Chương 1. Cơ sở lý thuyết Công việc chính của chương này sẽ tập trung trình bày khái quát những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài khảo sát về sự chuyển hoá vị từ tĩnh thành vị từ động trong tiếng Việt. Thảo luận về các khái niệm cơ bản: khái niệm vị từ, sự tình, việc phân loại các sự tình tiêu biểu, các tiêu chí phân biệt động/ tĩnh của vị từ và những ý kiến xung quanh vấn đề sự chuyển hoá từ tĩnh sang động của vị từ tiếng Việt. Trên cơ sở xác lập một khung lý thuyết cho phạm vi của đề tài, chúng tôi cũng sẽ trình bày quan điểm riêng của mình và đường hướng mà luận văn sẽ đi theo trong quá trình nghiên cứu.
Sự chuyển hoá từ tĩnh sang động của vị từ tiếng Việt trong các kết cấu có yếu tố chỉ hướng Xuất phát từ hệ thống phân loại vị từ tiếng Việt, những vấn đề chung về nhóm từ chỉ hướng trong tiếng Việt, chúng tôi miêu tả sự chuyển hoá vị từ tĩnh thành vị từ động trong kiểu tổ hợp có “vị từ tĩnh + từ chỉ hướng”, trong đó sự chuyển hoá tiếp tục được phân chia ở nhóm vị từ tư thế chuyển thành vị từ hành động và vị từ trạng thái thành vị từ quá trình. Sự chuyển hoá từ tĩnh sang động của vị từ tiếng Việt trong các kết cấu gây khiến - kết quả Từ việc điểm qua tình hình nghiên cứu vấn đề này trên thế giới và trong nước, chúng tôi phân tích vai trò của vị từ trung tâm trong kết cấu gây khiến – kết quả và lần lượt đi vào các trường hợp chuyến đổi ý nghĩa từ tĩnh sang động của các vị từ đó trên các phương diện biến đổi tính chất vật lí và biến đổi trạng thái, tính chất của đối tượng. Sự chuyển hóa từ tĩnh sang động của vị từ trong các kết cấu có yếu tố thời thể - tình thái Khảo sát khả năng hỗ trợ cho sự chuyển hóa từ tĩnh sang động của vị từ tiếng Việt của các phụ từ chỉ tốc độ, bất ngờ, các yếu tố chỉ thời-thể và các yếu tố tình thái. 12 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Các khái niệm tiền đề 1. Về khái niệm vị từ và các thuật ngữ liên quan 1. Các quan niệm về vị từ trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt Khái niệm vị từ (predicate) xuất hiện trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt từ những năm 60 của thế kỷ trước, trong tương quan với thể từ, được xem là hai phạm trù từ vựng - ngữ pháp quan trọng nằm trong phạm vi thực từ. Việc đề xuất hai phạm trù này, theo Nguyễn Văn Hiệp, xét về lai nguyên, là chịu ảnh hưởng của Nga ngữ học.
Trong tiếng Nga, một ngôn ngữ biến hình, thể từ phân biệt với vị từ theo khả năng biến đổi hình thái: thể từ là những từ biến đổi theo giống, số, cách (và như vậy sẽ gồm danh từ, tính từ, số từ); còn vị từ là những từ biến đổi theo ngôi, thời, thể, thức, dạng (chỉ gồm có động từ). Tiếng Việt không biến đổi hình thái, vì vậy sự phân biệt giữa thể từ và vị từ được điều chỉnh theo tiêu chí kết hợp (khả năng kết hợp được coi là một kiểu hình thức: hình thức phân tích tính, để phân biệt với các biến tố, vốn được coi là hình thức tổng hợp tính). Sự phân biệt này là như sau: thể từ là những từ khi làm vị ngữ trong câu phải có hệ từ là đứng trước, còn vị từ thì không. Theo đó, thể từ tiếng Việt gồm có danh từ, số từ, đại từ.
Còn vị từ sẽ gồm động từ và tính từ. Chủ trương này chỉ được các nhà từ pháp học tán thành khi nó nhấn mạnh vào khả năng làm vị ngữ trực tiếp của động từ và tính từ trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái. Tuy nhiên, từ loại không phải là những phạm trù hình thành chỉ trên chức vụ vị ngữ. Trong thực tế, quan niệm về vị từ giữa các tác giả cũng có nhiều điểm khác biệt.
a/ Đầu tiên là Lê Văn Lý, từ rất sớm (1948), bằng phương pháp mà ông gọi là “chứng tự”, đã nhận định rằng hai phạm trù này (động từ và tính từ) trong tiếng Việt gần nhau vì chúng có một danh sách các từ kiểm chứng khá gần nhau nhưng đồng thời chúng vẫn là hai lớp hạng khác nhau. Đây là khuynh hướng dựa vào hình thức ngữ pháp, chủ yếu là khả năng kết hợp của từ. b/ Cho đến khoảng thập niên 70-90 của thế kỉ trước, trên tinh thần của ngữ pháp cổ điển và cấu trúc luận, nhiều cuốn sách viết về ngữ pháp tiếng Việt đã được xuất bản trong đó chuyên luận “Động từ trong tiếng Việt” của Nguyễn Kim Thản (1977) có thể coi là công trình viết kĩ nhất về vị từ. Tác giả dựa vào những đặc trưng phân bố (“khả năng kết hợp”) để phân xuất từ thành các nhóm và xác định từng từ loại.
Điểm khác biệt của Nguyễn Kim Thản so với Lê Văn Lý là ông đã gọi tên nhóm 13 z từ loại gồm động từ và tính từ là vị từ, đối lập với thể từ và cùng thuộc nhóm thực từ. Đặc điểm của vị từ được tác giả bàn đến như sau: 1/ Về mặt ý nghĩa: chúng là những từ “biểu thị quá trình hay tính chất của sự vật”; 2/ Về mặt hình thức: vị từ là những từ có khả năng trực tiếp làm vị ngữ; trực tiếp đặt sau đều, chẳng, sẽ; có thể đặt trước những từ phủ định không, chưa để tạo thành câu nghi vấn và không có khả năng đặt trước những từ chỉ định như này, kia, ấy, nọ. Tiếp theo, ông lại chia vị từ làm động từ và tính từ vì cho rằng giữa chúng vẫn có những nét khu biệt tương đối cả về ý nghĩa lẫn hình thức [97, tr. Mặc dù khắc phục được nhược điểm chỉ dựa vào hình thức để nhận diện động từ và tính từ tiếng Việt của các tác giả trước đó, nhưng phương pháp phân loại vị từ trên của Nguyễn Kim Thản cũng được chính tác giả thừa nhận là gặp phải những khó khăn đáng kể, đó là ranh giới phân loại không phải lúc nào cũng rõ ràng, dứt khoát, cả về mặt ý nghĩa lẫn mặt hình thức.
Phương pháp đó về sau cũng đã bị Nguyễn Thị Quy phê phán trong cuốn Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Vị từ hành động). Tác giả này cho rằng các tiêu chí mà Nguyễn Kim Thản dùng để phân loại không hẳn đáng tin cậy khi có đến hàng trăm trường hợp ngoại lệ, không phù hợp với tiêu chí. Chẳng hạn, bà đã tìm ra 662 từ trong từ điển được chú là tính từ, vốn có khả năng kết hợp với hãy, đừng, chớ, là tiêu chí nhận diện của động từ nhưng hoàn toàn không thấy trong số các dẫn chứng về động từ mà Nguyễn Kim Thản nêu ra. Bên cạnh đó, khi phân chia nhóm động từ thành những nhóm nhỏ hơn đã xảy ra tình trạng lẫn lộn vị trí phân bố cũng như đặc điểm ngữ nghĩa của nhiều động từ.
Có những động từ có đặc trưng ngữ nghĩa giống nhau lại được xếp vào các nhóm khác nhau cũng như có những động từ rất khác nhau về ngữ nghĩa lại được xếp vào cùng một nhóm. Chẳng hạn, các động từ như ra, vào, lên, xuống vốn là những động từ hành động biểu thị những hành động cụ thể lại được xếp vào nhóm “động từ trừu tượng” bên cạnh các động từ như yêu đương, say đắm. Hay vin, la ó, ngoi cũng là những động từ hành động biểu thị những hành động cụ thể lại được xếp vào nhóm “động từ trạng thái” bên cạnh sệ, lắng, uất. Rõ ràng, những phân tích trên cho thấy cần thiết phải có sự đánh giá lại và bổ sung thêm các tiêu chí nhận diện và phân loại vị từ tiếng Việt.
c/ ước sang những năm 90 của thế kỉ 20, việc công bố cuốn Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo (1991) đã mang đến một luồng gió mới trong nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, trong đó có quan niệm về vấn đề vị từ. Trên tinh thần phê phán cái nhìn châu Âu đối với tiếng Việt, Cao Xuân Hạo đã bày tỏ quan điểm của mình về hai khái niệm thường được gọi là động từ và tính từ trong tiếng 14 z Việt. Chỉ riêng về tên gọi, tác giả giải thích rằng hai thuật ngữ này được dùng để dịch hai từ verbe và adjectif của tiếng Pháp, vốn bắt nguồn từ hai thuật ngữ của ngữ pháp La Tinh cổ đại verbum và (nomen) adjectivum. Hai thuật ngữ được dịch ra bằng những từ La Tinh sẵn có hoặc mới được cấu tạo: λογος „lời‟ „từ‟ và ρημα „thuyết‟ được dịch bằng verbum „lời nói‟, hay bằng praedicatum „cái được nói ra‟; ονομα „tên‟, „danh từ‟, được dịch thành nomen „tên‟, „danh từ‟, ονομα’ επιθητον „tên phụ gia‟ được dịch thành nomen adjectivum „tên đặt bên cạnh‟, „danh từ phụ gia‟.
Đến khi được mượn dùng trong các thứ tiếng Âu châu, những từ ngữ La tinh nói trên vẫn giữ nguyên cái nghĩa gốc tương ứng với nghĩa của các từ ngữ Hi Lạp: Verbe có nghĩa là „lời‟, là „điều được nói ra‟, là „vị từ‟ (trong đó vị có nghĩa là „nói‟), chứ không phải là „một cái gì động‟; adjectif bao giờ cũng chỉ là một cách nói tắt của ngữ đoạn cũ nom adjectif có nghĩa là „danh từ phụ gia‟ chứ không chứa đựng chút nào cái ý “tĩnh” hay “tính chất” (đối lập với “động” và “trạng thái”). Tuy nhiên, trong giới Việt ngữ học, hầu như mọi người, một mặt đều nghĩ rằng động từ và tính từ hoàn toàn tương ứng với verbe và adjectif, và mặt khác, cũng một phần do đó mà nghĩ rằng sự phân chia từ loại này là phổ quát. Sự phân biệt giữa verbe và adjectif là một trong những nét đặc trưng của tiếng Âu châu và một số ngôn ngữ khác có hình thái học, chứ không phải như sự phân biệt hầu như phổ quát giữa danh từ với vị từ. Sau khi đối chiếu các thuật ngữ hữu quan, Cao Xuân Hạo cho rằng, “lịch sử du nhập các thuật ngữ này vào ngữ pháp tiếng Việt là một loạt những sự ngộ nhận kết chuỗi và kéo dài vô tận”.
Những vị từ của tiếng Việt bị coi là tính từ không có chút nào giống với các adjectifs, vốn là những „danh từ phụ gia‟ và do đó không bao giờ có thể làm vị ngữ. Tác giả đã chứng minh các “tính từ” của tiếng Việt hoàn toàn giống với các “động từ” ở chức năng tự mình làm vị ngữ, hay làm trung tâm vị ngữ.