Luận án tiến sĩ về ý thức tự do trong phong trào thơ mới

Nghiên cứu chuyên sâu Ý thức tự do trong phong trào thơ mới: Luận án tiến sĩ, phương pháp luận hiện đại, kết quả ứng dụng thực tế trong văn học

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2008

201
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Mục đích - ý nghĩa đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp của luận án

0.6. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: Ý THỨC TỰ DO NHƯ LÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH THƠ MỚI

1.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam và những tiền đề hình thành phong trào Thơ mới

1.1.1. Bối cảnh xã hội - văn hoá đầu thế kỷ XX

1.1.2. Tiền đề hình thành phong trào Thơ mới

1.1.3. Ý thức tự do trong sáng tạo nghệ thuật

1.1.4. Ý thức tự do và vai trò của chủ thể con người trong đời sống

1.1.5. Tự do sáng tạo trong đời sống văn học

1.1.6. Ý thức tự do và vấn đề phát huy cá tính sáng tạo

1.1.7. Ý thức tự do và sự ra đời của Thơ mới

1.1.8. Thơ mới Việt Nam trong dòng chảy thơ ca Đông Á đầu thế kỷ XX

1.1.9. Ảnh hưởng của tân văn, tân thư trong phong trào Thơ mới

1.1.10. Thơ mới trong quan hệ với khu vực Đông Á

2. CHƯƠNG 2: Ý THỨC TỰ DO VÀ SỰ ĐỔI MỚI NỘI DUNG CẢM XÚC TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI

2.1. Tự do yêu đương

2.1.1. Đề tài tình yêu trong Thơ mới

2.1.2. Ý thức tự do tạo nên những cung bậc đa dạng trong tình yêu

2.1.3. Trở về quá khứ với những vẻ đẹp xưa

2.1.4. Chán ghét thực tại, tự do sống trong thế giới hoài niệm quá khứ

2.1.5. Bộc lộ tình cảm yêu nước thầm kín

2.1.6. Khát vọng ra đi - Cuộc tìm kiếm tự do

2.1.7. Ra đi - một ứng xử nghệ thuật trong văn học

2.1.8. Ra đi - con đường thoát ly của các nhà Thơ mới

3. CHƯƠNG 3: Ý THỨC TỰ DO VÀ SỰ ĐỔI MỚI CÁC HÌNH THỨC THỂ HIỆN CỦA THƠ MỚI

3.1. Sự phá vỡ hình thức thể loại

3.1.1. Thể loại trong văn học trung đại

3.1.2. Thơ mới - sản phẩm của sự kế thừa và cách tân

3.1.3. Sự kế thừa, đổi mới các thể thơ cũ

3.1.4. Nỗ lực và tự do tìm kiếm các thể Thơ mới

3.1.5. Thơ văn xuôi - độ nhoè về thể loại

3.1.6. Ngôn ngữ thơ đầu thế kỷ XX

3.1.7. Ngôn ngữ Thơ mới

3.1.8. Từ ngôn ngữ điệu ngâm đến ngôn ngữ điệu nói

3.1.9. Giai đoạn đầu (1932-1935)

3.1.10. Giai đoạn cuối (1941-1945)

3.1.11. Đổi mới mô hình cú pháp

3.1.12. Khả năng kết hợp ngôn từ. Các kiểu câu của Thơ mới

3.1.13. Hiện tượng chia nhiều khổ thơ, vắt dòng, chấm câu giữa dòng

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ý thức tự do như là tiền đề hình thành thơ mới

Phong trào thơ mới Việt Nam (1932-1945) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho thi ca Việt Nam, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy sáng tạo. Ý thức tự do trong sáng tạo nghệ thuật đã trở thành một động lực quan trọng, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của phong trào này. Bối cảnh xã hội và văn hóa đầu thế kỷ XX đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của thơ mới. Các nhà thơ đã tìm kiếm tự do trong văn học, thể hiện qua việc phá vỡ các quy tắc cũ, từ đó hình thành nên một phong cách nghệ thuật mới. Ý thức tự do không chỉ là khát vọng cá nhân mà còn là sự phản ánh của một thời đại đang chuyển mình. Như Hoài Thanh đã nhận định: "Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng". Điều này cho thấy sự cần thiết của việc đổi mới trong thơ ca, từ đó khẳng định vai trò của tự do sáng tạo trong việc phát huy cá tính nghệ thuật.

1.1. Bối cảnh xã hội và văn hóa đầu thế kỷ XX

Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX là một giai đoạn đầy biến động, với sự giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Sự xuất hiện của tự do cá nhân trong tư tưởng đã tạo ra một không khí mới cho sáng tạo nghệ thuật. Các nhà thơ đã không ngừng tìm kiếm tự do sáng tạo, thể hiện qua những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân. Phong trào thơ mới đã phản ánh những khát vọng, nỗi đau và niềm vui của con người trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của những tác phẩm mang tính cách tân, thể hiện rõ nét ý thức tự do trong sáng tác. Như vậy, bối cảnh xã hội không chỉ là nền tảng mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của thơ mới.

II. Ý thức tự do và sự đổi mới nội dung cảm xúc trong phong trào thơ mới

Trong phong trào thơ mới, ý thức tự do đã tạo ra những đổi mới mạnh mẽ trong nội dung cảm xúc. Đề tài tình yêu, một trong những chủ đề chính, đã được thể hiện với nhiều sắc thái khác nhau. Các nhà thơ đã bộc lộ những cung bậc cảm xúc đa dạng, từ khát vọng yêu thương đến nỗi cô đơn, từ niềm vui đến nỗi buồn. Tự do yêu đương không chỉ là một khát vọng cá nhân mà còn là sự phản ánh của một thế hệ đang tìm kiếm tự do trong văn hóa. Những tác phẩm như của Xuân Diệu hay Hàn Mặc Tử đã thể hiện rõ nét tự do sáng tạo trong việc diễn đạt tình cảm. Như một nhà thơ đã nói: "Ra đi - một ứng xử nghệ thuật trong văn học", điều này cho thấy sự tìm kiếm tự do không chỉ là một hành động mà còn là một phần không thể thiếu trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.

2.1. Đề tài tình yêu trong thơ mới

Đề tài tình yêu trong thơ mới đã được khai thác một cách sâu sắc và phong phú. Ý thức tự do đã cho phép các nhà thơ thể hiện những cảm xúc chân thật nhất của mình. Tình yêu không còn bị ràng buộc bởi những quy tắc cũ, mà trở thành một không gian tự do để bộc lộ bản thân. Các nhà thơ đã không ngần ngại thể hiện những khát vọng, nỗi đau và niềm vui trong tình yêu. Điều này đã tạo ra một bức tranh đa dạng về tình yêu, từ những kỷ niệm đẹp đến những nỗi buồn sâu sắc. Như vậy, tự do trong văn học đã góp phần làm phong phú thêm nội dung cảm xúc trong thơ mới.

III. Ý thức tự do và sự đổi mới hình thức thể hiện của thơ mới

Ý thức tự do trong phong trào thơ mới không chỉ thể hiện qua nội dung mà còn qua hình thức. Sự phá vỡ các thể loại truyền thống đã tạo ra một không gian mới cho sáng tạo. Các nhà thơ đã mạnh dạn thử nghiệm với ngôn ngữ, hình thức và cấu trúc câu thơ. Thơ mới không còn bị ràng buộc bởi những quy tắc cũ, mà trở thành một không gian tự do để thể hiện bản thân. Như một nhà phê bình đã nhận định: "Thơ tự do cởi mở những ràng buộc còn lại để cất cánh bay cao". Điều này cho thấy sự cần thiết của việc đổi mới hình thức trong thơ mới, từ đó khẳng định vai trò của tự do sáng tạo trong việc phát huy cá tính nghệ thuật.

3.1. Sự phá vỡ hình thức thể loại

Sự phá vỡ hình thức thể loại trong thơ mới đã tạo ra một không gian sáng tạo phong phú. Các nhà thơ đã không ngần ngại thử nghiệm với những thể thơ mới, từ thơ tự do đến thơ văn xuôi. Ý thức tự do đã cho phép họ tự do lựa chọn hình thức thể hiện phù hợp với nội dung cảm xúc. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của những tác phẩm mang tính cách tân, thể hiện rõ nét tự do sáng tạo trong việc diễn đạt cảm xúc. Như vậy, sự đổi mới hình thức không chỉ là một xu hướng mà còn là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của thơ mới.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Ý thức tự do như là tiền đề hình thành Thơ mới (45 trang) Chương 2: Ý thức tự do và sự đổi mới nội dung cảm xúc trong phong trào Thơ mới (58 trang) Chương 3: Ý thức tự do và sự đổi mới các hình thức thể hiện của Thơ mới (63 trang) 14 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 Ý THỨC TỰ DO NHƢ LÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH THƠ MỚI 1. Bối cảnh xã hội Việt Nam và những tiền đề hình thành phong trào Thơ mới 1. Bối cảnh xã hội - văn hoá đầu thế kỷ XX Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đã thoả hiệp dần với thực dân Pháp, kí Hiệp ước 1862, điều ước, Hoà ước 1874, hàng ước 1883-1884 dần dần và chính thức công nhận nền đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam.

Năm 1896, Phan Đình Phùng mất, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của văn thân sĩ phu thất bại. Những biến cố chính trị nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tạo ra những biến đổi sâu sắc. Từ xã hội mang hình thái phong kiến, Việt Nam đã trở thành xã hội thực dân nửa phong kiến. Từ một dân tộc tồn tại trong khu vực Đông Á, nước ta bắt đầu quá trình tiếp xúc với phương Tây và gia nhập vào thế giới hiện đại.

Sau khoảng bốn mươi năm xâm lược và bình định nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện hai cuộc khai thác thuộc địa lớn (1897-1913) và (1918-1929) nhằm phục vụ cho những lợi ích của chúng. Thực dân Pháp đã tiến hành khai thác xứ Đông Dương giàu có để chiếm lĩnh thị trường, bóc lột, vơ vét về mặt tài nguyên. Những biến đổi lớn về chính trị đã làm cho kinh tế hàng hoá phát triển. Từ một nền kinh tế có tính chất tự nhiên với một nền nông nghiệp tự cấp tự túc, phương thức sản xuất Châu Á, đến lúc này đã chuyển sang khuynh hướng tư bản chủ nghĩa: kinh tế hàng hoá nhưng không được công nghiệp hoá mà lại biến thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp.

Lợi nhuận vào túi tư bản Pháp còn nhân dân ta rơi vào bần cùng 15 z hoá, dẫn đến phá sản. Kinh tế hàng hoá chính là tiền đề của quyền tư hữu, đồng thời tạo ra nhu cầu giao lưu trao đổi. Môi trường này sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời con người cá nhân. Đầu tiên phải kể đến việc mở mang giao thông buôn bán, phát triển kinh tế hàng hoá.

Chính những trung tâm kinh tế này có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội. Nền kinh tế phát triển làm mọc lên nhiều thành thị, làm xuất hiện nhiều nghề mới, nhiều nhu cầu mới. Các mối quan hệ xã hội được quy định theo thứ bậc chặt chẽ và bị ràng buộc bằng cả một đạo lý đến bây giờ cũng khác trước. Những lễ giáo, tục lệ tưởng chừng như rất vững chắc, được tồn tại từ bao đời nay bỗng nhiên phải lùi bước trước những cái đẹp, cái hào nhoáng và tiện lợi.

Tất cả đều có sức hấp dẫn mọi người, mặc dù theo cách nói của Hoài Thanh - Hoài Chân: “lúc đầu, ai nấy đều ngơ ngác, không hiểu ra làm sao. Nhưng rồi chúng ta quen dần” [162; tr. Xã hội Việt Nam buổi giao thời, nói như nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu, đã tạo nên một tình thế đối lập mãnh liệt giữa cũ và mới, giữa Á và Âu, giữa bảo thủ và cấp tiến, cởi mở. “Trong cuộc đổi thay như vậy - một cuộc đổi thay mà bất cứ một cuộc bể dâu nào trước đây cũng không thể so sánh - xuất hiện nhiều con người khác trước, nhiều quan hệ khác trước, nhiều chuyện khác trước.

Cuộc sống tràn ra ngoài khuôn khổ luân thường và nhân tình thế thái, trở thành một cuộc sống cụ thể, đa dạng và sôi động. Sự êm ấm của lòng từ hiếu, cung thuận trong gia đình không giữ được người con dưới gối cha mẹ; tình làng xóm quê hương với cái rộn ràng của hội hè, đình đám không giữ chân được chàng trai sau lũy tre xanh. Quan hệ con người trở nên lạnh lùng tiền trao cháo múc. Con người phải tỉnh táo, vật lộn để giành quyền sống.

Con người phải tự ý thức, phải sống và suy nghĩ, mơ ước cho riêng mình trong một xã hội phức tạp, rộng lớn như thế. Sự đổi thay ấy đã tạo ra những con người hoàn toàn khác trước. Trong cuộc sống đua chen này, người dân thành thị muốn được sống thực với mình. Cuộc sống hàng ngày đã thay đổi đến tận những hang cùng ngõ hẻm.

Phương Tây đã đến với chúng ta, đó là một sự thực. Chúng ta dùng đồng hồ, ô-tô, 16 z xe lửa, xe đạp. đến cả diêm Tây, vải Tây, kim Tây. Những đồ dùng kiểu mới ấy là mầm mống, dẫn đường cho những tư tưởng mới.

Những lớp người trẻ lúc này bắt đầu viết quốc ngữ, câu văn của họ có sự ảnh hưởng của văn Tây. Họ đua nhau cho con em đến trường Pháp - Việt, gửi con em sang tận bên Pháp du học. Sự thay đổi ấy ảnh hưởng đến những tập quán sinh hoạt hằng ngày, chuyển biến tư tưỏng, tất yếu nó sẽ thay đổi cả nhịp rung cảm của ta nữa. “Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta.

Ta không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu ghét, giận hờn nhất nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có từng ấy mối tình như con người muôn nơi và muôn thuở, nhưng sống trên đất nước Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi, những mối tình của ta không khỏi có màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại. Thật vậy, sự ảnh hưởng của phương Tây khiến cho đời sống xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, tạo nên những lớp người mới với cách sống mới, suy nghĩ mới, tình cảm mới. Tầng lớp tiểu tư sản hình thành từ sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đến năm 20 đông đảo chưa từng thấy.

Nhịp độ và tốc độ cuộc sống gấp và nhanh chưa từng có. Một lối sống tư sản hoá lan tràn khắp nơi phố phường chật hẹp. Các tầng lớp và giai cấp xã hội ở thành thị: tư sản và công nhân, tiểu thương, công chức, dân nghèo thành thị, tầng lớp trí thức Tây học. đều thể hiện những thị hiếu, những khao khát cái lạ, cái đổi thay; với tâm lý, tính cách, nhu cầu, quan điểm sống, thị hiếu thẩm mỹ riêng.

Bên cạnh những truyện Nôm mà công chúng ưa thích như: Bạch Viên - Tôn Các, Phan Trần, Truyện Kiều. thì những tiểu thuyết của phương Tây: Những người khốn khổ, Anna Karênina. cũng được quan tâm. Chính lối sống thành thị tư sản hoá và một lớp công chúng thành thị đã hình thành là nhân tố làm nảy sinh nền văn học mới.

Sự đổi thay trong xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi thay trong văn học. Văn học mới của trí thức tân học ra đời, quan tâm đến những vấn đề của xã hội, khiến văn học Việt Nam thoát khỏi khuôn khổ chật hẹp của phương Đông, bước vào quỹ đạo chung của văn học thế giới. Văn học mới ra đời phản ánh cuộc sống thành thị tư sản, phản ánh những đòi hỏi của xã hội. Nền văn hoá 17 z phương Tây đặc biệt là văn hoá Pháp đã xâm nhập vào Việt Nam ngày càng mạnh mẽ.

Nền văn hoá đó đã nhanh chóng làm rạn vỡ những nền tảng văn hoá cổ truyền phương Đông. Ở thành thị, xuất hiện ngày càng nhiều những con người mới với lối sống và nhu cầu văn học hoàn toàn khác trước. Họ cần giải trí, cần đọc báo, xem tiểu thuyết, đi xem hát. Văn nghệ thôn dã không thoả mãn được thị hiếu thị dân của họ.

Lớp công chúng mới ra đời đòi hỏi một nền văn học mới. Chính vì xuất phát từ nhu cầu đó, bên cạnh những nhà nho là lực lượng sáng tác chủ yếu thì đến giai đoạn này xuất hiện lực lượng sáng tác mới. Đó là những người làm báo, những công chức tiểu tư sản, những nhà giáo, những người Tây học viết sách báo, dịch sách bằng chữ quốc ngữ. Nếu như ở vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX, công tác dịch thuật, đặc biệt là dịch các tác phẩm phương Tây mới chỉ được thực hiện một cách lẻ tẻ thì ở giai đoạn này, cùng với sự ra đời của báo chí, phong trào dịch thuật ở nước ta đã diễn ra một cách sôi nổi.

Qua Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, tủ sách Âu Tây tư tưởng, qua đội ngũ trí thức Tây học đông đảo và có trình độ, nhiều tác phẩm văn nghệ của La Fontaine, Molière, Balzac, Hugo, Lamartine, Baudelaire, Verlaine, Mallarmé, Gide. đã được giới thiệu, truyền bá vào Việt Nam. Qua văn học Pháp, họ còn biết đến các tác gia văn học nước khác như: Tolstoi, Dostoievski, Tsekhov, Gorki ở Nga; Shakespeare ở Anh. Và bằng con đường dịch thuật, phỏng tác, một số người viết báo chuyển sang viết truyện ngắn, viết kịch, đáp ứng đòi hỏi của công chúng thành thị.

Hai lực lượng sáng tác đó khác nhau về quan niệm văn học, về mục đích sáng tác, về phương pháp sáng tác và về tiêu chuẩn thẩm mỹ. Tuy vậy, hai xu hướng văn học cũ, mới ấy có sự cộng hưởng tạo thành một nền văn học chung cho cả dân tộc. Văn mới và văn cũ đều được đăng lên báo chí, công bố cho mọi người và nhằm mục đích phục vụ thị hiếu của công chúng. Sự thay đổi của đời sống văn hoá - xã hội dẫn đến sự xuất hiện của bản thân văn học như một nhu cầu tất yếu.

Thời đại mới đã sinh ra lực lượng sáng tác, đội ngũ công chúng mới, quan niệm văn chương mới. Văn học mới ra đời lúc này đang còn non yếu, chưa đủ can đảm để đảm nhận vấn đề cốt tử của đời 18 z sống nhân dân và sự tồn vong dân tộc. Tuy nhiên, đóng góp của nó cũng đáng ghi nhận, Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng khẳng định sự “hình thành một đội ngũ nhà văn, du nhập các thể loại của văn học phương Tây, đem chúng thay thế các thể loại có tính chức năng của văn học cũ, đem một quan niệm văn học mới - phản ánh hiện thực đời sống xã hội - thay thế cho quan niệm văn học cũ lấy “tâm”, “chí”, “đạo” làm cơ sở” [36; tr. Văn học lúc này trở thành một nghề “văn chương bán phố phường”.

Văn học thành thị thay thế văn học thôn dã, phù hợp với nhu cầu công chúng mới. “Thành thị nuôi sống văn học mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về ý thức tự do trong phong trào thơ mới" của tác giả Đặng Thị Ngọc Phượng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Đức Mậu, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2008. Bài viết khám phá khái niệm ý thức tự do trong phong trào thơ mới, một giai đoạn quan trọng trong văn học Việt Nam, nhấn mạnh sự phát triển tư tưởng và cảm xúc của các nhà thơ trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Qua đó, bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn học mà còn mở ra những hiểu biết về sự tự do cá nhân và sáng tạo nghệ thuật trong văn hóa Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh pháp lý liên quan đến văn học và xã hội, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến các vấn đề pháp lý trong bối cảnh xã hội hiện đại, hay Khám Phá Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Trong Luận Văn Thạc Sĩ Luật, giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị pháp lý trong văn bản và tác động của nó đến xã hội. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn về mối liên hệ giữa văn học, pháp luật và ý thức xã hội.