đặt vấn đề của Phan Ngọc, giao thoa không chỉ diễn ra ở một cá nhân mà còn có thể phổ biến trong cộng đồng. Trong trường hợp thứ hai, nó 14 z sẽ để lại dấu vết trong ngôn ngữ khi có sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ. Các nhà nghiên cứu đối chiếu thường giới hạn phạm vi giao thoa từ ngôn ngữ này tới ngôn ngữ khác trong quá trình dạy và học ngoại ngữ ở các bình diện lời nói và chỉ theo chiều từ tiếng mẹ đẻ sang ngoại ngữ (theo cách hiểu của Lado - 1957, chuyển di thường mang tính một chiều, ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ tới ngoại ngữ). Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất ý kiến về sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đối với quá trình học ngoại ngữ.
Tuy nhiên, việc thừa nhận tác dụng của việc ứng dụng kết quả nghiên cứu đối chiếu vào lĩnh vực dạy học ngoại ngữ vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi. Chuyển di ngôn ngữ nói chung và chuyển di tiêu cực là hiện tượng khách quan trong quá trình học ngoại ngữ. Khi nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ theo hướng ứng dụng vào quá trình dạy tiếng, có những nhà nghiên cứu nhấn mạnh thái quá tới chuyển di tiêu cực và cho rằng quá trình học ngoại ngữ cũng chính là quá trình vượt qua những khác biệt giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ cần học. Quan điểm này được phát triển mạnh mẽ nhất ở các công trình nghiên cứu của Banathy, Trager &Waddle (1966): “Những thay đổi diễn ra trong hành vi ngôn ngữ của người học ngoại ngữ có thể đồng nhất với những khác biệt giữa cấu trúc tiếng mẹ đẻ và văn hóa của người học với cấu trúc của ngôn ngữ đích và văn hóa mà người đó cần học.
Những khác biệt giữa hai ngôn ngữ có thể được xác định bằng phân tích đối chiếu ngôn ngữ. Cái mà người học cần học đồng nhất với tổng số những khác biệt được xác định bằng phân tích đối chiếu ngôn ngữ” (Dẫn theo Bùi Mạnh Hùng, [16, tr. Những người theo quan điểm này tin rằng nguyên nhân cơ bản, thậm chí gần như là duy nhất của những khó khăn và lỗi trong khi học ngoại ngữ là ảnh hưởng tiêu cực của những thói quen được hình thành trong quá trình nói tiếng mẹ đẻ. Quan điểm này được cổ vũ bởi một phương pháp học 15 z ngoại ngữ quen thuộc: Phương pháp ngữ pháp dịch - kiến thức về ngoại ngữ được giảng dạy thông qua việc giải thích bằng tiếng mẹ đẻ và dịch sang tiếng mẹ đẻ.
Đây là phương pháp dạy học ngoại ngữ lâu đời nhất từng được dùng từ thời cổ đại ở Hi Lạp, La Mã, Ấn Độ, Trung Quốc và phổ biến trong hàng nghìn năm qua ở khắp nơi trên thế giới. Nhiều người tin rằng phương pháp dạy ngoại ngữ này có thể đồng thời vừa giúp người học lĩnh hội kiến thức ngôn ngữ của tiếng nước ngoài, vừa có thể hiểu rõ hơn ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ, nhờ đó nói và viết tiếng mẹ đẻ tốt hơn. Phương pháp dạy học này rõ ràng có phần phóng đại ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ tới quá trình học ngoại ngữ. Tuy không phủ nhận ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, nhưng nhiều người tỏ ra hoài nghi vai trò của chuyển di đối với quá trình học ngoại ngữ.
Sự hoài nghi này tăng lên khi lý thuyết hành vi trong tâm lý dạy học suy yếu và bị thay thế bởi tâm lý học tri nhận. Lý thuyết kích thích - phản ứng của tâm lý học hành vi, cơ sở của lý thuyết chuyển di, quan niệm coi ngôn ngữ như một cấu trúc - thói quen, theo đó người học mang những thói quen từ tiếng mẹ đẻ vào ngôn ngữ khác bị phủ nhận hoàn toàn. Pit Corder là một trong những nhà ngôn ngữ học mặc dù vẫn thừa nhận sự từ tiếng mẹ đẻ tới quá trình dạy tiếng, nhưng hoài nghi về tầm quan trọng của ảnh hưởng này. Pit Corder phủ nhận hiện tượng giao thoa ngôn ngữ và cho rằng không thể đánh đồng những khó khăn trong quá trình học ngoại ngữ với vấn đề giao thoa.
Thay cho sự đối lập giữa chuyển di tích cực (mang tính hỗ trợ) và chuyển di tiêu cực (gây nhiễu), ông đề nghị thế lưỡng phân giữa hỗ trợ và tác động zero của ngôn ngữ này lên ngôn ngữ khác. Theo ông, khi tiếng mẹ đẻ giống với ngoại ngữ thì sự giống nhau sẽ hỗ trợ quá trình học, nhưng khi hai ngôn ngữ khác nhau thì không xuất hiện một tác động nào. Theo Bùi Mạnh Hùng [16, tr. 61], học ngoại ngữ là một quá trình tạo thành ở người học một hệ thống ngôn ngữ động, chính xác hơn là một chuỗi 16 z các hệ thống ngôn ngữ kế tiếp nhau mà W.
Ngôn ngữ tiệm cận là ngôn ngữ mà người học thực sự sử dụng, luôn biến động tiệm cận dần tới ngôn ngữ cần học, nhưng gần như không bao giờ trùng khớp hoàn toàn với ngôn ngữ đích này. Ngôn ngữ tiệm cận luôn bao gồm trong nó ba phần: một phần tiếng mẹ đẻ của người học (ngôn ngữ nguồn), một phần ngôn ngữ cần học (ngôn ngữ đích), một phần là lỗi giao thoa - không thuộc cả ngôn ngữ nguồn lẫn ngôn ngữ đích. Trong ngôn ngữ tiệm cận, phần ngôn ngữ cần học sẽ lớn dần lên và phần lỗi giao thoa sẽ nhỏ dần đi tùy thuộc vào quá trình lĩnh hội kiến thức và tiến bộ của người học. Để thấy được khả năng và hình thức vận dụng kết quả nghiên cứu đối chiếu vào quá trình dạy học ngoại ngữ, cần tìm hiểu tất cả những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành nên ngôn ngữ tiệm cận này: ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, độ tuổi, trình độ thành thạo một ngôn ngữ trước đó, trình độ văn hóa, môi trường học, động cơ học, năng lực và sự nhiệt tình của giáo viên, chất lượng của chương trình và sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy và đánh giá.
Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ (tiếng Pháp) - một nhân tố thuộc về cấu trúc ngôn ngữ- tới quá trình thụ đắc tiếng Việt của học sinh nói tiếng Pháp bản ngữ. Lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai 1. Khái niệm thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là quá trình tiếp nhận, nắm vững một ngôn ngữ nào đó ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ một cách có ý thức hoặc vô thức trong môi trường tự nhiên hoặc có sự hướng dẫn của người dạy (Eliss, 1985). Thụ đắc ngôn ngữ thứ hai có hai loại: một là thụ đắc qua giao tiếp khẩu ngữ trực tiếp 17 z với người bản ngữ, hai là thụ đắc ngôn ngữ qua chương trình giảng dạy, tức là thông qua sự truyền đạt của giáo viên.
Các lý luận ảnh hưởng tới lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Từ những năm 70 của thế kỉ XX, nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đã là một môn khoa học độc lập, với hệ thống lý luận được xây dựng dựa trên mục tiêu là miêu tả và giải thích đặc trưng của quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, với nhiều phương pháp và dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Những nhà ngôn ngữ học có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai như Avram Noam Chomsky, Stephen D.Fries, Robert Lado, John H. Schumann, Swain đã áp dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau: có người theo lối nghiên cứu bằng sự miêu tả, có người áp dụng phương pháp thực nghiệm, cũng có người theo hướng áp dụng giả thuyết để tiến hành nghiên cứu. Trong số các công trình nghiên cứu, có thể kể tới ba lý luận đã tạo ra những ảnh hưởng rất lớn đến lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
Trước tiên có thể kể tới Lý luận giám sát và điều khiển được nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Mĩ Stephen D. Krashen đề ra từ những năm 1970. Trong lý luận này, Krashen kết luận rằng con người có khả năng học ngôn ngữ bẩm sinh và không có khác biệt đáng kể nào giữa cách chúng ta học tiếng mẹ đẻ và cách chúng ta học ngôn ngữ thứ hai. Krashen giải thích cách người trưởng thành học ngoại ngữ thông qua nhóm 5 giả thuyết sau: giả thuyết thụ đắc trực tiếp/ học gián tiếp (acquisition/ learning), giả thuyết mô hình kiểm soát (monitor model), giả thuyết trình tự tự nhiên (natural order), giả thuyết đầu vào (input hypothesis), giả thuyết bộ lọc cảm xúc (affective filter).
Krashen cho rằng việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đề cập đến hai quá trình khác nhau là quá trình thụ đắc trực tiếp và quá trình học tập gián tiếp. i)“Thụ đắc” chỉ việc người học thông qua thực tiễn giao tiếp với thế giới bên ngoài, tiếp 18 z nhận ngôn ngữ một cách vô thức, và cũng trong hoàn cảnh vô thức đó, sử dụng ngôn ngữ một cách thuần thục, chính xác. Còn “học tập” là chỉ quá trình nghiên cứu có ý thức và cách dùng lý trí để lý giải một ngôn ngữ nào đó. Lý thuyết này của Krashen cho rằng quá trình thụ đắc ngôn ngữ quan trọng hơn quá trình học tập: người mà thông qua quá trình “thụ đắc” để nắm vững một ngôn ngữ nào đó thì có thể dùng ngôn ngữ đó một cách thoải mái, tự tin, lưu loát vận dụng vào giao tiếp; trong khi người mà thông qua “học tập” để nắm vững một loại ngôn ngữ thì chỉ vận dụng những quy tắc của ngôn ngữ đó vào việc tiến hành giám sát ngôn ngữ.
Những người thụ đắc ngôn ngữ thông qua “học tập” luôn có khuynh hướng điều chỉnh các hình thức diễn đạt một cách chính xác bằng cách kiểm soát và sửa lỗi đầu ra tức thời bên trong trước khi diễn đạt ra bên ngoài. ii) Giả thuyết trình tự tự nhiên cho rằng quy tắc của ngôn ngữ thứ hai là thụ đắc dựa vào những tuần tự có thể giám sát được, việc nắm vững một vài quy tắc cần yếu luôn được ưu tiên đặt trước các quy tắc thứ yếu. Kiểu loại trình tự tự nhiên này có tính phổ biến, không có liên quan gì tới trình tự dạy học trên lớp. iii) Giả thuyết đầu vào là nội dung cốt lõi của lý luận giám sát và điều khiển, trong đó Krashen lý giải rằng người học có thể lĩnh hội những kiến thức ngôn ngữ thứ hai với điều kiện là kiến thức đầu vào đó có thể lý giải được, và chỉ khi người học có cơ hội tiếp xúc với những kiến thức đầu vào có thể lý giải này thì quá trình thụ đắc ngôn ngữ mới có được những tác dụng tích cực.