Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Chương này trình bày một số lí thuyết ngôn ngữ được dùng làm căn cứ lí luận cho đề tài, cụ thể đó là lí thuyết về câu tiếng Việt và lí thuyết về ngữ dụng học. Khái quát tình hình nghiên cứu câu hỏi tiếng Việt Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về câu và câu hỏi tiếng Việt. Các tác giả tiêu biểu đã công bố những công trình dày dặn về vấn đề này và đến nay chúng vẫn là những tài liệu tham khảo hữu ích cho ngành ngôn ngữ học. Trước hết phải kể đến một loạt những công trình của các tác giả có tên tuổi, như: Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Lê Đông, Cao Xuân Hạo, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thị Thìn, Nguyễn Thị Lương, Hoàng Trọng Phiến, v.
Tuy đứng từ những góc nhìn khác nhau để nghiên cứu câu hỏi tiếng Việt nhưng mỗi công trình đều đã đưa ra được những quan điểm riêng của mình và đem lại những đóng góp nhất định. Dưới đây chúng tôi xin điểm qua một số công trình tiêu biểu (liệt kê theo thứ tự năm xuất bản): (1) Cao Xuân Hạo (2007), Ngữ pháp chức năng - Câu trong tiếng Việt, Quyển 1, Nxb Giáo dục, HN. Tác giả Cao Xuân Hạo đã dùng thuật ngữ câu nghi vấn thay cho cách gọi câu hỏi mà các nhà ngôn ngữ học trước đây thường dùng. Khác với nhiều nhà Việt ngữ học, ngay từ đầu, Cao Xuân Hạo đã đứng từ góc nhìn của lí thuyết hành vi ngôn ngữ để đưa ra định nghĩa về câu nghi vấn.
Tác giả quan niệm: Câu nghi vấn là kiểu câu có đích ở lời là yêu cầu người nghe phải đưa ra một câu trả lời để thông báo về một sự tình hay một phần sự tình mà người nói cần biết [16; trang 124]. Hai nhóm lớn đầu tiên của câu hỏi tiếng Việt đã được Cao Xuân Hạo xác lập và đặt tên một cách cụ thể, đó là: (1) Câu nghi vấn chính danh (còn được gọi là câu nghi vấn trực tiếp) và (2) Câu nghi vấn không chính danh 6 (còn gọi là câu nghi vấn gián tiếp). Câu nghi vấn nhóm 1 chỉ có một đích ở lời hỏi, còn câu nghi vấn nhóm 2 rất đa dạng về đích ở lời. Chúng có thể là hỏi để khẳng định, hỏi để bộc lộ thái độ yêu, ghét, dọa nạt, nghi ngờ, khen, hỏi để nhờ, yêu cầu, đề nghị, chất vấn, v.v… (2) Đinh Trọng Lạc với công trình nghiên cứu có tên gọi "99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt", được Nxb Giáo dục, HN phát hành năm 1989.
Nội dung của cuốn sách cũng đã nói khá kĩ về kiểu câu hỏi. Vốn là một chuyên gia đầu ngành về tu từ học, Đinh Trọng Lạc đã nghiêng về lí thuyết tu từ học để có cái nhìn về câu hỏi. Nói cách khác, dưới ánh sáng của tu từ học, tác giả Đinh Trọng Lạc trình bày quan niệm của mình về câu hỏi như sau: Thứ nhất, tác giả Đinh Trọng Lạc khẳng định ngay rằng, câu hỏi là kiểu câu tuy có hình thức là câu hỏi song về thực chất chúng lại là câu khẳng định hoặc phủ định. Mặc dù không nói tường minh nhưng rõ ràng quan niệm này hàm ý cho người đọc thấy được đích ở lời của câu hỏi không phù hợp với điều kiện sử dụng của câu.
Quan điểm của Đinh Trọng Lạc đã được nhiều nhà nghiên cứu câu hỏi tiếng Việt thừa nhận. Các nhà Ngữ dụng học đã xếp những loại câu (trong đó có câu hỏi) giữa đích ở lời và hình thức thể hiện không phù hợp nhau này vào kiểu câu nói gián tiếp. Thứ hai, tác giả Đinh Trọng Lạc một lần nữa nhấn mạnh: ". câu hỏi tu từ chẳng những có tác dụng tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn mà còn làm cho hình tượng văn học đẹp lên gấp bội” [27, tr.
Dễ dàng nhận thấy câu hỏi mà tác giả Đinh Trọng lạc bàn là kiểu câu hỏi tu từ. Tóm lại, Đinh Trọng Lạc tuy đã đưa kiểu câu hỏi vào đối tượng nghiên cứu nhưng ông mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu câu hỏi trong hành chức và giới hạn phạm vi rất hẹp là kiểu câu hỏi tu từ. (3) Nguyễn Kim Thản là một trong những nhà Việt Ngữ học quan tâm đến câu rất sớm. Cuốn Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt của ông được công bố năm 2008 do Nxb Khoa học xã hội phát hành đã cho người đọc thấy được tư tưởng 7 cơ bản của nhà ngôn ngữ học này về kiểu câu hỏi đang bàn.
Cũng như tác giả Đinh Trọng Lạc, tác giả Nguyễn Kim Thản khẳng định rằng câu hỏi không phải lúc nào cũng được dùng với chức năng để hỏi. Nhiều trường hợp chúng còn được dùng với nhiểu mục đích khác nhau. Tác giả đã liệt kê ra ba kiểu câu hỏi dạng này, đó là: (1) Dùng câu hỏi - khẳng định để phủ định, (2) Dùng câu hỏi - phủ định để khẳng định, (3) Dùng câu hỏi để bày tỏ cảm xúc. Mỗi kiểu câu vừa nói lại được tác giả khái quát bằng những mô hình đặc trưng kèm theo ví dụ để làm minh chứng (X.
48, từ trang 46 đến 74). Dưới đây là một số ví dụ tương tự với ví dụ mà Nguyễn Kim Thản đã đưa ra: Ví dụ: - Tớ đâu có làm việc đó? (Tớ không làm việc đó). - Tôi thích gì đi bơi. - Sao tôi làm được việc đó? (Tôi không làm được việc đó).
Mô hình cấu trúc của kiểu câu hỏi gián tiếp hỏi - khẳng định để phủ định này là: Đâu. đó, CN+ Thích gì + VN + đó? Sao + P(mệnh đề) + đó? Riêng với kiểu câu hỏi - phủ định để khẳng định, tác giả cho rằng kiểu câu này có mô hình cấu trúc cơ bản là: Không bào giờ P. Đặc biệt nó thường được dùng để bác bỏ lời khẳng định hay qui kết của người tham gia đối thoại. Chẳng hạn như ví dụ dưới đây: Ví dụ: A - Tớ không bao giờ hút thuốc.
B - Không bao giờ cậu hút thuốc? (Hôm qua tớ thấy cậu hút đấy thôi. Tức cậu có hút thuốc). Ngoài những kiểu câu hỏi gián tiếp nói trên, còn kiểu câu hỏi dùng để bày tỏ cảm xúc của người nói cũng được tác giả này bàn đến và chỉ rõ những mô hình cấu trúc đặc trưng, như: sao mà.thế, sao mà.vậy, hoặc sau câu kể có thêm một trong những từ: sao, biết bao, biết mấy, làm sao. Ví dụ: - Sao mà tôi đau bụng thế không biết? / Tôi sao mà đau bụng vậy? - Hai đứa nó bỏ nhau thật sao? - Giá bạn đừng nghe nó thì có hay biết mấy / biết bao (không)? 8 (4) Diệp Quang Ban năm 2009 cũng đã cho ra đời cuốn Ngữ pháp tiếng Việt.
Cuốn sách này do Nxb Giáo dục, Hà Nội chịu trách nhiệm xuất bản. Cũng như tác giả Đinh Trọng Lạc, câu hỏi được tác giả Diệp Quang Ban gọi là câu nghi vấn và đã đưa ra quan niệm về kiểu câu này. Tác giả khẳng định: Trước tiên, cần phải thấy chức năng vốn có của câu nghi vấn là dùng để hỏi. Có nghĩa là người nói (Sp1) muốn người đối thoại với mình (Sp2) phải cung cấp cho Sp1 những nội dung thông tin mà Sp1 chưa biết.
Thứ hai, Diệp Quang Ban chỉ rõ, ngoài những đặc trưng chung như các kiểu câu khác, câu hỏi còn có những đặc trưng riêng về hình thức, thể hiện bằng những dấu hiệu đặc thù, như: "- Dấu chấm hỏi ở cuối câu. - Các đại từ dùng để hỏi. - Quan hệ từ hay (chỉ sự lựa chọn); - Các phó từ dùng vào chức năng hỏi; - Các ngữ thái từ (một số trong tình thái từ); - Ngữ điệu hỏi…”.118] Cách hiểu về câu hỏi của Diệp Quang Ban có phần đồng nhất với quan điểm của các nhà Việt ngữ học vừa giới thiệu ở trên. Song, so với các tác giả khác, Diệp Quang Ban đã bàn kĩ hơn về mặt hình thức của câu hỏi.
Đặc biệt, đôi chỗ tác giả có nói đến những trường hợp câu hỏi không được dùng với đích để hỏi nhưng vẫn còn sơ lược. Có thể thấy Diệp Quang Ban cũng như vài tác giả khác đã sớm nhìn thấy khả năng biểu đạt nhiều hành vi ngôn ngữ của loại câu hỏi và chia chúng thành hai nhóm: Câu hỏi dùng với đích ở lời hỏi và câu hỏi không dùng với đích để hỏi. (5) Tác giả Đỗ Hữu Châu (2001) với công trình Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, Ngữ dụng học, ( Nxb Giáo dục chịu trách nhiệm xuất bản) cũng đã bàn khá kĩ về kiểu câu hỏi trong tiếng Việt. 9 Tác giả Đỗ hữu Châu không chính thức định nghĩa câu hỏi là gì mà ông chỉ nêu những đích ở lời thường thấy của câu hỏi một cách sơ lược khi nghiên cứu hành vi ngôn ngữ.
Tác giả dẫn ra một số kiểu câu hỏi gián tiếp, tức kiểu câu hỏi không dùng để hỏi, như: 1. Câu hỏi có đích lời gián tiếp cầu khiến. Ví dụ: - Mày có dọn dẹp sách vở cho gọn lại không? / Dọn dẹp ngay sách vở cho gọn. - Anh có hút thuốc lá không? / Cho tôi một điếu.
Câu hỏi có đích ở lời gián tiếp khẳng định. Ví dụ: - Mày không làm vỡ cái cốc thì ai làm? / Chính mày làm vỡ cái cốc” [3, tr 148] Tóm lại, cũng như tác giả Diệp Quang Ban, tác giả Đỗ Hữu Châu đã chỉ rõ rằng, câu hỏi không chỉ được dùng với mục đích để hỏi (tức câu hỏi chính danh) mà còn được dùng với hiệu lực ở lời gián tiếp (câu hỏi không chính danh). (6) Nguyễn Thị Lương với công trình Câu tiếng Việt xuất bản năm 2006 do Nxb Đại học Sư phạm chịu trách nhiệm phát hành. Khác với các tác giả nói trên, khi tìm hiểu về câu hỏi, ngay từ đầu công trình tác giả Nguyễn Thị Lương đã đặt nhiệm vụ nghiên cứu kiểu câu này với tư cách là hành động ngôn ngữ gián tiếp là chủ yếu.
Trong công trình nghiên cứu vừa dẫn, tác giả đã chỉ ra rằng: Cấu trúc đặc thù và ngữ cảnh là hai căn cứ để phân loại câu hỏi thành các tiểu loại. Cả hai tiêu chí này không nên xem nặng căn cứ nào. Mỗi căn cứ cho ta nhận diện một số kiểu câu hỏi với đích ở lời khác nhau. Và đôi khi phải phối hợp cả hai tiêu chí này.
Chẳng hạn, bàn về việc xác định hành động nói gián tiếp nhận diện qua ngữ cảnh và dấu hiệu đặc thù, Nguyễn Thị Lương đã đưa ra 8 kiểu câu hỏi được dùng theo lối gián tiếp, xin liệt kê 8 kiểu câu hỏi gián tiếp này: (1) Câu hỏi được dùng với đích ở lời ra lệnh. (2) Câu hỏi được dùng với đích ở lời đề nghị.