Luận án phó tiến sĩ: Nghiên cứu thành ngữ Nga - Việt trong giao tiếp

Chuyên khảo văn học phân tích Luận án phó tiến sĩ ngữ văn đối chiếu thành ngữ nga việt trên bình diện giao tiếp, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

1987

158
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Tính thời sự của luận án

Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Phương pháp nghiên cứu

Cái mới của luận án

Tập hợp và xử lý tư liệu

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN TRONG ĐỐI CHIẾU TƯƠNG PHẢN THÀNH NGỮ HAI THỨ TIẾNG

1.1. Khảo lược tình hình nghiên cứu và những giới thuyết về đối chiếu hai ngôn ngữ liên quan đến đề tài luận án

1.2. Những luận điểm cơ bản trong đối chiếu thành ngữ hai ngôn ngữ trên bình diện giao tiếp

1.3. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU TƯƠNG PHẢN THÀNH NGỮ NGA - VIỆT TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

2.1. Vai trò trí thức nền trong đối chiếu thành ngữ

2.2. Những giống nhau các đơn vị thành ngữ Nga - Việt do đặc trưng văn hoá - dân tộc chi phối

2.3. Những dị biệt các đơn vị thành ngữ Nga - Việt do đặc trưng văn hoá - dân tộc chi phối

2.4. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG TƯ DUY DÂN TỘC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIAO TIẾP CÁC THÀNH NGỮ NGA - VIỆT

3.1. Ngôn ngữ với ý thức và với tư duy trong đối chiếu ngôn ngữ

3.2. Hiện thực khách quan là đối tượng được phản ánh

3.3. Thành ngữ so sánh tiếng Nga đối chiếu với tiếng Việt

3.4. Thành ngữ có nghĩa “bình giá” tiếng Nga đối chiếu với tiếng Việt

3.5. Nhóm thành ngữ phản ánh nền văn hoá dân tộc một cách tổng hợp

3.6. Nhóm thành ngữ phản ánh nền văn hoá dân tộc theo từng thành tố

3.7. Thành ngữ phản ánh nền văn hoá dân tộc thông qua những nguyên mẫu lịch sử hoặc các nhân vật trong truyện cổ tích, truyện thần thoại

3.8. Sử dụng thành ngữ tiếng Nga trong giao tiếp có đối chiếu với tiếng Việt

3.9. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH THÀNH NGỮ TIẾNG NGA RA TIẾNG VIỆT TRÊN QUAN ĐIỂM GIÁO TIẾP NGÔN NGỮ

4.1. Dịch thuật trong cách nhìn của giao tiếp liên cá nhân

4.2. Phương thức chuyển dịch thành ngữ Nga ra tiếng Việt

4.3. Dạng mạo thành ngữ Nga trong mối liên tưởng với tri thức nền đối chiếu với tiếng Việt

4.4. Phương án đề nghị hiệu chỉnh dịch thành ngữ Nga

4.5. Tiểu kết

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khảo lược tình hình nghiên cứu và những giới thuyết đối chiếu

Trong lĩnh vực thành ngữ, việc nghiên cứu và đối chiếu giữa ngôn ngữ Ngangôn ngữ Việt vẫn còn ở giai đoạn đầu. Nhiều công trình đã được thực hiện, nhưng chủ yếu tập trung vào các khía cạnh ngữ pháp và từ vựng mà chưa đi sâu vào giao tiếp. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc đối chiếu ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở việc so sánh cấu trúc mà còn cần xem xét các yếu tố văn hóa và xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về văn hóa giao tiếp của hai dân tộc. Một số tác giả đã đề xuất rằng việc nghiên cứu thành ngữ cần phải được thực hiện trong bối cảnh giao tiếp cụ thể, nơi mà các yếu tố văn hóa và xã hội có thể ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn ngữ.

1.1. Những luận điểm cơ bản trong đối chiếu thành ngữ hai ngôn ngữ

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thành ngữ Ngathành ngữ Việt có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Sự tương đồng này thường phản ánh những giá trị văn hóa chung, trong khi sự khác biệt lại thể hiện những đặc trưng văn hóa riêng biệt của mỗi dân tộc. Việc phân tích các thành ngữ trong bối cảnh giao tiếp giúp làm rõ hơn về cách mà người nói sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý tưởng và cảm xúc. Điều này không chỉ giúp nâng cao khả năng giao tiếp mà còn góp phần vào việc hiểu biết sâu sắc hơn về tư duy dân tộc của mỗi ngôn ngữ.

II. Đối chiếu tương phản thành ngữ Nga Việt trong hoạt động giao tiếp

Việc so sánh thành ngữ giữa ngôn ngữ Ngangôn ngữ Việt trong hoạt động giao tiếp cho thấy rõ vai trò của thành ngữ như một công cụ giao tiếp hiệu quả. Các thành ngữ không chỉ đơn thuần là những cụm từ mà còn mang trong mình những giá trị văn hóa sâu sắc. Chúng phản ánh cách mà người dân trong mỗi nền văn hóa nhìn nhận thế giới xung quanh. Sự khác biệt trong cách sử dụng thành ngữ giữa hai ngôn ngữ có thể dẫn đến những hiểu lầm trong giao tiếp. Do đó, việc nghiên cứu và hiểu rõ về thành ngữ trong bối cảnh giao tiếp là rất cần thiết.

2.1. Những giống nhau và khác biệt các đơn vị thành ngữ Nga Việt

Nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều thành ngữ trong ngôn ngữ Ngangôn ngữ Việt có nội dung tương đồng, nhưng cách diễn đạt lại khác nhau. Ví dụ, một số thành ngữ có thể mang ý nghĩa tương tự nhưng lại sử dụng hình ảnh và biểu tượng khác nhau để truyền tải thông điệp. Điều này không chỉ phản ánh sự khác biệt trong văn hóa giao tiếp mà còn cho thấy cách mà mỗi dân tộc xây dựng ngôn ngữ của mình dựa trên những trải nghiệm và giá trị văn hóa riêng. Việc nhận diện và phân tích những điểm tương đồng và khác biệt này sẽ giúp nâng cao khả năng giao tiếp giữa hai nền văn hóa.

III. Đặc trưng tư duy dân tộc nhìn từ góc độ giao tiếp các thành ngữ Nga Việt

Nghiên cứu về thành ngữ không chỉ dừng lại ở việc phân tích ngữ nghĩa mà còn cần xem xét đến tư duy dân tộc. Các thành ngữ thường phản ánh những giá trị, quan niệm và cách nhìn nhận của mỗi dân tộc về cuộc sống. Việc đối chiếu thành ngữ Ngathành ngữ Việt trong bối cảnh giao tiếp giúp làm rõ hơn về cách mà người dân trong mỗi nền văn hóa tương tác với nhau. Điều này không chỉ giúp nâng cao khả năng giao tiếp mà còn góp phần vào việc hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa giao tiếp của mỗi dân tộc.

3.1. Ngôn ngữ với ý thức và với tư duy trong đối chiếu ngôn ngữ

Việc phân tích thành ngữ trong bối cảnh giao tiếp cho thấy rằng ngôn ngữ không chỉ là công cụ truyền đạt thông tin mà còn là phương tiện thể hiện tư duyý thức của người nói. Các thành ngữ thường mang trong mình những giá trị văn hóa và xã hội, phản ánh cách mà người dân trong mỗi nền văn hóa nhìn nhận thế giới xung quanh. Do đó, việc nghiên cứu và hiểu rõ về thành ngữ trong bối cảnh giao tiếp là rất cần thiết để nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa.

IV. Phương thức chuyển dịch thành ngữ Nga ra tiếng Việt trên quan điểm giao tiếp

Việc chuyển dịch thành ngữ từ ngôn ngữ Nga sang ngôn ngữ Việt không chỉ đơn thuần là việc tìm kiếm từ tương đương mà còn cần phải xem xét đến bối cảnh giao tiếp. Các thành ngữ thường mang trong mình những giá trị văn hóa sâu sắc, do đó việc chuyển dịch cần phải đảm bảo rằng ý nghĩa và cảm xúc của thành ngữ được truyền tải một cách chính xác. Điều này đòi hỏi người dịch không chỉ có kiến thức về ngôn ngữ mà còn phải hiểu rõ về văn hóa giao tiếp của cả hai dân tộc.

4.1. Dịch thuật trong cách nhìn của giao tiếp liên cá nhân

Trong quá trình dịch thành ngữ, việc hiểu rõ về bối cảnh giao tiếp là rất quan trọng. Các thành ngữ không chỉ mang ý nghĩa ngữ nghĩa mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa và xã hội. Do đó, người dịch cần phải có khả năng nhận diện và phân tích bối cảnh giao tiếp để đảm bảo rằng thành ngữ được dịch một cách chính xác và phù hợp. Việc này không chỉ giúp nâng cao khả năng giao tiếp mà còn góp phần vào việc hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa giao tiếp của mỗi dân tộc.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu một cách tiếp cận trong đối chiếu tiếng Nga với tiếng mẹ đẻ thông qua những thủ pháp chuyển dịch những đơn vị thành ngữ Nga ra tiếng Việt dưới góc độ ngữ nghĩa và tu từ - biểu cảm. Khác với những tác giả người Nga chẳng hạn như M. Monona (1972) trong công trình nghiên cứu: Ovepru no ð0006ù (ÙDd36010eH [83] có xu hướng khảo sát cấu trúc thành ngữ ở những đặc trưng hình thức của chúng, Trương Đông San trong luận án của mình và trong: bai báo O cnocobax 00J0030801H41 (paseo.loeu3sMmoe 6 pyceckom s301Ke (1972) [105] đã khảo sát thành ngữ Nga trong cách nhìn của người Việt, xem xét chúng chu yêu ở bình diện nội dung. Trong luận án của mình[I04] khi khảo sát các phương thức chuyển dịch thành ngữ Nga ra tiếng Việt, Trương Đông San đưa ra 9 phương thức cấu tạo ngữ nghĩa của đoạn thành ngữ trong tiếng Nga và tiếng Viet.

Hư hoá ngữ nghĩa (1cceMalri»aiul). An dụ hoá (MeradopHsaittst). Ti dụ hoá (oốpa3Hoe cpapiielne). Ngoa dụ và nói giảm ( mep6omt HW Jfrotn).Uyển ngữ hoá (2pdeMI3alts1).

Hoan dụ hoá (M€IOHHMI3aIUI)8. Phép cải dụng (CHIICKJIOXHCCKOC Hepcoempicicine). Phương thức mô ta ( OHCATCJIBHOC IiepeocMIICJIe1ie)[1O4: 4 J. Những trường hợp trên day được tác gia{ 104] khảo sát có đôi chiêu trên cơ sởý nghĩa và hình tượng cấu tric ngữ nghĩa.

Nguyễn ngọc Bội (1974) trong bài báo Pdi chiến thành ngữ Nga -\ lớt ve mat net nghĩa và các phuong thức chuyển dich [2] cũng dé ra những phương thức tương tự chuyển dich thành ngữ tiếng Nga ra tiêng Việt dựa trên cơ sở cấu trúc - ngữ nghĩa nội tại của chúng,.tuy nhiên lại không đề cập đến sắc thái tu từ biểu cảm của thành ngữ. Ngyễn Văn Mệnh (1987) trong luận án Phó tiến sĩ Vatersuchungen der semantisch < syatakuschen Strucuu der entgegengesetzten, paralleken wid komparativen phraseologismen in der Vietnamesischen Gegenwartssprache [130 | đã dựa tiên cơ sở cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng. Việt để phân loại chúng thành những mo hình cú pháp khác nhau , phân tích các yếu tố ngữ nghĩa nội tại của thành ngữ Việt, từ đó đưa ra những phương thức chuyển dịch các đơn vị thành ngữ Việt ra tiếng Đức khả dĩ giúp cho người bản ngữ tiếng Đức quan tâm đến tiếng Việt có thể tiếp cận, nhận biết, khảo sát và sử dụng được thành ngữ Việt. Nam 1995 Phùng Trọng Toản trong luận an phó tiên sĩ khoa học giáo duc JÍ/0000041b000 - KỊ:HIHYĐHOM CHCMHHHKAG ĐẸCCKUX (bpazeo.veusMmoe 6 CONMOCINGB ACH CC BbCINHAMCKUM Œ UCT OOVUCHIU PYCCKOMY S3DIKV Kan unocmpannoay [108] đã để cập đến đặc thù van hoá - dan tộc của thành ngữ Nga có đối chiếu với tiếng Việt.

Nhằm mục đích dạy tiếng Nga như một ngoại ngữ trong luận án của mình tác gia khảo sát một số cấu trúc - ngữ nghĩa, những thành tố văn hoá dân tộc của ngữ nghĩa và đặc thù văn hoá dân tộc ở bình diện tu từ [108;12], tiếp đó tác giá đưa ra những nguyên tắc xây dựng một giáo trình hướng dẫn về thành ngữ Nga và thành ngữ Việt khả di áp dụng được vào quá trình học tiếng Nga như một ngoại ngữ cho sinh viên chuyên ngữ Việt Nam [108; 24 ]. Nhìn chung cho đến nay ở nước ta trong lĩnh vực của phân ngành đối chiếu thành ngữ hai ngôn ngữ( tiếng nước ngoài đối chiếu với tiếng Việt) xu huớng phổ biến nổi trội trong hai thập ky nay là việc khảo sát đối chiếu các đơn vị thành ngữ hai ngôn ngữ được tiên hành chủ yêu dựa trên bình dién cau trúc ngôn ngữ. O những công trình dẫn trên xu hướng nghiên cứu dựa vào cấu trúc nội tại của thành ngữ được thể hiện rõ như luận điểm xuất phát của việc khảo sát đối chiếu; mac dù có. tác giả cũng dé cập lướt qua đến vai trò của ngữ cảnh, nhưng khi triển khai để tìm phương thức chuyển dịch ra tiếng Việt lại chí hạn chế trong khuôn khổ khái niệm nội tại của ngôn ngữ được mở rộng ở bình diện tu từ biểu cảm và khả nang kết hợp từ vựng [104;10] hoac chi bó hẹp trong việc sử dụng thành ngữ ở các phong cách tu từ cla lời nói [108:23].

Giống như các tác gia đi trước, trong những năm 1981- 1988 tác giả luận án này cũng đã có nhưp bài báo khảo sát đối chiếu thành ngữ Nga - Việt theo xu hướng dựa chủ yếu vào cứu trúc ngữ nghia của thành n git [24. nhưng từ nam 1989 chúng tôi đã bat đầu đi vào hướng khảo sát, đối chiếu thành ngữ hai thứ tiếng trên bình diện giao tiếp có chú ý thích đáng đến những đặc thù văn hoá dan tộc và trí thức nền của người bản ngữ [26,27,28,29]. Những luận điểm cơ bản trong doi chiếu, thành ngữ hai ngôn gon ngữ trên bình diện giao tiếp: Tiếp thu thành qua của những người di trước trong lĩnh vực ngôn ngữ học đối chiếu nói chung và đối chiếu thành ngữ Nga - Việt nói riêng. trên cơ sở những két qua đã làm: được trong hơn 10 năm qua trong luận án này chúng tôi tiến hành khảo sát đối chiêu thành ngữ hai ngôn ngữ Nga - Việt ở bình diện giao tiếp xuất phát từ những luận điểm cơ bản sau đây: 1.

trong đó có thành ngữ. là bộ phận cấu thành của nền văn hoá dân toc. gan bó khang khít với nó. Nghiên cứu đối chiêu thành ngữ ga hai ngôn ngữ ở bình điện giao tiếp trước hệt là nghiên cứu môi quan hệ giữa ngôn ngữ với những nhân tố văn hoá- xã hội ngoài ngôn ngữ tác động đến liên chủ thể nói khi sử dụng ngôn ngữ (ở đây là thành ngữ) trong hoạt dong giao tiếp ở cấp độ phát ngôn.

Điều này đòi hỏi khí đối chiếu ngôn ngữ trước hết phải đối chiếu hai nén van hod, những bối cảnh ngôn ngữ mà trong đó còn lưu giữ trong tiểm thức người bản ngữ những nhân tố con người và xã hội. và khác nhau về cứu tric và loạt động. Trong luận án tác giả không, tách rời việc khảo sát sự hoạt động của thành ngữ trong giao tiếp với việc khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của chúng. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì nghĩa vi fiểm năng tầng trữ trong nghĩa khởi nguyên của thành ngữ (cấu trúc ngữ nghĩa) luôn là đầu mối của sự liên tưởng đến hiện thực khách quan thường trực trong ký ức của chủ thể nói.

từ đó thông qua nghĩa liên hội và sự lựa chọn của chủ thể nói mà có øgh¿ thc tai được dùng trong hoạt động giao tiếp ở cấp độ phát ngôn. Có thể nói ngắn gọn là: cần dựa vào nghĩa vị tiém nang để giải md cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ. thì mới hiểu đúng, sử dụng đúng nghĩa thực tại của thành ngữ trong cảnh huống giao tiếp thích hợp. Không đi sâu phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ như tổ chức nội tại trong hệ thông ngôn ngữ, chúng tôi chủ trương dựa vào cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ như một cái nền bao chứa các yếu tố tiểm ẩn không hiện diện trong hình thức cấu trúc của nó.

Điều này đòi hỏi phải giải mã trong cách nhìn của ngữ dụng học tương phản khi diễn ra hoạt động giao tiệp của các chủ thé sử dụng thành ngữ. Boi vay, chúng tôi quan niệm trong hệ thong cấu trúc ngôn ngữ trước hét thành ngữ thuộc về ký hiệu ung gian giữa các ky hiéu cua cap độ từ và các ký hiện của cap độ cau. Về mặt nội dung và ý nghĩa thành ngữ có giá trị chức năng như một từ có thể thay thế cho từ về phương điện định danh. Về mat hình thức (tổ chức ngữ pháp) thành ngữ có cấu tạo như một tổ hợp từ.

Về vấn đề này Nguyễn Thiện Giáp đã đúng khi viết: “Thue ra nói đến thành ngữ là nói tới don vi định danh hình tượng. Can dua vào tính hình tượng để xác định các thành ngữ” [17:30. Doan in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh - NXHỊ. Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đặc trưng có những đặc điểm khu biệt với tất cả những, đơn vị ngôn ngữ khác, và nhờ day nó trở thành một hiện tượng, khá tiêu biểu trong nghiên cứu ngữ dụng học nói chung và ngữ dụng học tương phản nói riêng vốn liên quan mật thiệt đến hoạt động giao tiếp.

Thong thường một đơn vị thành ngữ có hai kiểu ý nghĩa: I.Nghĩa khởi nguyên (nghĩa trực tiếp) của thành ngữ; 2. Nghĩa thực tại của thành ngữ (ý nghĩa đặc ngữ). Nghĩa thực tại của thành ngữ được nhận biệt từ nghĩa khởi nguyên của nó (ý nghĩa toát ra từ các yếu tố cấu tạo thành ngữ có ga giá trị định danh đơn thuần. thông báo các sự kiện kiểm soát được).

Nghĩa thực tại của thành ngữ thông thường không phái là số cong đơn thuần ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo thành ngữ. Vậy cái gì là chất "xúc tác” căn bản gắn kết nghĩa khởi nguyên cua thành ngữ với hiện thực được dién đạt bằng ngôn ngữ để tạo nên thành ngữ. Chúng tôi cho rang đấy chính là sự liên tưởng, so sánh tương đồng 16 Mb FB trong quá trình tư duy ngôn ngữ theo đặc trưng tu duy ngôn ngif riéng cua Sf mỗi cộng đồng người. Một hiện thực khách quan được nhận biết: //epemn npomus poxcna và được ghi nhận bằng hình thức ngôn ngữ Meperb - HPOEHH - poxa "treo - chống chọi lại - cọc nhọn”.

Trong quá trình tạo nên thành ngữ, nói chính xác hơn là tạo nên nghĩa thực tại của nó hiện thực được miêu tả và được nhận xét theo chủ quan, kinh nghiệm người sử dụng ngôn ngữ (người bản ngữ ) đã mang " dấu ấn ” của nhận thức: không thể chống, lại với cọc nhọn đã được đóng chặt, suy ra hành động trèo lên cọc nhọn là một hành động mạo hiểm đớm đâm vào hang cop. Cũng như vậy một hiện thực khách quan được ghi lại trong tiêng Việt băng thành ngữ óch ngôi đáy gióng bao gồm những hình thức ngôn ngữ "ếch - ngồi - đáy - giếng” sẽ được người bản ngữ nhận xét theo cách riêng mang “dấu ấn” của nhận thức của người Việt có liên quan đến hiện thực của doi sống. (con ếch - cái giếng ): con ếch ngôi dưới đáy giếng hẹp thì khó mà thấy hết được bầu trời rộng. Đồng thời ở đây xuất hiện sự liên tướng tới những su hoạt động.

hành vi đặc tính. của con người; đối với thành ngữ nepem npomue poxcua đó là một hành động liều lĩnh đưa mình đến chỏ nguy hiểm đến thân thể và tính mạng (đâm đầu vào hang hổ): đối với thành ngữ éch ngồi đáy giớng đó là nhận xét bình giá về một con người có tầm nhìn và sự hiểu biết hạn hẹp, thiển cận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "So sánh thành ngữ Nga - Việt trong giao tiếp" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt giữa các thành ngữ trong hai ngôn ngữ này, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp và văn hóa của người Nga và người Việt. Những điểm chính của bài viết bao gồm việc phân tích ngữ nghĩa, cách sử dụng thành ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể, và tầm quan trọng của việc hiểu biết về thành ngữ để nâng cao khả năng giao tiếp liên văn hóa.

Độc giả sẽ nhận được lợi ích từ việc nắm bắt được những sắc thái ngôn ngữ, từ đó cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình trong môi trường đa văn hóa. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh ngôn ngữ và văn hóa khác, hãy tham khảo bài viết Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Hàn - Việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật, nơi bạn có thể khám phá thêm về sự giao thoa văn hóa qua ngôn ngữ. Ngoài ra, bài viết Teachers beliefs and practices of intercultural communication competence sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về giao tiếp liên văn hóa trong giáo dục. Cuối cùng, bài viết Giao tiếp song ngữ của người Khmer tại huyện Thoại Sơn cũng là một nguồn tài liệu thú vị để bạn mở rộng hiểu biết về giao tiếp trong các cộng đồng đa dạng.