mở đầu một cách tiếp cận trong đối chiếu tiếng Nga với tiếng mẹ đẻ thông qua những thủ pháp chuyển dịch những đơn vị thành ngữ Nga ra tiếng Việt dưới góc độ ngữ nghĩa và tu từ - biểu cảm. Khác với những tác giả người Nga chẳng hạn như M. Monona (1972) trong công trình nghiên cứu: Ovepru no ð0006ù (ÙDd36010eH [83] có xu hướng khảo sát cấu trúc thành ngữ ở những đặc trưng hình thức của chúng, Trương Đông San trong luận án của mình và trong: bai báo O cnocobax 00J0030801H41 (paseo.loeu3sMmoe 6 pyceckom s301Ke (1972) [105] đã khảo sát thành ngữ Nga trong cách nhìn của người Việt, xem xét chúng chu yêu ở bình diện nội dung. Trong luận án của mình[I04] khi khảo sát các phương thức chuyển dịch thành ngữ Nga ra tiếng Việt, Trương Đông San đưa ra 9 phương thức cấu tạo ngữ nghĩa của đoạn thành ngữ trong tiếng Nga và tiếng Viet.
Hư hoá ngữ nghĩa (1cceMalri»aiul). An dụ hoá (MeradopHsaittst). Ti dụ hoá (oốpa3Hoe cpapiielne). Ngoa dụ và nói giảm ( mep6omt HW Jfrotn).Uyển ngữ hoá (2pdeMI3alts1).
Hoan dụ hoá (M€IOHHMI3aIUI)8. Phép cải dụng (CHIICKJIOXHCCKOC Hepcoempicicine). Phương thức mô ta ( OHCATCJIBHOC IiepeocMIICJIe1ie)[1O4: 4 J. Những trường hợp trên day được tác gia{ 104] khảo sát có đôi chiêu trên cơ sởý nghĩa và hình tượng cấu tric ngữ nghĩa.
Nguyễn ngọc Bội (1974) trong bài báo Pdi chiến thành ngữ Nga -\ lớt ve mat net nghĩa và các phuong thức chuyển dich [2] cũng dé ra những phương thức tương tự chuyển dich thành ngữ tiếng Nga ra tiêng Việt dựa trên cơ sở cấu trúc - ngữ nghĩa nội tại của chúng,.tuy nhiên lại không đề cập đến sắc thái tu từ biểu cảm của thành ngữ. Ngyễn Văn Mệnh (1987) trong luận án Phó tiến sĩ Vatersuchungen der semantisch < syatakuschen Strucuu der entgegengesetzten, paralleken wid komparativen phraseologismen in der Vietnamesischen Gegenwartssprache [130 | đã dựa tiên cơ sở cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng. Việt để phân loại chúng thành những mo hình cú pháp khác nhau , phân tích các yếu tố ngữ nghĩa nội tại của thành ngữ Việt, từ đó đưa ra những phương thức chuyển dịch các đơn vị thành ngữ Việt ra tiếng Đức khả dĩ giúp cho người bản ngữ tiếng Đức quan tâm đến tiếng Việt có thể tiếp cận, nhận biết, khảo sát và sử dụng được thành ngữ Việt. Nam 1995 Phùng Trọng Toản trong luận an phó tiên sĩ khoa học giáo duc JÍ/0000041b000 - KỊ:HIHYĐHOM CHCMHHHKAG ĐẸCCKUX (bpazeo.veusMmoe 6 CONMOCINGB ACH CC BbCINHAMCKUM Œ UCT OOVUCHIU PYCCKOMY S3DIKV Kan unocmpannoay [108] đã để cập đến đặc thù van hoá - dan tộc của thành ngữ Nga có đối chiếu với tiếng Việt.
Nhằm mục đích dạy tiếng Nga như một ngoại ngữ trong luận án của mình tác gia khảo sát một số cấu trúc - ngữ nghĩa, những thành tố văn hoá dân tộc của ngữ nghĩa và đặc thù văn hoá dân tộc ở bình diện tu từ [108;12], tiếp đó tác giá đưa ra những nguyên tắc xây dựng một giáo trình hướng dẫn về thành ngữ Nga và thành ngữ Việt khả di áp dụng được vào quá trình học tiếng Nga như một ngoại ngữ cho sinh viên chuyên ngữ Việt Nam [108; 24 ]. Nhìn chung cho đến nay ở nước ta trong lĩnh vực của phân ngành đối chiếu thành ngữ hai ngôn ngữ( tiếng nước ngoài đối chiếu với tiếng Việt) xu huớng phổ biến nổi trội trong hai thập ky nay là việc khảo sát đối chiếu các đơn vị thành ngữ hai ngôn ngữ được tiên hành chủ yêu dựa trên bình dién cau trúc ngôn ngữ. O những công trình dẫn trên xu hướng nghiên cứu dựa vào cấu trúc nội tại của thành ngữ được thể hiện rõ như luận điểm xuất phát của việc khảo sát đối chiếu; mac dù có. tác giả cũng dé cập lướt qua đến vai trò của ngữ cảnh, nhưng khi triển khai để tìm phương thức chuyển dịch ra tiếng Việt lại chí hạn chế trong khuôn khổ khái niệm nội tại của ngôn ngữ được mở rộng ở bình diện tu từ biểu cảm và khả nang kết hợp từ vựng [104;10] hoac chi bó hẹp trong việc sử dụng thành ngữ ở các phong cách tu từ cla lời nói [108:23].
Giống như các tác gia đi trước, trong những năm 1981- 1988 tác giả luận án này cũng đã có nhưp bài báo khảo sát đối chiếu thành ngữ Nga - Việt theo xu hướng dựa chủ yếu vào cứu trúc ngữ nghia của thành n git [24. nhưng từ nam 1989 chúng tôi đã bat đầu đi vào hướng khảo sát, đối chiếu thành ngữ hai thứ tiếng trên bình diện giao tiếp có chú ý thích đáng đến những đặc thù văn hoá dan tộc và trí thức nền của người bản ngữ [26,27,28,29]. Những luận điểm cơ bản trong doi chiếu, thành ngữ hai ngôn gon ngữ trên bình diện giao tiếp: Tiếp thu thành qua của những người di trước trong lĩnh vực ngôn ngữ học đối chiếu nói chung và đối chiếu thành ngữ Nga - Việt nói riêng. trên cơ sở những két qua đã làm: được trong hơn 10 năm qua trong luận án này chúng tôi tiến hành khảo sát đối chiêu thành ngữ hai ngôn ngữ Nga - Việt ở bình diện giao tiếp xuất phát từ những luận điểm cơ bản sau đây: 1.
trong đó có thành ngữ. là bộ phận cấu thành của nền văn hoá dân toc. gan bó khang khít với nó. Nghiên cứu đối chiêu thành ngữ ga hai ngôn ngữ ở bình điện giao tiếp trước hệt là nghiên cứu môi quan hệ giữa ngôn ngữ với những nhân tố văn hoá- xã hội ngoài ngôn ngữ tác động đến liên chủ thể nói khi sử dụng ngôn ngữ (ở đây là thành ngữ) trong hoạt dong giao tiếp ở cấp độ phát ngôn.
Điều này đòi hỏi khí đối chiếu ngôn ngữ trước hết phải đối chiếu hai nén van hod, những bối cảnh ngôn ngữ mà trong đó còn lưu giữ trong tiểm thức người bản ngữ những nhân tố con người và xã hội. và khác nhau về cứu tric và loạt động. Trong luận án tác giả không, tách rời việc khảo sát sự hoạt động của thành ngữ trong giao tiếp với việc khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của chúng. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì nghĩa vi fiểm năng tầng trữ trong nghĩa khởi nguyên của thành ngữ (cấu trúc ngữ nghĩa) luôn là đầu mối của sự liên tưởng đến hiện thực khách quan thường trực trong ký ức của chủ thể nói.
từ đó thông qua nghĩa liên hội và sự lựa chọn của chủ thể nói mà có øgh¿ thc tai được dùng trong hoạt động giao tiếp ở cấp độ phát ngôn. Có thể nói ngắn gọn là: cần dựa vào nghĩa vị tiém nang để giải md cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ. thì mới hiểu đúng, sử dụng đúng nghĩa thực tại của thành ngữ trong cảnh huống giao tiếp thích hợp. Không đi sâu phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ như tổ chức nội tại trong hệ thông ngôn ngữ, chúng tôi chủ trương dựa vào cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ như một cái nền bao chứa các yếu tố tiểm ẩn không hiện diện trong hình thức cấu trúc của nó.
Điều này đòi hỏi phải giải mã trong cách nhìn của ngữ dụng học tương phản khi diễn ra hoạt động giao tiệp của các chủ thé sử dụng thành ngữ. Boi vay, chúng tôi quan niệm trong hệ thong cấu trúc ngôn ngữ trước hét thành ngữ thuộc về ký hiệu ung gian giữa các ky hiéu cua cap độ từ và các ký hiện của cap độ cau. Về mặt nội dung và ý nghĩa thành ngữ có giá trị chức năng như một từ có thể thay thế cho từ về phương điện định danh. Về mat hình thức (tổ chức ngữ pháp) thành ngữ có cấu tạo như một tổ hợp từ.
Về vấn đề này Nguyễn Thiện Giáp đã đúng khi viết: “Thue ra nói đến thành ngữ là nói tới don vi định danh hình tượng. Can dua vào tính hình tượng để xác định các thành ngữ” [17:30. Doan in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh - NXHỊ. Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đặc trưng có những đặc điểm khu biệt với tất cả những, đơn vị ngôn ngữ khác, và nhờ day nó trở thành một hiện tượng, khá tiêu biểu trong nghiên cứu ngữ dụng học nói chung và ngữ dụng học tương phản nói riêng vốn liên quan mật thiệt đến hoạt động giao tiếp.
Thong thường một đơn vị thành ngữ có hai kiểu ý nghĩa: I.Nghĩa khởi nguyên (nghĩa trực tiếp) của thành ngữ; 2. Nghĩa thực tại của thành ngữ (ý nghĩa đặc ngữ). Nghĩa thực tại của thành ngữ được nhận biệt từ nghĩa khởi nguyên của nó (ý nghĩa toát ra từ các yếu tố cấu tạo thành ngữ có ga giá trị định danh đơn thuần. thông báo các sự kiện kiểm soát được).
Nghĩa thực tại của thành ngữ thông thường không phái là số cong đơn thuần ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo thành ngữ. Vậy cái gì là chất "xúc tác” căn bản gắn kết nghĩa khởi nguyên cua thành ngữ với hiện thực được dién đạt bằng ngôn ngữ để tạo nên thành ngữ. Chúng tôi cho rang đấy chính là sự liên tưởng, so sánh tương đồng 16 Mb FB trong quá trình tư duy ngôn ngữ theo đặc trưng tu duy ngôn ngif riéng cua Sf mỗi cộng đồng người. Một hiện thực khách quan được nhận biết: //epemn npomus poxcna và được ghi nhận bằng hình thức ngôn ngữ Meperb - HPOEHH - poxa "treo - chống chọi lại - cọc nhọn”.
Trong quá trình tạo nên thành ngữ, nói chính xác hơn là tạo nên nghĩa thực tại của nó hiện thực được miêu tả và được nhận xét theo chủ quan, kinh nghiệm người sử dụng ngôn ngữ (người bản ngữ ) đã mang " dấu ấn ” của nhận thức: không thể chống, lại với cọc nhọn đã được đóng chặt, suy ra hành động trèo lên cọc nhọn là một hành động mạo hiểm đớm đâm vào hang cop. Cũng như vậy một hiện thực khách quan được ghi lại trong tiêng Việt băng thành ngữ óch ngôi đáy gióng bao gồm những hình thức ngôn ngữ "ếch - ngồi - đáy - giếng” sẽ được người bản ngữ nhận xét theo cách riêng mang “dấu ấn” của nhận thức của người Việt có liên quan đến hiện thực của doi sống. (con ếch - cái giếng ): con ếch ngôi dưới đáy giếng hẹp thì khó mà thấy hết được bầu trời rộng. Đồng thời ở đây xuất hiện sự liên tướng tới những su hoạt động.
hành vi đặc tính. của con người; đối với thành ngữ nepem npomue poxcua đó là một hành động liều lĩnh đưa mình đến chỏ nguy hiểm đến thân thể và tính mạng (đâm đầu vào hang hổ): đối với thành ngữ éch ngồi đáy giớng đó là nhận xét bình giá về một con người có tầm nhìn và sự hiểu biết hạn hẹp, thiển cận.