CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT Trong chương này, luận văn sẽ trình bày những vấn đề lí thuyết liên quan như: khái niệm câu, các quan niệm về câu và việc phân tích cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt, lí thuyết ba bình diện về câu trong ngôn ngữ học hiện đại và áp dụng vào phân tích câu tiếng Việt. Các quan niệm về câu và phân tích cấu trúc câu tiếng Việt 1. Quan niệm về câu tiếng Việt Công trình Từ điển An Nam - Lusitan - Latinh (1651) ra đời đánh dấu quá trình nghiên cứu câu tiếng Việt. Nhưng những nghiên cứu về câu tiếng Việt giai đoạn sau đó đều là đề cập đến một cách sơ sài, rời rạc, tự phát trong các chuyên khảo, chưa có công trình nào chuyên sâu.
Từ sau năm 1930 việc nghiên cứu câu mới được tiếp tục trở lại. Trong giai đoạn này, những định nghĩa về câu tiếng Việt còn rất chưa chặt chẽ, thường chú ý nhiều hơn đến tính hình thức của câu như: Trần Trọng Kim (1936) định nghĩa: “Câu lập thành do một mệnh đề có nghĩa lọn hẳn hoặc do hai hay nhiều mệnh đề.” Theo ông, tiêu chí xác định câu là bởi ý nghĩa riêng biệt, nghĩa thông tin. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1956), tác giả Nguyễn Lân hiểu về câu như sau: “Nhiều từ hợp lại mà biểu thị được một ý hoàn chỉnh và dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật thì được gọi là một câu.” Nhìn chung, những định nghĩa trên còn khá “giản đơn”, chưa thể xác lập được những khung lí thuyết chính xác về câu. Các tác giả cũng chưa có phương pháp để phân biệt câu với các đơn vị ngôn ngữ khác như cụm từ, mệnh đề.
Từ những năm 1960 trở về sau, trào lưu nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cùng với đó là việc nghiên cứu câu tiếng Việt được nhiều nhà khoa học hưởng ứng và những công trình nghiên cứu cũng bước đầu đạt được một số thành tựu. Dưới đây, chúng tôi điểm lại một số quan điểm tiêu biểu: 10 Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1983) định nghĩa: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập.” [58, 207] Tác giả Cao Xuân Hạo (1991) thì cho rằng: “Câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành động của tư duy, khác với các đơn vị có nghĩa khác - kể cả những ngữ đoạn mà nội dung hoàn toàn giống như nội dung của một câu - được cảm thụ như một cái gì cho sẵn.” [17, 137] Diệp Quang Ban (1998): “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.” [4, 107] Nguyễn Thị Lương (2009): “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những nguyên tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói. Về việc phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt Xưa nay, vấn đề phân tích cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt là một vấn đề phức tạp và có nhiều bất đồng trong các quan điểm nghiên cứu.
Ở luận văn này, chúng tôi tóm tắt trong ba khuynh hướng: - Khuynh hướng 1: Phân tích theo cấu trúc chủ - vị: Có thể kể tên các tác giả theo khuynh hướng này gồm: Bùi Đức Tịnh (1952), Phan Khôi (1955), Hoàng Tuệ (1962), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963): gọi vị ngữ là thuật từ, Nguyễn Kim Thản (1964), L. Trong đó: Bùi Đức Tịnh gọi vị ngữ là tuyên ngữ, còn Nguyễn Hiến Lê và Lê Văn Lý cùng gọi vị ngữ là thuật từ. Bùi Đức Tịnh nhận xét: “câu có một mệnh đề gồm có hai phần: 1. Chủ ngữ: chỉ người hay vật được nói đến 2.
Tuyên ngữ: những gì để nói về người hay vật ấy” [53, 409] Có phần hơi khác đi, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh vị trí trung tâm của vị ngữ, trong đó chủ ngữ và bổ ngữ chỉ là các tham tố, như: Thompson (1965), Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1997). Theo đánh giá của một số tác giả, hướng phân tích câu theo cấu trúc chủ -vị không bao quát được các kiểu câu tiếng Việt. Trên thực tế chỉ phản ánh được 15-25% câu tiếng Việt. - Khuynh hướng 2: Phân tích theo cấu trúc đề - thuyết: Theo khuynh hướng đề - thuyết có các tác giả: Lưu Vân Lăng (1970, 1986), Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (1983), Cao Xuân Hạo (1991, 2004), Đào Thanh Lan (2002).
Điểm hạn chế mấu chốt mà hướng phân tích câu theo cấu trúc chủ - vị thể hiện là sự bất lực trước những câu có chủ ngữ không trùng với chủ thể tâm lí (ví dụ: Chuyện gì Thiện cũng không quan tâm, Vợ ông ông dạy, v.) Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban khoa học xã hội nhận định: cấu trúc đơn giản nhất là câu đơn bao gồm “mỗi câu một “nòng cốt đơn” và bình thường nhất là trường hợp nòng cốt đơn có phần đề với phần thuyết…” [58, 207] Cao Xuân Hạo cho rằng: trong các ngôn ngữ phi hình thái như tiếng Việt, hướng chính để giải quyết sự phân biệt giữa câu với các đơn vị có nghĩa khác là “đánh dấu cấu trúc đề - thuyết của câu” [17, 139] Trong tiếng Việt, “cấu trúc cơ bản của câu tương ứng với cấu trúc của mệnh đề gồm hai phần sở đề (subject) và sở thuyết (predicate).” [17, 141] - Khuynh hướng 3: Kết hợp cả hai hướng phân tích chủ - vị và đề - thuyết: 12 Từ lâu, trong giới nghiên cứu Việt ngữ học, đã có một số quan điểm kết hợp cả hai hướng tiếp cận chủ - vị và đề - thuyết để phân tích cấu trúc cú pháp của cú và câu tiếng Việt. Tác giả Trần Ngọc Thêm (1985) chủ trương áp dụng phương pháp phân tích đề - thuyết và coi cấu trúc chủ - vị như là một bộ phận nằm trong cấu trúc đề - thuyết. Áp dụng mô hình ngữ pháp chức năng của M.K Halliday vào ngữ liệu tiếng Việt, tác giả Diệp Quang Ban (2005) trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đã đưa ra 4 kiểu cấu trúc câu tiếng Việt: - cấu trúc nghĩa biểu hiện với vị tố và các tham thể; - cấu trúc thức với biểu thức thức và phần dư; - cấu trúc đề - thuyết với hai thành tố đề và thuyết; - cấu trúc cú pháp C-V (gồm chủ ngữ, vị tố và các loại bổ ngữ, đề ngữ và gia ngữ). [3] Ở đây, tác giả đã lồng ghép ba bình diện (theo hướng phân biệt của M.K Halliday: chủ thể ngữ pháp, chủ thể lô-gic, chủ thể tâm lí) với 4 kiểu cấu trúc trong khi phân tích cấu trúc câu tiếng Việt.
Đó là những cố gắng của tác giả để đi tìm một giải pháp mới trong tình hình đối lập các khuynh hướng phân tích cấu trúc chủ - vị >< cấu trúc đề - thuyết hiện nay. Trong bài viết “Cấu trúc cú pháp tiếng Việt: Chủ - Vị hay Đề - Thuyết?” tác giả Nguyễn Hồng Cổn (2008) đã chỉ ra những điểm còn hạn chế, những khiếm khuyết của các hướng phân tích cú pháp tiếng Việt trước đây. Từ đó, tác giả đề xuất một cách tiếp cận mới trong việc phân tích cú pháp tiếng Việt, qua đó “xác nhận vai trò của cấu trúc chủ - vị với tư cách là cấu trúc cú pháp của cú nhằm mã hóa nghĩa biểu hiện của nó và vai trò của cấu trúc đề - thuyết với tư cách là cấu trúc cú pháp của câu nhằm tổ chức và truyền đạt một thông điệp.” [8] Trong tiếng Việt có hai kiểu cấu trúc cú pháp cần phải phân biệt với nhau về mặt cấu trúc – chức năng, đó là: 13 - Cấu trúc chủ - vị: cấu trúc của mệnh đề/ cú (clause) - đơn vị cú pháp có chức năng cơ bản là biểu hiện các sự tình, gắn với chức năng biểu hiện của ngôn ngữ. - Cấu trúc đề - thuyết: cấu trúc của câu – đơn vị cú pháp có chức năng cơ bản là truyền đạt một thông báo, gắn liền với chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
Theo tác giả: “hai kiểu cấu trúc này nên được coi là bổ sung cho nhau chứ không loại trừ nhau trong hệ thống cú pháp tiếng Việt. Theo hướng tiếp cận này, việc phân tích cú pháp tiếng Việt đáp ứng được sự thỏa đáng trên cả hai phương diện loại hình và phổ niệm ngôn ngữ.” [8] Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng nên kết hợp các hướng phân tích cú pháp thì mới giải quyết được những khó khăn trong việc phân tích câu và phù hợp với thực tế tiếng Việt. Lí thuyết về ba bình diện câu 1. Lí thuyết kí hiệu học của Ch.
Morris (1938) Từ lí thuyết kí hiệu học của Ch. Morris (1938), các nhà ngôn ngữ Mĩ và châu Âu áp dụng và lập ra Mô hình tam nguyên phân lập trong nghiên cứu ngôn ngữ. Trong lí thuyết về hệ thống kí hiệu, Morris phân biệt ba lĩnh vực: a. Kết pháp (syntactics): nghiên cứu các kí hiệu trong những mối quan hệ kết hợp với những tín hiệu khác.
Đối với tín hiệu ngôn ngữ ta quen gọi là cú pháp. Nghĩa học (semantics): nghiên cứu các kí hiệu trong những mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu. Dụng pháp (pragmatics): nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với những người sử dụng nó. Câu là một đơn vị ngôn ngữ có thể thể hiện đầy đủ nhất ba đặc tính nói trên của kí hiệu học.
Vì thế, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã áp dụng lí thuyết kí hiệu học vào phân tích câu theo ba bình diện. Lí thuyết ba cấp độ (levels) của trường phái Praha (F. Danes chia làm ba cấp độ để phân tích câu, đó là: 14 1. Cấp độ của cấu trúc ngữ pháp của câu (sentence) 2.
Cấp độ của cấu trúc nghĩa của câu (sentence) 3. Cấp độ của cách tổ chức phát ngôn (utterance) Nội dung cấp độ (3.) cách tổ chức phát ngôn tương đương với bình diện dụng pháp, bởi vì tổ chức 1. Lí thuyết ba chức năng của Dik (1981) Trên quan điểm của ngữ pháp chức năng, Dik phân biệt ba chức năng dựa theo mô hình tam phân.