Chương 1: Co sé lý luận và thực tiễn Chương 2: Giao tiếp song ngữ trong lĩnh vực gia đình, hàng xóm và kinh doanh của người Khmer tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Chương 3: Giao tiếp song ngữ trong lĩnh vực hành chính và giáo dục của người Khmer tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Chương L CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Một số vấn đề cơ bản của hiện tượng song ngữ.
Khái niệm song ngữ xã hội Ngôn ngữ là một trong những yếu tố làm cho các quốc gia, dân tộc trên thể giới sát lại gần nhau hơn. Xã hội ngày càng phát triển, càng hiện đại với sự ra đời của Internet thì con người càng có cơ hội giao lưu, ếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ của mình. Chính vì thế mà ngoài khái niệm tiếng mẹ đẻ, các nhà ngôn ngữ học còn cho ra đời khái niệm song ngữ. Song ngữ, có thể hiểu là hiện tượng một người biết và sử dụng hai hoặc.
trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp. Tức là ngoài tiếng mẹ đẻ thì người đó còn biết thêm một ngôn ngữ khác. Ví dụ, người Khmer ở Đồng bằng sông. Cửu Long nói chung và ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nói riêng, ngoài biết tiếng mẹ đẻ của mình là tiếng Khmer thì họ còn biết thêm tiếng Việt và thâm chí là cả tiếng Anh.
Như vậy, nảy sinh ra hai khái niệm là hiện tượng song ngữ và người song ngữ. Khi nói về song ngữ, người ta chỉ tập trung vào các cá nhân song ngữ với mục đích là làm sao để một người nào đó có thể học và sử dụng một ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ. Về sau, dưới sự phát triển của khoa học ngôn. ngữ, sự ra đời của chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội, khái niệm song ngữ được mở rộng và đặt ra một số vấn đẻ sau: “Thứ nhất, thuật ngữ đa ngữ (multilingualism) xuất hiện khi xu hướng người biết không chỉ hai ngôn ngừ ngày càng tăng.
Dù vậy, theo thói quen, người ta sử dụng thuật ngữ song ngữ hoặc thuật ngữ đa ngữ cho cùng hiện tượng vừa nêu. Như vậy, sử dụng song ngữ cũng chính là sử dụng đa ngữ. 10 (chứ không phải theo nghĩa đen “song” là “hai”) và khi sử dụng đa ngữ cũng. chính là song ngữ (bilingualism).
“Thứ hai, song ngữ không chỉ tồn tại riêng lẻ ở một cá nhân. Chính vì thé, khi nói đến song ngữ là nhằm đến song ngữ trong một cộng đồng. Ở đó, các cá nhân song ngữ sử dụng những ngôn ngữ mà họ biết để trao đổi thông tin, giao tiếp với nhau, các ngôn ngữ trong cộng đồng có thể tương tác với nhau, tạo nên hiện tượng song ngữ xã hội. Bởi thế, song ngữ xã hội có thể hiểu “là hiện ượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ của người song ngữ trong xã hội song ngit” (17, tr.
Tức là hai hay trên hai ngôn ngữ cùng hành chức trong một cộng đồng người. Cộng đồng song ngữ có thẻ là một nhóm người, một quốc gia, một khu vực hoặc thậm chí là cả thế giới. Ví dụ, cộng đồng song ngữ chủ yếu ở tỉnh An Giang hiện nay gồm: vùng cư dân có. người và người Khmer cộng cư (ví dụ như thị trắn Óc Eo, thi tan Tri Tôn, thị trắn Nhà Bàng và xã Xuân Tô huyện Tịnh Biên) thì có trạng thái song ngữ.
ếng Việt và tiếng Khmer. “Thứ ba, yếu tố quan trọng nhất liên quan đến song ngữ xã hội là nhất định phải có người song ngữ. Có thể lêu người song ngữ là người có khả năng sử dụng luân phiên hai hoặc trên hai ngôn ngữ, “là nắm mớt cách cớ hiệu quả hai hoặc trên hai ngôn ngữ” [31, tr.A (1996), song ngữ là phản ánh sự biết cách nói năng trong giao tiếp nhờ vào phương tiện của hơn một ngôn ngữ. Như vậy, thế nào là “biết” - năng lực song ngữ của người song ngữ? Hiện tại, có hai quan niệm như sau: Hà năng lực sử dụng ngôn ngữ của người song ngữ thành thạo đến mức họ có thể sử dụng hai ngôn ngữ thuần thục như nhau, nghĩa là họ có thể tư duy mà không cần phải qua khâu phiên dịch, kiểu người song ngữ này gọi là người song ngữ hoàn toàn hay người song ngữ đầy đủ.
Tuy nhiên, trên thực tế, những người thuộc loại song ngữ hoàn toàn rất hiểm bởi việc nắm vững. hoàn toàn hai ngôn ngữ như nhau là rất ít gặp. Kể cả người đơn ngữ (ngôn. ngữ thứ nhất đồng thời là tiếng mẹ đẻ) cũng chưa chắc nắm vững hoàn hảo.
toàn bộ vốn từ với mọi phong cách giao tiếp. Theo Gai Xingzhi (1997), chỉ có. những trẻ em sinh ra ở môi trường song ngữ thì mới có hi vọng là người song. ngữ hoàn toàn.
Vì vậy, có thể coi đây là song ngữ lí tưởng và những song ngữ thuộc loại này là song ngữ lí tưởng. 2/ Ngoà lễu người song ngữ hoàn toàn thì bên cạnh đó còn có kiểu người song ngữ không hoàn toàn hay người song ngữ bộ phận. Họ là những. ig mẹ đẻ có thể biết thêm ngôn ngữ khác ở mức độ đủ để lột lĩnh vực nào đó mà họ quan tâm.
Ví dụ, người nghiên cứu ngôn ngữ có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp xung quanh nội dung chuyên môn về ngôn ngữ mà họ nghiên cứu. Đây là kiểu song ngữ phổ biến ở các ia da dân tộc, đa ngôn ngữ trên thế giớ. Với cách hiểu nay, việc nghiên cứu song ngữ cũng như những vấn để liên quan đến song ngữ được mở rộng. hơn, đặt ra nhiều vấn đề hơn.
Không dừng lại ở đó, liên quan đến người song ngữ còn có những vấn để khác như: có những người song ngữ vừa có khả năng giao tiếp nói vừa có khả năng giao tiếp viết; ngược lại có những người song ngữ chỉ có khả năng. giao tiếp nói, cong khả năng giao p viết thì hạn chế hoặc hoàn toàn “mù chữ”. Ví dụ, ở tinh An 1g, có một số người Việt gốc Khmer chỉ có khả năng đọc văn bản tiếng Việt nhưng không đọc được văn bản tiếng Khmer hoặc đọc được ở mức độ khác nhau. “Thứ tư, khi nói đến hiện tượng song ngữ, là nói đến một ngôn ngữ gọi là “ngôn ngữ thứ nhất” và nói đến ngôn ngữ thứ nhất, người ta sữ nghĩ ngay.
thế nào là tiếng mẹ đẻ? Hiểu đơn giản, tiếng mẹ đẻ là thứ tiếng của cha mẹ mình, của dân tộc mình. Tuy nhiên, trên thực tế lại không đơn giản như vậy. Ví dụ, một đôi vợ chồng người 12 sinh con ở Trung Quốc và đứa trẻ đó ngay từ khi sinh đã học nói tiếng Trung. Quốc, lớn lên chỉ biết sử dụng tiếng Trung Quốc để giao tiếp mà không hề biết tiếng Việt thì tiếng mẹ đẻ của nó là tiếng Việt hay tiếng Trung Quốc? Một ví dụ khác, một người đàn ông Trung Quốc kết hôn với người phụ nữ là người dân tộc Khmer ở Việt Nam và đứa trẻ sinh ra chỉ biết nói tiếng Việt (không biết nói tiếng mẹ đẻ của cha mẹ là tiếng Trung Quốc và tiếng Khmer).
Sau đó, cả gia đình chuyển sang sống ở Anh và dẫn quên hãn tiếng Việt. Vay, tiếng mẹ đẻ của đứa trẻ này là tiếng Trung Quốc, tiếng Khmer, tiếng Việt hay tiếng Anh? Các ví dụ trên cho ta thấy tính phức tạp của khái niệm tiếng mẹ đẻ. Chính vì thế, hiện nay có những quan niệm khác nhau vẻ tiếng mẹ đẻ. ~ “Tiếng mẹ đẻ” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
“Theo nghĩa rộng thì bắt kì thứ tiếng nào mà không có truyền thống chữ viết thì đều được coi máy móc là phương ngữ của một ngôn ngữ địa phương. và đứa trẻ nói thứ ngôn ngữ địa phương nhóm nhỏ chưa có chữ viết đó lập tức sẽ được coi là tiếng mẹ đẻ của nó (cho dù đứa trẻ ấy không biết nhiều lắm về ngôn ngữ này). ‘Theo nghia hep, tiếng mẹ đẻ là tiếng nói dùng chung trong gia đình (bắt kỳ trình độ phát triển của thứ tiếng nói ấy như thể nào). Đây là cách nhìn nÏ tiếng mẹ đẻ từ tình hình ngôn ngữ ở Án Độ - một quốc gia có tới 200 ngôn ngữ được xếp loại (còn thực tế có khoảng 1.652 ngôn ngữ và phương ngữ) An Độ là quốc gia có lập trường đa nguyên về giáo dục song ngữ, vì thế cần.
phải có một khái niệm mang tính tác nghiệp về tiếng mẹ dé (31, tr. 25] ~ Từ một cách nhìn nhận khác, Uriel Weinreich (1953) cho rằng, nhóm người nói tiếng mẹ đẻ là nhóm người trong điều kiện đa ngữ chỉ học được một trong các ngôn ngữ là ngôn ngữ thứ nhất. - Theo André Marinet (1967), nếu chỉ lấy cảm giác để gán cho một ngôn ngữ nào đó là ngôn ngữ thứ nhất thì việc làm đó không hợp chuẩn, vì l3 cảm giác này không ồn định theo thời gian. Có thể, khi người ta còn bé thì cho ngôn ngữ này là ngôn ngữ thứ nhất, nhưng khi lớn lên, do hàng loạt các nhân tố xã hội trong đó chủ yếu là môi trường ngôn ngữ, người ta lại có thể cho ngôn ngữ khác là ngôn ngữ thứ nhất.
Từ đó, André Martinet đi đến kết luận, cần kiên quyết gạt bỏ quan điểm cho rằng, khái niệm tiếng mẹ đẻ được. bảo tồn ở vị trí thống trị của một con người từ thời ấu thơ cho đến lúc chết. - Một số nhà nghiên cứu khác, như Le Page (1992) chẳng hạn, lại cho rằng, trong xã hội đa ngữ mà một người từ lúc biết đến hai hoặc hơn hai ngôn. ngữ thì khái niệm tiếng mẹ đẻ chỉ có giá trị tương đối, không có định.
Bở thứ nhất là, việc xác định tiếng mẹ đẻ sẽ đựa trên cảm giác của người nói; thứ. hai là, coi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất thì tiếng mẹ đẻ phải được học trước tiên so với các tiếng khác. ~ Nhiều khi, khái niệm 1g mẹ đẻ còn phụ thuộc vào nhóm tộc người nhất định, tức là liên quan đến ý thức tộc người, đó là ý thức tự xưng, tự nhận dân tộc, và cũng vậy, đó là ý thức tự nhận tiếng mẹ đẻ (Dẫn theo [31, tr. Một hiện tượng, một khái niệm tưởng chừng như đơn giản, nhưng ở trong một xã hội song ngữ, sự di chuyển, hội nhập, theo thời gian, việc xác định tiếng mẹ đẻ cho thế hệ tiếp theo là không hề đơn.
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) khi xem xét vấn đề giáo. đục bằng bản ngữ. đưa ra khái niệm về tiếng mẹ đẻ như sau: “Tu ig me dé ld ngôn ngữ mà con người học được trong những năm đầu đời của mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyển thống tự.