Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9.20) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, được hoàn thành năm 2020 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thị Lan Anh và GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, tập trung nghiên cứu đề tài: "Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, tính từ chiếm số lượng lớn và giữ vị trí ngữ pháp, ngữ nghĩa quan trọng. Trong đó, nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng (TTCĐĐVL) của sự vật đóng vai trò thiết yếu tạo nên tính phong phú, đa dạng của từ loại tiếng Việt. Trong hoạt động hành chức, nhóm từ này không chỉ biểu thị các đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp vốn có mà còn trải qua các quá trình biến đổi, chuyển hóa phức tạp trên bình diện ngữ pháp – ngữ nghĩa.
Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết cú pháp của ngôn ngữ học hiện đại, mở ra hướng tiếp cận cú pháp theo đường hướng ngữ nghĩa – chức năng. Lí thuyết này chỉ ra mối quan hệ tương tác hai chiều: ngữ nghĩa giữ vai trò chi phối và quy định sự hiện thực hóa thuộc tính kết trị của từ trong câu, đồng thời thông qua mô hình kết trị, thuộc tính ngữ nghĩa bản chất của từ được bộc lộ rõ nét. Mặc dù lí thuyết kết trị đã được phát triển và vận dụng rộng rãi trên thế giới đối với động từ và sau đó là các từ loại khác, tại Việt Nam các công trình ứng dụng lí thuyết này chủ yếu tập trung vào hệ thống động từ. Cho đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu, nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết kết trị vẫn chưa có công trình chuyên sâu nào khảo sát một cách đầy đủ và toàn diện. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án xác định giải quyết.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mối quan hệ tương tác giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ.
Để đạt được mục đích trên, văn bản luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Xây dựng khung lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lí thuyết kết trị (khái niệm kết trị, tham tố, phân loại tham tố, nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị…), lí thuyết ngữ nghĩa (nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ, ý niệm, phạm trù, miền, miền nguồn, miền đích…), lí thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt (khái niệm, tiêu chí nhận diện, phân loại…).
- Phân tích, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc.
- Phân tích, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở hai phương diện cốt lõi: đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm kết trị, cùng mối quan hệ qua lại giữa hai phương diện này ở cả mặt tiềm năng hệ thống lẫn mặt hiện thực hóa trong câu.
- Phạm vi nguồn ngữ liệu: Ngữ liệu khảo sát được thu thập từ 55 nguồn tài liệu thuộc hai loại hình văn bản có phong cách chức năng khác nhau: văn bản khoa học (VBKH) và văn bản nghệ thuật (VBNT), phản ánh tần số xuất hiện cao và tính đặc thù phong cách của nhóm tính từ này. Ngoài ra, tác giả còn bổ sung các biểu thức ngôn ngữ thu thập từ thực tế giao tiếp tiếng Việt hàng ngày.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước về nghĩa và kết trị của từ
Văn bản luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu lý thuyết ngữ nghĩa và kết trị theo hai bình diện: thế giới và Việt Nam.
Nghiên cứu ngữ nghĩa trên thế giới và tại Việt Nam
Về lịch sử hình thành ngữ nghĩa học, luận án ghi nhận công trình “Essai de Sémantique” (1877) của Michel Bréal là mốc khởi đầu xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn độc lập. Theo lược thuật từ Lê Quang Thiêm (công trình năm 1989), tiến trình này trải qua ba thời kỳ: tiền cấu trúc luận, cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận. Về bản chất nghĩa của từ, Nguyễn Thiện Giáp (1998) khái quát hai khuynh hướng chính: coi nghĩa là bản thể (đối tượng, sự phản ánh) hoặc coi nghĩa là quan hệ.
Luận án điểm lại các mô hình biểu diễn nghĩa tiêu biểu: quan niệm tín hiệu ngôn ngữ hai mặt (khái niệm và hình ảnh âm thanh) của Ferdinand de Saussure; sơ đồ tam giác nghĩa của C.K. Ogden và I.A. Richards (1923); sơ đồ cải tiến tam giác nghĩa bổ sung nội dung liên hội của Stephen Ullmann (1962); cùng quan điểm coi khái niệm là nghĩa của John Lyons (1977). Về hiện tượng chuyển nghĩa, luận án lược thuật ba khuynh hướng: khuynh hướng logic học do H. Paul khởi xướng; khuynh hướng tâm lý học của W. Wundt, V. Henry, Murray; và khuynh hướng lịch sử của E. Wellander, Smart; bên cạnh các kiến giải về nguyên nhân chuyển nghĩa của J. Aitchison, V. Fromkin và John Lyons. Trong ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu của George Lakoff và cộng sự mở ra hướng tiếp cận nghĩa và sự chuyển nghĩa thông qua ẩn dụ và hoán dụ ý niệm dựa trên các miền nguồn căn bản (cảm xúc, bộ phận cơ thể, không gian, ăn uống).
Tại Việt Nam, các công trình đặt nền móng và phát triển ngữ nghĩa học từ vựng được luận án điểm lại bao gồm: Đỗ Hữu Châu với “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” (1998) đề xuất mô hình hình tháp nghĩa không gian và phân định các thành phần nghĩa (biểu vật, biểu niệm, biểu thái); Nguyễn Thiện Giáp với các công trình năm 1998 và 2010 phân chia nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu; Lê Quang Thiêm với “Tập bài giảng về Ngữ nghĩa học” tiếp cận cả nghĩa học từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng; Đỗ Việt Hùng (2001) làm rõ bình diện hệ thống và hoạt động của nghĩa. Về chuyển nghĩa, các công trình của Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Đức Dân được điểm qua bên cạnh các nghiên cứu tri nhận: Nguyễn Đức Tồn và cộng sự (2008) nghiên cứu tâm lý ngôn ngữ học tộc người qua trường từ vựng động vật, thực vật, cơ thể; Lý Toàn Thắng (2002, 2005) nghiên cứu tri nhận không gian; Trần Văn Cơ (2007) coi từ đa nghĩa là phạm trù ý niệm; Nguyễn Văn Hiệp (2008, 2011) dịch công trình của John Lyons và khảo sát cơ chế nghiệm thân của các từ "ra", "vào".
Mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị bắt đầu được chú ý qua các công trình: Nguyễn Mạnh Tiến (2010) khẳng định ý nghĩa chi phối kết trị động từ tiếng Việt; Bùi Thị Nga (2014) khảo sát vị từ kết nối; Phạm Thị Mỹ Việt (2015) khảo sát vị từ quá trình; Bùi Minh Toán và Lê Thị Lan Anh (2014) làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các nét nghĩa từ vựng, ngữ pháp với số lượng và kiểu loại kết tố.
Nghiên cứu lí thuyết kết trị trên thế giới và tại Việt Nam
Thuật ngữ kết trị (valence) được L. Tesnière đề xuất trong “Các yếu tố của cú pháp cấu trúc”, coi động từ là hạt nhân tạo ra các vị trí hút diễn tố (actants) và chu tố (circonstants). Các nhà ngôn ngữ học tiếp tục phát triển lí thuyết này gồm: S.D. Kasnelson (phân biệt kết trị với khả năng kết hợp thông thường, nêu khái niệm "ô trống", kết trị nội dung và hình thức); N.A. Tjapkina (đồng nhất kết trị với toàn bộ quan hệ cú pháp tiềm năng); A.M. Mukhin (phân biệt kết trị bắt buộc và tự do); M.M. Stepanova (mở rộng kết trị sang mọi cấp độ ngôn ngữ, phân biệt kết trị chủ động/bị động, cú pháp/ngữ nghĩa/logic, tiềm năng/hiện thực hóa).
Tại Việt Nam, Cao Xuân Hạo (“Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng”, 2006) khẳng định vai trò của Tesnière trong việc đặt nền móng cho ngữ pháp chức năng. Nguyễn Văn Lộc (“Kết trị của động từ tiếng Việt”, 1995) định nghĩa kết trị là khả năng tạo ra các vị trí mở bắt buộc hoặc tự do, tập trung miêu tả kết tố chủ thể và đối thể. Nguyễn Thị Quy (1995) nghiên cứu diễn trị và nét nghĩa [+ tác động] của vị từ hành động. Đinh Văn Đức (2001, 2008) mở rộng khái niệm "ngữ trị" sang các từ loại khác như danh từ và tính từ, bao gồm hai giá trị: kết trị và diễn trị. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Lâm Quang Đông (2008), Nguyễn Mạnh Tiến (2016) vận dụng kết trị vào phân tích cú pháp câu. Lê Thị Lan Anh vận dụng khảo sát vị từ quan hệ vị trí và danh từ "trăng"; Phạm Quang Trường, Vũ Thị Ngân, Nguyễn Quang Thuấn (2006) đối chiếu kết trị động từ Pháp – Việt; cùng các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thùy Dương (2011), Hoàng Thu Huyền (2011), Bùi Thị Nga (2014), Trần Minh Tuất (2014).
Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt
Văn bản điểm lại các nghiên cứu chuyên biệt về tính từ: Chu Bích Thu (1998, 2000) phân tích cấu trúc nghĩa của tính từ biểu thị mùi và vị; Nguyễn Thị Dự (2006) nghiên cứu tính từ không gian trên cơ sở tri nhận và so sánh Anh – Việt; Lê Xuân Bình (2012) nghiên cứu tính từ kích thước trong tiếng Nga và tiếng Việt; Nguyễn Quỳnh Thu (2013) khảo sát ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ mùi (81 từ) và vị (94 từ); Trần Ái Chin (2014) thống kê 359 tính từ chỉ màu sắc và khảo sát ba kiểu kết tố; Nguyễn Thị Huyền (2015) nghiên cứu cấu trúc nghĩa và ẩn dụ của từ ngữ chỉ mùi vị liên hệ tiếng Anh; Nguyễn Thị Hạnh Phương (2016) vận dụng lí thuyết nghiệm thân lý giải sự phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình hiện có đã khảo sát một số nhóm tính từ riêng lẻ (không gian, kích thước, màu sắc, mùi, vị, cảm giác). Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật – một nhóm từ có cấu trúc ngữ nghĩa đa dạng và tính chất hành chức biến hóa phức tạp – vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống trên cả hai bình diện ngữ nghĩa và kết trị, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa mô hình kết trị nghĩa gốc với sự biến đổi kết trị khi phát triển nghĩa theo góc nhìn tri nhận. Luận án lựa chọn giải quyết toàn diện khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Văn bản luận án xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên sự tích hợp giữa ngữ nghĩa học cấu trúc luận, ngữ pháp chức năng và ngôn ngữ học tri nhận:
- Bản chất nghĩa của từ: Tác giả tán thành quan điểm coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần (kế thừa Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Đức Tồn, Lê Quang Thiêm). Đó là sản phẩm nhận thức, sự hiểu biết cùng cảm xúc của người bản ngữ về sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quan hệ được ngôn ngữ phản ánh. Cấu trúc nghĩa của từ gồm bốn thành phần:
- Ý nghĩa biểu vật: Phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vào ngôn ngữ dưới dạng đại diện khái quát.
- Ý nghĩa biểu niệm: Tập hợp các nét nghĩa chung và riêng, phản ánh mối liên hệ giữa từ với khái niệm nhằm khu biệt các sự vật, hiện tượng.
- Ý nghĩa biểu thái: Phản ánh thái độ, cảm xúc, sự đánh giá chủ quan của người sử dụng đối với hiện thực.
- Ý nghĩa ngữ pháp: Ý nghĩa khái quát chung cho toàn bộ một lớp từ, quy định khả năng kết hợp của từ trong câu.
- Hiện tượng nhiều nghĩa và chuyển nghĩa: Bản chất của hiện tượng đa nghĩa là giải quyết mâu thuẫn giữa tính hữu hạn của vỏ ngữ âm với tính vô hạn của hiện thực khách quan. Luận án phân tích sự phát triển nghĩa dựa trên hai phương thức chuyển nghĩa từ vựng cơ bản:
- Ẩn dụ: Chuyển đổi tên gọi dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa các đối tượng khác phạm trù.
- Hoán dụ: Chuyển đổi tên gọi dựa trên mối quan hệ tương cận, đi đôi với nhau trong thực tế giữa các đối tượng.
- Các khái niệm ngôn ngữ học tri nhận:
- Ý niệm (Concept) và ý niệm hóa (Conceptualization): Ý niệm là đơn vị tinh thần của ý thức, kết quả của hoạt động tri nhận; ý niệm hóa là quá trình tinh thần xuất phát từ tri giác cảm tính để tạo lập ý niệm.
- Ẩn dụ ý niệm (Conceptual metaphor): Ánh xạ có hệ thống từ một miền nguồn (trải nghiệm cụ thể, trực quan) sang một miền đích (trừu tượng). Phân loại gồm ba dạng: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng.
- Hoán dụ ý niệm (Conceptual metonymy): Quá trình tri nhận trong đó một thực thể ý niệm đóng vai trò phương tiện cung cấp sự tiếp nhận tinh thần tới một thực thể khác trong cùng một miền hoặc cùng một mô hình tri nhận lý tưởng.
- Phạm trù và phạm trù hóa (Categories & Categorization): Cơ chế nhận thức của tư duy cho phép tổ chức, phân loại các trải nghiệm và sự vật hiện tượng thành các phạm trù tri nhận dựa trên mô hình tri nhận và điển mẫu.
- Miền (Domain), miền nguồn (Source domain), miền đích (Target domain): Không gian ý niệm bao gồm các thực thể, thuộc tính và mối quan hệ; cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích giải thích con đường phái sinh ngữ nghĩa của từ.
- Lí thuyết kết trị trong ngữ pháp chức năng: Luận án định nghĩa: Kết trị là khả năng của từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp giúp hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ.
- Kết trị là khả năng kết hợp ngữ nghĩa tiềm tàng ở tầng sâu, khác với "khả năng kết hợp" đơn thuần ở bậc cấu tạo cụm từ chính phụ (vốn chỉ xét trật tự tuyến tính trước – sau mà không phản ánh bản chất chức năng cú pháp và ngữ nghĩa của câu).
- Tham tố: Là các thành tố cú pháp hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ trung tâm và đảm đương chức vụ ngữ pháp xác định trong câu.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp miêu tả kết hợp với phân tích cú pháp cùng các thủ pháp ngôn ngữ học:
- Phương pháp miêu tả theo lí thuyết kết trị: Dùng để miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của TTCĐĐVL (phân tích nghĩa gốc và các hướng phát triển nghĩa), đồng thời miêu tả đặc điểm nội dung ngữ nghĩa và hình thức ngữ pháp của các tham tố tham gia mô hình kết trị.
- Phương pháp phân tích cú pháp: Nhằm giải mã các biểu thức ngôn ngữ ở bình diện cấu trúc hình thức, từ đó làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa kết trị cú pháp và các thành phần ngữ nghĩa.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng từ ngữ chỉ đặc điểm về lượng, phân loại các tiểu nhóm tính từ và phân loại các tham tố trong mô hình kết trị dựa trên dữ liệu ngữ liệu khảo sát.
- Thủ pháp mô hình hóa: Xây dựng mô hình ngữ nghĩa và mô hình kết trị của nhóm tính từ ở trạng thái tiềm năng hệ thống và trong hoạt động hành chức.
- Thủ pháp so sánh: So sánh đặc điểm ngữ nghĩa và mô hình kết trị giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển, cũng như so sánh sự hiện thực hóa của nhóm từ trong hai phong cách văn bản: VBKH và VBNT.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu khảo sát được trích xuất từ 55 tài liệu thành văn thuộc hai phong cách:
- Văn bản khoa học (VBKH): Các giáo trình, tài liệu chuyên ngành khoa học tự nhiên và xã hội.
- Văn bản nghệ thuật (VBNT): Tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn, tiểu thuyết của các tác giả Việt Nam.
- Dữ liệu bổ trợ: Các ngữ cảnh giao tiếp ngôn ngữ tự nhiên hàng ngày.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Chương 1 (từ trang 6 đến trang 48) hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu và xác lập cơ sở phương pháp luận cho đề tài.
- Về tổng quan tài liệu: Luận án phân tích chi tiết các giai đoạn phát triển của ngữ nghĩa học từ Bréal, Saussure, Ogden & Richards đến Lyons và trường phái ngữ nghĩa học tri nhận; tổng kết các khuynh hướng nghiên cứu chuyển nghĩa (logic, tâm lý, lịch sử, văn hóa – tri nhận); điểm lại lịch sử lí thuyết kết trị từ Tesnière, Kasnelson, Mukhin, Stepanova đến việc ứng dụng tại Việt Nam qua các công trình của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Văn Lộc, Đinh Văn Đức. Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa và kết trị của các nhóm tính từ tiếng Việt (mùi vị, màu sắc, không gian, kích thước, cảm giác) để khẳng định tính cấp thiết của việc nghiên cứu nhóm TTCĐĐVL.
- Về cơ sở lí thuyết: Chương này luận giải cặn kẽ bốn thành phần nghĩa của từ (biểu vật, biểu niệm, biểu thái, ngữ pháp); cơ chế chuyển nghĩa qua ẩn dụ và hoán dụ; các khái niệm bản lề của ngôn ngữ học tri nhận (ý niệm, ý niệm hóa, ba dạng ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm, phạm trù hóa, miền nguồn và miền đích). Đồng thời, tác giả xác định bản chất của kết trị trong ngữ pháp chức năng, phân biệt kết trị với khả năng kết hợp cụm từ, và xác định khái niệm tham tố cùng cách phân loại tham tố trong mối quan hệ với vị từ trung tâm.
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT KHI DÙNG VỚI NGHĨA GỐC
Chương 2 (từ trang 49 đến trang 95) tập trung nhận diện, phân loại và miêu tả ngữ nghĩa, kết trị của nhóm TTCĐĐVL ở tầng nghĩa gốc.
- Nhận diện và phân loại: Tác giả xây dựng quan niệm khoa học và thiết lập hệ thống tiêu chí nhận diện nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt; phân loại nhóm từ thành hai tiểu nhóm ngữ nghĩa chính:
- Nhóm tính từ định lượng sự vật;
- Nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật.
Danh sách toàn bộ các tính từ thuộc phạm vi nghiên cứu được lập thành bảng thống kê chi tiết tại Bảng 2.1 (trang 59).
- Đặc điểm ngữ nghĩa ở nghĩa gốc: Luận án phân tích cấu trúc nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm của từng tiểu nhóm tính từ khi gọi tên trực tiếp đặc điểm lượng của thực thể khách quan; xây dựng lược đồ khái quát tại Hình 2.1 – Sơ đồ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc (trang 68).
- Đặc điểm kết trị ở nghĩa gốc: Xác lập cấu trúc vị trí mở của nhóm tính từ khi làm vị ngữ trong câu, biểu diễn qua Hình 2.2 – Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc (trang 71). Luận án miêu tả bản chất ngữ nghĩa và hình thức ngữ pháp của các tham tố đòi hỏi bắt buộc và mở rộng; tổng hợp định lượng tại Bảng 2.2 – Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật dùng với nghĩa gốc (trang 76). Phân tích chi tiết quy luật hiện diện, ẩn tàng hoặc khuyết thiếu của các tham tố này trong cấu trúc câu tiếng Việt.
Chương 3: SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA VÀ THAY ĐỔI KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
Chương 3 (từ trang 96 đến trang 139) khảo sát động thái biến đổi ngữ nghĩa và ngữ pháp của nhóm từ khi hành chức trong các ngữ cảnh phái sinh.
- Sự phát triển ngữ nghĩa dưới góc độ tri nhận: Khái quát cơ chế ý niệm hóa và sự mở rộng ngữ nghĩa từ miền nguồn (lượng vật thể cụ thể) sang các miền đích trừu tượng (như mức độ, tính chất, trạng thái tâm lý, năng lực, quy mô hoạt động...) thông qua các mô hình ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm. Các hướng chuyển nghĩa được tổng hợp trong Hình 3.1 – Sơ đồ các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt (trang 114).
- Sự thay đổi kết trị tương ứng: Làm sáng tỏ quy luật ngữ nghĩa chi phối cú pháp: khi nghĩa của tính từ chuyển từ cụ thể sang trừu tượng, mô hình kết trị của chúng cũng biến đổi tương ứng. Tác giả xác lập Hình 3.2 – Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa (trang 115). Sự thay đổi bản chất của các tham tố (từ tham tố chỉ vật thể vật lý sang tham tố chỉ trạng thái, tính chất, hành động, sự kiện trừu tượng) được tổng hợp tại Bảng 3.1 – Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng phát triển nghĩa (trang 120). Luận án phân tích sâu sự hiện thực hóa các tham tố này trong câu thuộc hai phong cách chức năng VBKH và VBNT, chỉ ra tính chi phối của phong cách văn bản đối với khả năng hiện diện của tham tố.
Danh mục bảng biểu và sơ đồ, mô hình trong văn bản
Hệ thống bảng biểu và sơ đồ được tác giả thống kê và xây dựng trong luận án bao gồm:
| Ký hiệu |
Tên gọi bảng biểu / sơ đồ, mô hình |
Vị trí trang |
Nội dung phản ánh trong luận án |
| Bảng 2.1 |
Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt |
Trang 59 |
Thống kê danh sách đầy đủ các TTCĐĐVL được nhận diện và phân loại |
| Bảng 2.2 |
Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật dùng với nghĩa gốc |
Trang 76 |
Định lượng tần suất và đặc điểm của tham tố mang đặc điểm lượng ở nghĩa gốc |
| Bảng 3.1 |
Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng phát triển nghĩa |
Trang 120 |
Định lượng sự biến đổi về số lượng và đặc trưng của tham tố khi tính từ phát triển nghĩa chuyển |
| Hình 2.1 |
Sơ đồ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc |
Trang 68 |
Biểu diễn cấu trúc ngữ nghĩa của các tiểu nhóm định lượng và số lượng ở nghĩa gốc |
| Hình 2.2 |
Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc |
Trang 71 |
Cấu trúc hóa các vị trí mở và quan hệ giữa tính từ hạt nhân với các tham tố gốc |
| Hình 3.1 |
Sơ đồ các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt |
Trang 114 |
Khái quát hóa các con đường ánh xạ ý niệm từ miền nguồn sang các miền đích |
| Hình 3.2 |
Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa |
Trang 115 |
Biểu diễn sự biến đổi của khung kết trị và các vị trí tham tố mới trong câu |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lí luận
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt.
- Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa ngữ nghĩa và kết trị: khẳng định vai trò quy định của ngữ nghĩa đối với việc xác lập số lượng, đặc tính của tham tố và sự hiện thực hóa của chúng trong câu; đồng thời chứng minh cấu trúc kết trị là phương tiện bộc lộ các nét nghĩa bản chất của từ.
- Kết quả của luận án cung cấp thêm bằng chứng khoa học thực tế từ tiếng Việt khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại: nghiên cứu ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa và chức năng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn tư liệu ngôn ngữ học và hệ thống miêu tả tường minh giúp người nghiên cứu cú pháp học và ngữ nghĩa học có cách nhìn đầy đủ hơn về bản chất ngữ pháp – ngữ nghĩa của từ loại tính từ tiếng Việt.
- Kết quả phân tích ngữ nghĩa (nghĩa gốc và các hướng phát triển nghĩa tri nhận) đóng góp thiết thực cho công tác từ điển học: hỗ trợ việc phân định các nét nghĩa, phân chia mục từ và giải thích nghĩa tính từ trong từ điển tiếng Việt một cách khoa học.
- Hỗ trợ công tác biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy ngữ pháp và từ vựng tiếng Việt cho học sinh, sinh viên chuyên ngành Ngữ văn trong nước, cũng như công tác dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho người nước ngoài.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Kiến nghị vận dụng các mô hình kết trị và cấu trúc tham tố đã được luận án xác lập vào việc phân tích câu trong nhà trường phổ thông và đại học, thay thế dần lối phân tích thành phần câu thuần túy hình thức bằng phân tích cú pháp gắn liền với cấu trúc nghĩa.
- Đề xuất các nhà biên soạn từ điển vận dụng cơ chế ánh xạ miền của ngữ nghĩa học tri nhận và đặc tính tham tố kết trị để chuẩn hóa định nghĩa và cung cấp các câu ví dụ minh họa chuẩn mực cho các mục từ tính từ chỉ lượng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
Căn cứ theo phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu mà văn bản trình bày, luận án có một số giới hạn:
- Phạm vi khảo sát ngữ liệu tập trung chủ yếu vào 55 nguồn văn bản thuộc hai phong cách chức năng là văn bản khoa học (VBKH) và văn bản nghệ thuật (VBNT) cùng giao tiếp thường nhật; chưa khảo sát mở rộng sang các phong cách chức năng khác như phong cách báo chí – công luận hay phong cách hành chính – công vụ.
- Đề tài tập trung chuyên biệt vào nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật, chưa bao quát toàn bộ các nhóm tính từ biểu thị lượng khác (như lượng của hoạt động, trạng thái) hoặc các lớp từ loại mang nghĩa lượng khác (như danh từ chỉ lượng, số từ, lượng từ).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát ngữ liệu sang các thể loại văn bản đa dạng hơn nhằm kiểm chứng sự hành chức của mô hình kết trị trong toàn bộ các phong cách ngôn ngữ tiếng Việt.
- Nghiên cứu đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa và mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ lượng trong tiếng Việt với các tính từ tương đương trong các ngôn ngữ khác (như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán).
- Triển khai mở rộng lí thuyết kết trị và ngữ nghĩa học tri nhận sang khảo sát các nhóm tính từ biểu thị đặc điểm khác trong hệ thống từ loại tiếng Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học và Sư phạm Ngữ văn: Bản luận án cung cấp phương pháp luận mẫu mực trong việc kết hợp lí thuyết kết trị của ngữ pháp chức năng với ngữ nghĩa học cấu trúc và ngữ nghĩa học tri nhận để giải quyết một lớp từ loại cụ thể.
- Giảng viên đại học giảng dạy các học phần Việt ngữ học: Chương 1 cung cấp tổng quan tài liệu phong phú và chuẩn xác về lịch sử ngữ nghĩa học và lí thuyết kết trị; Chương 2 và Chương 3 cung cấp ngữ liệu, bảng biểu và mô hình phục vụ trực tiếp cho các bài giảng về cú pháp học, ngữ pháp chức năng và ngữ nghĩa học tiếng Việt.
- Các nhà biên soạn từ điển học: Bảng 2.1 cùng phần miêu tả chi tiết nghĩa gốc và các hướng phát triển nghĩa trong Chương 2 và Chương 3 là cơ sở ngữ liệu tin cậy để biên soạn và chuẩn hóa định nghĩa cho các mục từ tính từ chỉ lượng.
- Giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Hệ thống tham tố và các mô hình kết trị giúp người học nắm bắt được cấu trúc kết hợp chuẩn mực của tính từ tiếng Việt khi tạo câu, tránh các lỗi sai về ngữ pháp và kết hợp từ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "kết trị của từ" như thế nào và phân biệt kết trị với "khả năng kết hợp" ra sao?
Căn cứ theo văn bản, luận án quan niệm: Kết trị là khả năng của từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp giúp hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ. Luận án phân biệt rõ:
- Kết trị: Là khả năng kết hợp ngữ nghĩa tiềm tàng ở tầng sâu, quy định trước chu cảnh cú pháp bằng cách đặt yêu cầu đối với các tham tố xung quanh để hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa và đồng thời đảm nhiệm một chức vụ cú pháp trong câu.
- Khả năng kết hợp: Là khả năng của từ trong việc tạo lập cụm từ chính phụ (theo quan hệ tuyến tính trước – sau, ví dụ phụ trước chỉ mức độ, phụ sau chỉ phạm vi). Các thành tố phụ trong cụm từ không nhất thiết phải hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa bản chất của từ trung tâm và không đảm nhận chức vụ ngữ pháp độc lập trong câu như các tham tố của kết trị.
2. Luận án dựa trên quan niệm nào về bản chất nghĩa của từ và phân chia cấu trúc nghĩa thành những thành phần nào?
Luận án tán thành nhóm quan niệm coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần (sự hiểu biết, tri thức và xúc cảm trong trí óc người bản ngữ khi tiếp xúc với hình thức âm thanh). Cấu trúc nghĩa của từ gồm bốn thành phần:
- Ý nghĩa biểu vật: Phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ ở dạng khái quát.
- Ý nghĩa biểu niệm: Tập hợp các nét nghĩa khu biệt, phản ánh mối liên hệ với khái niệm.
- Ý nghĩa biểu thái: Phản ánh thái độ, cảm xúc và sự đánh giá của người sử dụng.
- Ý nghĩa ngữ pháp: Ý nghĩa khái quát chung cho toàn bộ lớp từ, quy định khả năng kết hợp ngữ pháp.
3. Ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL của sự vật khi dùng với nghĩa gốc được phân chia thành những tiểu nhóm nào?
Trong Chương 2, luận án phân chia nhóm TTCĐĐVL của sự vật khi dùng với nghĩa gốc thành hai tiểu nhóm ngữ nghĩa chính:
- Tiểu nhóm tính từ định lượng sự vật;
- Tiểu nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật.
Toàn bộ danh sách từ được tập hợp tại Bảng 2.1 (trang 59) và cấu trúc nghĩa được mô hình hóa qua Hình 2.1 (trang 68).
4. Luận án vận dụng những khái niệm cơ bản nào của ngôn ngữ học tri nhận để giải thích sự phát triển ngữ nghĩa của tính từ?
Để giải quyết sự phát triển ngữ nghĩa trong Chương 3, luận án vận dụng các khái niệm nền tảng:
- Ý niệm và ý niệm hóa;
- Ẩn dụ ý niệm: Phóng chiếu từ miền nguồn sang miền đích (gồm ba dạng: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng);
- Hoán dụ ý niệm: Quá trình tri nhận giữa các thực thể trong cùng một miền ý niệm;
- Phạm trù và phạm trù hóa: Dựa trên mô hình tri nhận và điển mẫu;
- Miền, miền nguồn và miền đích: Cơ chế ánh xạ các đặc trưng từ miền nguồn vật thể cụ thể sang các miền đích trừu tượng.
5. Nguồn ngữ liệu thực tế của luận án được khảo sát từ những phạm vi nào?
Luận án khảo sát nguồn ngữ liệu thực tế từ 55 tài liệu thuộc hai phong cách ngôn ngữ có tần số xuất hiện nhóm tính từ cao và mang đặc thù phong cách rõ rệt:
- Văn bản khoa học (VBKH);
- Văn bản nghệ thuật (VBNT);
Cùng các dữ liệu ngôn ngữ được ghi nhận trực tiếp từ hoạt động giao tiếp tự nhiên hàng ngày của người Việt.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị. Bằng việc kết hợp lí thuyết kết trị trong ngữ pháp chức năng với ngữ nghĩa học cấu trúc và ngữ nghĩa học tri nhận, tác giả đã làm rõ cấu trúc ngữ nghĩa và mô hình kết trị của nhóm tính từ này ở nghĩa gốc, đồng thời chỉ ra quy luật biến đổi kết trị khi từ phát triển nghĩa chuyển. Dựa trên 55 nguồn ngữ liệu khoa học, nghệ thuật và giao tiếp thực tế, luận án khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa ngữ nghĩa và cú pháp, cung cấp những đóng góp có giá trị lý luận và ứng dụng thiết thực cho từ điển học cũng như công tác giảng dạy tiếng Việt.