầu với lực lượng của Mỹ cũng như Đồng Minh, Nhật Bản thảm bại nặng nề. Hơn hai triệu người chết, buộc phải kí kết các hiệp ước bất bình đẳng, đất nước bị tàn phá… là bài học xương máu mà Nhật không thể quên. Bối cảnh lịch sử trên đây đã có tác động to lớn đến đời sống xã hội nói chung tình hình sáng tác văn học của Nhật Bản nói riêng.
Đời sống văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX Đối với các nước nằm trong khu vực văn hóa chữ Hán, mặc dù nhu cầu đổi mới văn học đã có từ giai đoạn hậu kì trung đại, nhưng nếu không bị phương Tây xâm lăng thì thời đại mới trong văn học chưa thể bắt đầu. Do đó việc đổi mới văn học của Nhật Bản nói riêng và các nước trong khu vực nói chung không phải là quá trình tiệm tiến, hình thành từ những yếu tố nội sinh mà là sự chuyển biến đứt gẫy sang mô hình văn học hiện đại. 11 Có thể nhận thấy rằng, đầu thế kỉ XX là giai đoạn hình thành nền văn học Nhật Bản hiện đại. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều thống nhất rằng nền văn học này bắt đầu từ sau cách mạng Minh Trị (1868), đúng hơn là khoảng hai thập kỉ sau đó- từ những năm 1888.
Khi ấy, những cải cách đã dần đi vào đời sống. Sự tiếp thu ảnh hưởng phương Tây cũng như tìm tòi giá trị truyền thống đã bắt đầu mang lại kết quả. Theo các nhà nghiên cứu, có nhiều cách phân chia các thời kì văn học Nhật Bản hiện đại. Cách thứ nhất cho rằng có ba giai đoạn gồm thời Duy Tân Minh Trị (1868-1912), Taisho (1912-1926) và Showa (1926-1989).
Cách thứ hai thì xem kỉ nguyên Showa có giai đoạn trước chiến tranh (1926-1941) và giai đoạn sau chiến tranh (1941-1989) [36, tr. Cách thứ ba cho rằng thời tiền cận kim, cận kim của văn học Nhật Bản lồng vào hai triều đại là Minh Trị (1868-1912), Taisho (1912-1926) [58, tr. Cách thứ tư xem văn học hiện đại Nhật Bản bắt đầu từ thời Minh Trị, còn văn học đương đại thì từ năm 1945 [47, tr.21]… Như vậy, sự phân chia các giai đoạn văn học Nhật Bản hiện đại có khác biệt vì dựa trên những tiêu chí khác nhau. Nếu xem xét những truyện ngắn của Akutagawa- được xem là một trong những nhà văn khởi đầu văn học Nhật Bản hiện đại- thì chúng ta sẽ khảo sát trong giai đoạn nào? Việc lựa chọn mốc thời gian này có ý nghĩa quan trọng để thấy được vị trí và những đóng góp của Akutagawa.
Ông liên tục sáng tác đến năm 35 tuổi và được đánh giá là nhân vật nổi bật nhất trong mười lăm năm của thời đại Taisho (1912-1926). Do đó, nếu xem xét truyện ngắn Akutagawa trong văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX, giai đoạn từ sau cải cách Minh Trị 1868 cho đến trước năm 1945 thì đối tượng khảo sát để so sánh là những truyện ngắn của các tác 12 giả trong cùng thời kì. Các nhà văn gồm Mori Ogai (1862-1922), Natsume Soseki (1867-1916), Arishima Takeo (1878-1923), Shiga Naoya (1883-1971), Tanizaki Junichiro (1886-1965), Yokomitsu Riichi (1898-1947), Kawabata Yasunnari (1899- 1972), Dazai Osamu (1909-1948). Xuất phát từ những đặc điểm nổi bật của thể loại truyện ngắn trong giai đoạn này, chúng ta sẽ có căn cứ để đánh giá được vị thế và tầm vóc của Akutagawa.
Luận văn chọn khoảng thời gian từ 1868-1945 vì đây là thời kì đầu của văn học Nhật Bản hiện đại, tính chất mở đường, thể nghiệm thể hiện rõ trong các sáng tác. Từ sau thảm bại chiến tranh thế giới lần hai, xã hội Nhật Bản đau thương và kiệt quệ. Theo đó, văn học đã có sự chuyển hướng, mang màu sắc và âm hưởng khác biệt giai đoạn trước. Có hai khuynh hướng chính hầu như đối lập là kế tiếp và đoạn tuyệt với quá khứ.
Kế tiếp để gìn giữ một truyền thống đã có từ nhiều thế kỉ, đoạn tuyệt để xóa sạch tàn tích của thời quân phiệt và xây dựng một nền văn học thích nghi với xã hội mới. Do đó, khoảng thời gian nói trên là tương đối để nhìn nhận đặc trưng thể loại truyện ngắn của Akutagawa. Khảo sát giai đoạn từ 1868-1945, chúng tôi nhận thấy những đặc điểm nổi trội của văn học Nhật Bản như sau: Dưới sức ép từ bên ngoài, Nhật Bản đã hiện đại hóa, phương Tây hóa về mọi phương diện. Đội ngũ nhà văn vừa am hiểu văn học truyền thống vừa là những trí thức Tây học thời đại “khai sáng”.
Họ tiếp cận các tác gia lớn, các luồng tư tưởng, sự cách tân kĩ thuật viết từ những tác phẩm văn học hiện đại của phương Tây như Đức, Anh, Pháp… Những tác phẩm đầu tiên được dịch ở Nhật Bản là Robinson Crusoe (Daniel Defoe), Tám mươi ngày vòng quanh thế giới (Jules Verne), Bá tước Monte Cristo (A.Dumas), Nhật kí người đi săn (Turgeniev), Tội ác và hình phạt (Dostoievski), Nỗi đau của chàng Werther 13 (Goethe)… Có thể thấy “Văn học dịch đã đem đến một mô hình mới, thị hiếu thưởng thức mới, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thể hiện tình cảm mới- tự do, phóng khoáng, ít bị câu thúc hơn” [20, tr. Qua công việc dịch thuật và sáng tác, các nhà văn trở thành những người “dịch văn hóa” ý thức sâu sắc về sứ mệnh thúc đẩy nền văn học Nhật đang tụt hậu nhanh chóng hội nhập với phương Tây. Họ là lực lượng nòng cốt góp phần hình thành nên các tư trào lớn trong văn học Nhật thời kì này. Bên cạnh đó, việc dịch các tác phẩm mới cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, hình thành văn hóa đọc nổi tiếng của Nhật Bản.
Như trường hợp quyển sách Bàn về Tự do (On Liberty) của John Stuart Mill. Sách được xuất bản ở Anh năm 1859, cùng năm với Thuyết tiến hoá của Charles Darwin. Bàn về Tự do là một quyển sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây và ngày nay vẫn còn tiếp tục được đọc. Khi dịch sang tiếng Nhật, sách bán được trên một triệu bản.
Đây là con số “khủng” nếu ta biết rằng thời kì này dân số Nhật Bản chỉ khoảng trên 30 triệu! Tất cả xuất phát từ ý thức dân tộc mạnh mẽ- không thể yêu nước trong sự vô minh. Người Nhật lên cơn sốt đọc với khao khát nhanh chóng nắm được bí quyết của phương Tây nhằm thực thi câu khẩu hiệu thời kì này: “Hãy làm giàu cho đất nước, hãy làm cho quân đội hùng mạnh” [52, tr.