mở đầu bằng "có phái” và kết thúc bằng "không", ở giữa là một mệnh đề trọn vẹn .Thí dụ Có phải anh Nam đến đây không ? Có phải anh Nam đã /có đến đây không” Có phải anh Nam chưa / không đến đây không ? 4. Cũng thuộc loại siêu ngôn ngữ này là câu hỏi được cấu trúc bằng cách ghép. một tiểu cú “phải không" ("phỏng"), "chứ", “đúng không", "có không" đặt sau mệnh đề được đưa ra hỏi, nhiều khi có một chỗ ngưng ngắn giữa hai bên.Thí dụ Anh đỗ rồi phai khong ? /diing khong ? Anh mia tôi đấy phỏng ? Ong Nam về rồi chứ 2 Mắt xanh chăng để ai vào có không ? Câu hỏi này khác với câu hỏi loại trên ở chỗ nó thiên về tính chân xác của mệnh đề được tiền giả định nhiều hơn “7öi nghữ/cho rằng P, nhưng muốn anh xác nhận thêm (tu cũng còn có khả năng là anh sẽ phú nhận P) 4. Cuối cùng là dạng câu hỏi được kết thúc bằng một trong hai tiểu tố tình thái “nhỉ” và "nhé".
Câu hỏi có “nhỉ” đặt ở cuối câu có giá trị ngôn trung như một nhận xét, đánh giá, tiên liệu, phỏng đoán. Nó báo hiệu một yêu cầu được người nghe đồng tình, chia sẻ điều đã phát biêu .Thí dụ Trời hôm nay đẹp nhi ? Mai chắc sẽ mưa to đấy nhỉ? Giá có điều thuốc thì hay quá sỉ 2 4. Câu hỏi có “nhé” đứng cuối mang giá trị ngôn trung như một lời gợi ý, một đề nghị về một hành động sắp tới của người nói, của người nghe hay của hai. hiệu một yêu cầu được người nghe tán thành đề cho hành động ấy được người nói và/hay người nghe thực hiện.
Ngoài ra, câu có “né” còn được dùng như một lời từ biệt hay dặn dò, hẹn hỏ.Thí dụ Cậu ngồi đây đợi mình một lat mhé ? Bây giờ bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe nhé ? Tối mai em đi xem phim với anh nhé ? “Thôi mình về nhé ? 4. Câu có giá trị ngôn trung gián tiếp : Khi câu có hình thức câu hỏi (đến một mức độ nào đó) nhưng không có yêu cầu cung cấp một thông báo nào tương ứng với nội dung câu hỏi thì giá trị ngôn trung của nó thay đổi và nó trở thành một hành động ngôn trung khác. Gọi đó là câu có giá trị ngôn trung gián tiếp. Câu hỏi có giá trị cầu khiển : Là những câu yêu cầu, mệnh lệnh được diễn đạt dưới hình thức hỏi.
Thí dụ Ông có diêm không ? Anh ngồi nhích vào một chút có được không ạ ? Con muốn ăn đòn phải không ? Mày có câm cái mồm mày đi không ? Ông có thể chuyên cho tôi lọ muối được không ? Theo tác giả, có lẽ tốt hơn cả là nên coi những câu hỏi trên là những câu cầu khiến bằng hình thức hỏi mà người bản ngữ đã quen sử dụng và từ bé đã học cách hiểu như những câu cầu khiến. Câu hỏi có giá trị của một câu khẳng định. Thí dụ Chính anh làm hỏng việc ấy chứ ai ? Bà lại lắn sang vườn tôi chứ gì ? Thì tôi phải bênh vực em tôi chứ sao ? Anh bảo như thế có khổ không ? Ai mà chẳng biết chuyện ấy ? Ớt nào là ớt chẳng cay ? Làm như vậy chẳng phải là đê tiện sao ? Được ngài chiếu có chăng phải là vinh dự lắm sao ? Chị chẳng đã nhận lời là gì ? 4. Câu nghỉ vấn có giá trị phú đỉnh : Gồm có hai loại 4.
Những kiểu câu nghỉ vấn phủ định mà trong những văn cảnh nhất định và với những thành phẩn từ ngữ nhất định cũng có thể dùng như câu hỏi chính danh. Tuy thiên về phủ định nhưng còn dành chỗ cho một câu trả lời theo hướng này hay hướng khác.Thí dụ Bài khó thế này ai mà làm được ? Thứ bút này làm gì có ngoài phố ? 4. Những kiểu câu nghỉ vấn phủ định không bao giờ dùng như những câu hỏi chính danh (không bao giờ có yêu cầu trả lời với mục đích cung cấp thông tin tuy người đối thoại có thê trả lời tán thành hay phản bác) Thí dụ Nó có ai đánh mày đâu ? Nào có ai bỏ cuộc đâu ? Nó có ngã đâu mà đau ? 4. Câu nghỉ vấn có giá trị phỏng đoán hay ngờ vực, ngần ngại: Là những câu tuy có hình thức hỏi nhưng bày tỏ một thái độ phân vân, không quả quyết, ngờ vực, ngần ngại đối với tính chân xác của mệnh đề được biểu thị trong câu .Thí dụ 'Bây giờ biết làm thế nào đây ? Đến rút đơn lại chăng ? Không biết có đến được Lai Châu trước khi trời tối không? Cô ta có chuyện gì thế không biết ? Sao nó cứ hoãn hoài thế nhỉ ? 4.5 Câu nghỉ vấn có giá trị cảm thán : Có nhiều kiêu câu cảm thán sử dụng hình thức nghỉ vấn nhưng lại mang một ngữ điệu có sắc thái cảm xúc khác và không hề yêu cầu được trả lời.
Thí dụ Được như thế thì hay biết chừng nào ? Trời hôm nay sao mà đẹp thế ? Người đâu mà tốt thế ? Đã xấu hồ chưa ? 5. Quan điểm của người viết: 5. Khi bat tay vào thực hiện luận văn này, chúng tôi được nhiều thuận lợi nhưng cũng. gap khong it kh khan.
Thuan loi dau tiên và lớn nhất của chúng tôi là tham khảo được nhiều công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học có uy tín, tiếp theo là chúng tôi có trực giác cảm nhận của người bản ngữ. Nhờ đó, chúng tôi có thế tiếp cận và khảo sát đối tượng một cách khách quan và tương đối dễ dàng. Nhưng khó khăn của chúng tôi cũng xuất phát từ đó. Tuy có nhiều công trình nghiên cứu, song quan điểm của các tác giả đôi lúc khác nhau, thậm chí đối lập nhau, và do hạn chế về hoàn cảnh lịch sử, nhiều tác giả có nhận định không đúng với thực tế sử dụng tiếng Việt, thêm vào đó, vì trình độ người viết hạn chế, nguồn tài liệu có hạn, quỹ thời gian không nhiều nên khi khảo sát và rút ra kết luận cho các vấn đề, chúng tôi chắc chắn có nhiều sai sót.
Đối tượng mà người viết xem xét và phân tích ở đây là hai bình diện hình hức - cấu trúc và nội dung - mục đích (ngữ nghĩa) của câu hỏi tiếng Việt. Như Cao Xuân Hạo đã nói, câu hỏi là câu “ngoài cái giá trị hỏi (yêu cầu thông báo) là giá trị ngôn trung trực tiếp của nó, còn có thễ có một (những) giá trị ngôn trung phái sinh (phủ định, khẳng định, tỏ ÿ' ngờ vực, thách thức, tranh luận.) và trong nhiều trường hợp, cái giá trị ngôn trung phải sinh này lại là công cụ và mục đích duy nhất của câu nói, trong khi tính chất nghỉ vấn chỉ còn là mội hình thức thuẫn tủy, may ra chỉ góp một sắc thải tu từ (hùng biện) nào đó cho câu nói". Chính vì thế, câu hỏi mới có những hiện tượng sau:1.) cùng một cấu trúc nhưng câu hỏi có thể thực hiện được nhiều mục đích khác nhau. Một câu hỏi như “cẩu có mệt không 3" là câu hỏi chính danh, song một câu, cũng cùng khuôn “có.
&hông" như nó, là “cậu có điên không ? thì hoàn toàn không phải là câu hỏi chính danh. 2) Một phát ngôn nhưng nếu được phát âm với những ngữ điệu khác nhau thì sẽ trở thành hai câu mang hình thức khác nhau, một hình thức là hỏi và một hình thức không phải hỏi. Thi du như câu sau: Họ giàu gì mà giàu thể ? Họ giàu gì mà giàu thể ? 3) Tương tự như thế, nghĩa một câu hỏi có thể phụ thuộc vào điểm được nhắn giọng. Tuy cùng một câu nhưng nếu khi phát âm ta nhắn giọng ở những điềm khác nhau thì ta sẽ có hai câu mang nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Chẳng hạn cùng một câu hỏi: “Mẹ bệnh sao? " nếu từ “sao” phát âm không có trọng âm thì "sao" là tiểu từ tình thái cuối câu, còn phát âm có trọng âm thì "sao" là một yếu tố nghỉ vấn (đại từ nghỉ vấn) làm bổ ngữ cho vị từ đứng trước."H6i" là một vị từ ngôn hành, nhưng phát ngôn mang lực ngôn trung hỏi (trực tiếp và gián tiếp) không chứa vị từ “hỏi”. Nếu vị từ “hỏi” xuất hiện trong câu thì câu phải có từ. hai mệnh đề trở lên trong đó mệnh đề chứa vị từ “hỏi” đứng độc lập với mệnh đề chứa thông tin hỏi. Và như thế trong trường hợp này, câu hỏi luôn luôn có cấu trúc của một câu ghép.Thi dụ Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ là đan sảng nên chăng 2 hay Bây giờ mận mới hỏi đào 'Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ? và: Anh cho tôi hỏi, đường nào đến Nhà văn hóa Thanh Niên? Xin hỏi anh : Anh làm thế là ding hay sai? Thông thường câu hỏi không chứa vị từ “hỏi”.
Việc câu không chứa vị từ hỏi nhưng vẫn làm cho người nghe nhận ra câu hỏi đã quy định câu hỏi phải có những dấu hiệu, hình thức và cấu trúc riêng nhất định. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ trình bày các dấu hiệu, hình thức và cấu trúc đó 1.Câu có tiểu từ tình thái (tiêu từ nghỉ vấn) cuối câu 2.Câu chứa các từ và cụm từ mang nghĩa nghỉ vấn 3.Câu có từ nối "hay" 4.Câu chứa các yếu tố nghỉ vẫn Ngoài ra, chúng tôi còn có gắng trình bày một số khuôn câu hỏi trong tiếng Việt, thí dụ như - “có. cá về cầu trúc lẫn nghĩa hiển ngôn của chúng. Đối với câu có tiêu từ tình thái đứng cuối, chúng tôi dựa vào từ điển tiếng Việt để xác định danh sách tiểu từ tình thái cuối câu và căn cứ vào chức năng của tiểu từ tình thái đối với cấu trúc câu hỏi, chúng tôi chia ra làm hai loại : ziểu rừ tình thái chuyên biệt cho câu hỏi (tiểu từ nghỉ vấn) và riểu lie tinh thái không chuyên biệt cho câu hỏi.
Bên cạnh đó, chúng tôi trình bày một vài đặc điểm của tiểu từ tình thái, thí dụ như tiểu từ tình thái có thể giúp ta xác định nghĩa của câu hỏi khi câu hỏi xuất hiện dưới dạng viết và bị tách ra khỏi ngữ cảnh. Chẳng hạn, với câu mơ hồ về nghĩa sai: "Anh hứa sao? (Nghĩa của nó là “Anh hứa ư ?" hoặc "Anh đã hứa như thế nào 2" hay "Anh đã hứa là àm gì 2”) ta có thể dùng tiểu từ tình thái cuối câu để xác định, thí dụ "Anh hứa sao đầy ? "Anh hứa sao à ?" "Anh hứa sao đây 2" 5.