CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm ngôn ngữ học 1. Từ và đoản ngữ 1. Từ và đặc điểm của từ a.
Khái niệm từ Từ là đơn vị tồn tại, hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ. Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ. Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ. Cho đến nay, trong Ngôn ngữ học nói chung, Từ vựng học nói riêng vẫn chưa có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ.
Hiện nay, có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng cách định nghĩa của giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức… Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [13, tr. Đặc điểm của từ tiếng Việt Tác giả Đỗ Hữu Châu từng khẳng định: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. Như vậy, có thể thấy, từ tiếng Việt được xét trên những đặc điểm nghiêm ngặt về ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Đặc điểm về ngữ nghĩa của từ tiếng Việt sẽ được chúng tôi đề cập chi tiết hơn trong phần 1. Ở đây, chúng tôi xin được giới thiệu đôi nét về đặc điểm ngữ pháp của từ Tiếng Việt. Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt được xem xét chủ yếu trên hai phương diện: đặc điểm về cấu tạo và đặc điểm về từ loại. Cụ thể như sau: * Đặc điểm về cấu tạo: Về nguyên tắc, cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ, phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt mà xã hội đặt ra, việc sản sinh ra từ cũng trước hết là sản sinh ra các nghĩa mới.
Trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất, tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà 10 cũng có nghĩa được dùng để cấu tạo ra các từ theo phương thức cấu tạo từ tiếng Việt. Theo đó, về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được chia thành: từ đơn, từ láy và từ ghép. Luận văn sẽ tóm tắt những đặc điểm chính của mỗi loại từ này như sau: 1) Từ đơn Theo Đỗ Hữu Châu, “từ đơn là những từ một hình vị. Đại bộ phận các từ đơn thuần Việt hay đã Việt hóa đều là những từ đơn một âm tiết.
Tuy số lượng các từ đơn này là không nhiều nhưng chúng có tác dụng quan trọng trong việc cấu tạo hàng loạt từ phức.35] Ví dụ: Súng là một từ đơn được Bảo Ninh sử dụng với tần số cao (69 lần) trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Và chính từ đơn này đã được dùng để cấu tạo nên một loạt từ phức như: súng lục, súng ngắn, súng máy cao xạ, súng trường. Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, có một số từ có nhiều âm tiết nhưng vẫn được coi là những từ đơn. Đó là những từ vay mượn từ những ngôn ngữ khác.
Ví dụ: Pô cô là tên một địa danh vay mượn từ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên. Đây được coi là một từ đơn, là một thành phần cấu tạo nên từ ghép sông Pô cô trong tác phẩm. 2) Từ láy Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. Tuy nhiên, từ láy đôi là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt.
Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức láy lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu ngữ nguyên hoặc biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao; thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp; thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [14, tr. Định nghĩa trên đã khái quát các đặc điểm từ láy, gồm: - Từ tố láy có hình thức là một âm tiết giống toàn bộ hay giống một phần hình thức ngữ âm của từ tố cơ sở. - Từ tố láy có nghĩa giống toàn bộ hay bộ phận với nghĩa của từ tố cơ sở. - Về thanh điệu, nếu là từ láy đôi thì có 2 âm tiết có thanh điệu đi với nhau theo qui tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm là nhóm thanh cao và nhóm thanh thấp.
11 - Từ láy đôi có các dạng cấu tạo: láy hoàn toàn (từ tố láy lặp lại toàn bộ vỏ âm thanh của từ tố cơ sở) và láy bộ phận (những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở phần vần) Ví dụ, các trường hợp láy bộ phận như: lõa lồ, lầm lì, phô phang (Kiên bậm môi để khỏi buột miệng gọi, lầm lì theo dõi sự lõa lồ phô phang bất chấp đời của Phương) [1, tr.305], trong trắng (Hai đứa mình có khi chết đi vẫn còn trong trắng) [1, tr. Bên cạnh đó, còn có lớp từ láy (điệp) phần vần, đối ở âm đầu. Ví dụ như: mường tượng (Thì ra, anh, Kiên cũng có một thời trẻ trung cái thời mà giờ đây khó lòng mường tượng lại được nữa,…) [1, tr. - Từ láy ba và bốn tiếng, được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, chúng tôi nhận thấy Bảo Ninh dùng một số từ láy ba là rát ràn rạt (Đạn cày bên trái, bên phải, bấm sát gót, lia rát ràn rạt) [1, tr.244], đỏ đòng đọc (Dòng đạn đỏ đòng đọc trùm lên nóc các toa xe. 3)Từ ghép Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu “Khác với các từ láy trong đó một hình vị (hình vị láy) được sản sinh từ hình vị kia (hình vị cơ sở), từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo), tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau. Hay nói cách khác, từ ghép được tạo thành phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau. Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép tiếng Việt thành từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.156] Như vậy, hiểu một cách đơn giản, từ ghép là những từ có cấu tạo từ hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có quan hệ với nhau về mặt nghĩa.
Căn cứ vào quan hệ mặt nghĩa giữa các tiếng trong từ ghép, người ta chia làm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Cụ thể: Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép giữa hai từ tố có quan hệ chính phụ. Nếu kí hiệu từ tố chính là X từ tố phụ là Y thì từ tố phụ là Y có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố chính X. Đây là kiểu từ ghép có quan hệ bất bình đẳng với nhau; một từ tố có vai trò chính và một đóng vai trò từ tố phụ; thành tố chính giữ vai trò trung tâm biểu đạt ý nghĩa.thành tố phụ biểu thị ý nghĩa hạn định khu biệt sự vật hoạt động trạng thái quá trình được thể hiện ở thành tố chính.
12 Ví dụ: tử khí, tử thần, tử thi (Chúng gây độc còn có thể hơn cả loài cá rái chuyên ăn mã tiền, người ta còn bảo hồng ma thường đặc biệt mọc dày ở những vạt đất từng có nhiều người thiệt mạng, tử khí tụ lại nhiều. Từ ghép đẳng lập: Là những từ ghép trong đó các từ tố được ghép bình đẳng với nhau, không từ tố nào chính, không từ tố nào phụ. Cả hai từ tố ghép lại với nhau để cho nghĩa mới của toàn bộ từ ghép. Ví dụ: giường chiếu, gối chăn, gương lược (Trong nhà, căn nhà nhỏ ba gian xinh xắn, mái lồ ô, thơm ngát hương huê rừng, đồ đạc vẫn nguyên vẹn, ngăn nắp.
Bộ bàn ghế mây. Một cuốn sách đọc dở. Giường chiếu.41] * Đặc điểm về từ loại: Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thể hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu. Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định.
Bất kì một ngôn ngữ nào có từ thì ngôn ngữ ấy nhất định sẽ có từ loại. Theo Diệp Quang Ban, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồm những từ loại sau đây: Nhóm 1- thực từ: danh từ, động từ, tính từ; số từ; đại từ. Nhóm 2 – hư từ: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan tâm chủ yếu tới một số từ loại thuộc nhóm thực từ, gồm: Danh từ: là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể.
Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ; có khả năng kết hợp với các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ,.; có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ. Chức năng cú pháp chính của nó là làm chủ ngữ trong câu. Trong đó có: danh từ riêng (chỉ tên riêng của từng người, từng sự vật cụ thể) và danh từ chung (chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể được gọi tên). Động từ: biểu thị ý nghĩa hoạt động, quá trình, trạng thái của đối tượng.
Động từ làm trung tâm trong cụm động từ. Các từ chứng tiêu biểu của động từ là: hãy, đừng, chớ, đã, đang, sẽ, đều, vẫn, cũng, xong, rồi, nữa,. Chức năng cú pháp chính là làm vị ngữ trong câu. Dựa vào bản chất nghĩa - ngữ pháp của động từ, có thể chia động từ thành hai loại lớn: những động từ độc lập và những động từ không độc lập.