chương 1: Dialect and language, các tác gi¿ đã gi¿i thích thuật ngữ <phương ngữ= và chỉ ra mßt sá yÁu tá ¿nh hưáng đÁn phương ngữ đß tạo cơ sá lí luận cho các chương nghiên cứu tiÁp theo như: ngôn ngữ, phương ngữ và giọng nói; phương ngữ địa lý; phương ngữ xã hßi … Trong chương 2: Dialect geography, các 8 tác gi¿ th¿o luận mßt sá nghiên cứu về phương ngữ địa lý và cung cÁp chi tiÁt về các phương pháp nghiên cứu địa lý phương ngữ như b¿ng câu hßi, b¿n đồ ngôn ngữ và ngưßi cung cÁp thông tin. Chương 3: Dialectology and linguistics tập trung vào mái quan hệ giữa phương ngữ học và ngôn ngữ học. Các tác gi¿ cho rằng phương ngữ học truyền tháng bị cô lập hơn so vái các bß môn khác, trong khi đó phương ngữ học hiện đại được chứng minh là rÁt tương quan vái ngôn ngữ học và có mái quan hệ liên ngành vái nhiều ngành nghiên cứu khác. Chương 4: Urban dialectology tập trung làm rõ mßt khía cạnh mái còn thiÁu của phương ngữ học chưa được nghiên cứu trưác đó là phương ngữ học đô thị.
Phần lán các nghiên cứu phương ngữ thßi gian trưác tập trung vào phương ngữ nông thôn và lý do đưa ra có thß là vì cách hißu về thuật ngữ "phương ngữ". Ngưßi ta cho rằng ngôn ngữ bị <đào th¿i= chủ yÁu được sử dụng á các vùng nông thôn như đã nêu trong chương đầu tiên. Tuy nhiên, các tác gi¿ tuyên bá rằng tÁt c¿ những ngưßi nói đều có xuÁt thân cũng như vị trí sinh sáng, địa vị xã hßi và bài phát bißu của họ cho biÁt tầng láp xã hßi, đß tuổi của nhóm họ và các đặc đißm xã hßi khác. LÁy c¿m hứng từ thực tÁ này, các tác gi¿ th¿o luận về các thành phần của nghiên cứu phương ngữ đô thị xét về tính đại diện của nhóm mục tiêu, thu thập dữ liệu, phân loại ngưßi cung cÁp thông tin và biÁn sá ngôn ngữ vái mßt sá sự khác biệt so vái nghiên cứu phương ngữ học nông thôn.
Trong chương 5: Social differentiation and language, kÁt qu¿ nghiên cứu về sự phân hóa xã hßi và ngôn ngữ được th¿o luận. Mái quan hệ giữa ngôn ngữ và các biÁn sá như tầng láp xã hßi, phong cách trang trọng và gi¿n dị, giái tính, dân tßc, mạng xã hßi và các đặc đißm cá nhân được thẩm định. Chương 6: Sociolinguistic structure and linguistic innovation xem xét mái tương quan giữa các biÁn sá như tầng láp xã hßi, hình thức, sự thay đổi phong cách và ý nghĩa xã hßi của chúng. à đây các tác gi¿ nhÁn mạnh sự khác biệt giữa các chỉ sá và đißm đánh dÁu (biÁn thß ngôn ngữ đánh dÁu).
Đißm đánh dÁu là các biÁn cũng có thß thay đổi theo phong cách như giái tính, đß tuổi hoặc các biÁn thß láp học. Các chỉ sá là các biÁn không liên quan đÁn hệ tháng biÁn tÁu kißu cách. Bên cạnh các đißm đánh dÁu và chỉ báo, họ đề cập đÁn sự tương ph¿n âm vị học trong nghiên cứu ngôn ngữ học và đưa ra ví dụ về những thay đổi trong tiÁng Anh hiện đại. Về nghiên cứu 9 sự thay đổi ngôn ngữ, các tác gi¿ đề cập đÁn hai loại hình nghiên cứu.
Mßt là nghiên cứu <thßi gian thực=, nghĩa là điều tra ngôn ngữ của cßng đồng và sau hai mươi năm thực hiện mßt nghiên cứu lại và phân tích những thay đổi. Còn lại là nghiên cứu <thßi gian bißu kiÁn=, có nghĩa là so sánh bài phát bißu của những ngưßi lán tuổi và trẻ hơn. Cuái cùng, họ gi¿i thích sự thay đổi phong cách, giái tính và uy tín có thß đóng vai trò như thÁ nào trong ngôn ngữ thay đổi và đưa ra các ví dụ liên quan từ mßt nghiên cứu. Trong chương cuái: Cohesion in dialectology, các tác gi¿ tóm tắt lại cuán sách.
Các tác gi¿ đã đề cập đÁn mái quan hệ của phương ngữ học vái mßt sá ngành khác như nhân học, xã hßi học và địa lý, đồng thßi cung cÁp ngắn gọn thông tin về cách các bß môn này đã hoạt đßng cùng nhau và việc tác gi¿ đã hoàn thành các nghiên cứu về phương ngữ học như thÁ nào. Có thß nói cuán sách cung cÁp mßt cách chi tiÁt về việc nghiên cứu phương ngữ học, từ thßi kỳ đầu cho đÁn những phát trißn gần đây (1998) bao gồm hệ tháng các khái niệm cũng như phương pháp nghiên cứu, các định hưáng nghiên cứu. Đồng thßi, các tác gi¿ cũng chỉ ra rằng nghiên cứu về phương ngữ học là nghiên cứu liên ngành và phương ngữ học có mái liên hệ mật thiÁt vái xã hßi học, đặc biệt là các nghiên cứu về phương ngữ học đô thị. Cuán sách thật sự có giá trị về mặt lý luận và thực tián cho những nghiên cứu về phương ngữ học giai đoạn hiện tại.
Các công trình nưác ngoài nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt Nghiên cứu về phương ngữ Việt Nam bắt đầu từ kho¿ng trưác thÁ kỉ XX, đầu tiên là từ những nghiên cứu dưái dạng từ đißn của A.L Taberd [175] nhằm thu thập và gi¿i thích từ ngữ địa phương của tiÁng Việt. Sang thÁ kỉ XX, những công trình nghiên cứu về phương ngữ ra đßi như L. Cadiére trong công trình <Ngữ âm tiếng Việt (1902) [162], Maspero trong công trình <Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt= (1912) [174], B.Friberg trong công trình <Âm vị học tạo sinh, áp dụng vào các phương ngữ tiếng Việt: nghiên cứu dựa trên cứ liệu phương ngữ Trung bß, so sánh ba phương ngữ chính của tiếng Việt hiện đại= (1973) [166], M.S Buxtrov trong công trình <Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt= (1984) [165], B. Marc trong công trình <Cảm thức ngữ điệu Việt ngữ Bắc Bßi và Nam Bß= (2009) [171], 10 J.Mark trong công trình <Mßt số ghi nhận về từ vựng ngữ pháp trong Việt ngữ Trung Bß= (2012) [172]…Gần đây, tác gi¿ Kondo Mika trong <Vietnamese dialect maps on vocabulary= (2013) [169] đã sử dụng tÁt c¿ 104 từ đß tiÁn hành kh¿o sát và xác lập b¿n đồ từ vựng phương ngữ tiÁng Việt.
Có thß thÁy đißm chung của các công trình tiÁng nưác ngoài này khi nghiên cứu về phương ngữ tiÁng Việt đó là: chủ yÁu nghiên cứu các vùng phương ngữ bằng cách ghi chép hoặc miêu t¿ đặc đißm riêng của các từ á phương diện ngữ âm trong sự so sánh vái ngôn ngữ toàn dân mà chưa đi vào phân tích ngữ nghĩa nên chưa làm rõ sự khác biệt của các vùng phương ngữ, đặc biệt á phương diện hành chức trong giao tiÁp thưßng ngày và đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của địa phương. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu về phương ngữ á Việt Nam Dù đã có nhiều tác gi¿ nưác ngoài có những công trình nghiên cứu về phương ngữ tiÁng Việt và có đóng góp nhÁt định tại thßi đißm ra đßi, tuy nhiên, có giá trị nhÁt trong việc nghiên cứu phương ngữ tiÁng Việt ph¿i kß đÁn sự đóng góp của các nhà Việt ngữ học. Hiện nay, phương ngữ học được quan tâm nghiên cứu theo hai hưáng tiÁp cận, đó là phương ngữ học địa lý và phương ngữ học xã hßi.
H°áng nghiên cąu ph°¢ng ngÿ hãc đáa lý: Phương ngữ học địa lý nghiên cứu từ địa phương theo bình diện ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa và đặc trưng văn hoá. Nghiên cứu PN từ bình diện ngữ âm: có thß đißm qua mßt sá công trình nghiên cứu phương ngữ nổi bật như tác gi¿ Hoàng Thị Châu vái công trình Tiếng Việt trên các miền đất nưác (Phương ngữ học) (1989) [19], sau này bổ sung hoàn thiện thành công trình Phương ngữ học tiếng Việt (2009) [21]. Hoặc nghiên cứu về mặt ngữ âm và mßt sá khía cạnh liên quan như Huỳnh Công Tín vái bài viÁt Hiện tượng biến âm trong phương ngữ Nam Bß (1996) [141], Nguyán Văn Nguyên trong luận án tiÁn sĩ <Miêu tả đặc trưng ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh= (2002) [104], Huỳnh Công Tín trong công trình <Đặc trưng vn hoá Nam Bß qua phương ngữ= (2013) [144]… Các công trình kß trên đã nghiên cứu từ ngữ địa phương bißu hiện chủ yÁu á mặt ngữ âm, có sự so sánh, đái chiÁu giữa từ ngữ địa phương vái ngôn ngữ toàn dân 11 hay vái các vùng địa phương khác đß khái quát những đặc trưng riêng, đồng thßi thông qua đó cũng tìm hißu lịch sử tiÁng Việt. Điều này cho thÁy, sự khác biệt thß hiện chủ yÁu và dá nhận thÁy nhÁt giữa các phương ngữ hay giữa phương ngữ vái ngôn ngữ toàn dân là á mặt ngữ âm.
Công trình của Hoàng Thị Châu [21] có giá trị định hưáng và làm cơ sơ lí luận cho công tác điều tra cũng như nghiên cứu sâu về phương ngữ về sau. Nghiên cứu PN từ bình diện từ vựng ngữ nghĩa được thực hiện theo hai hưáng: 1. Hưáng nghiên cứu PN đß biên soạn từ đißn, 2. Hưáng nghiên cứu sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa của các vùng PN.
Hướng nghiên cứu phương ngữ để biên soạn từ điển có các công trình thu thập từ vựng chung cho c¿ ba vùng PN, tiêu bißu như Nguyán Trọng Hàn lập <Danh sách từ ngữ địa phương= (1956); Nguyán Như Ý, Đặng Ngọc Lệ, Phan Xuân Thành vái <Từ điển đối chiếu từ địa phương= (2001) [160], Đặng Thanh Hoà vái <Từ điển phương ngữ tiếng Việt= (2009) [70] , Phạm Văn H¿o vái <Từ điển phương ngữ tiếng Việt= (2009) [60]… Có những công trình thu thập từ ngữ của các PN cụ thß như: Nguyán Văn Ái <Từ điển phương ngữ Nam Bß= (1994) [1]; Nguyán Nhã B¿n, Phan Mậu C¿nh, Hoàng Trọng Canh, Nguyán Hoài Nguyên vái <Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh= (1999) [4]; Huỳnh Công Tín vái <Từ điển từ ngữ Nam Bß= (2007) [143]; Bùi Minh Đức vái <Từ điển tiếng Huế= (2009) [45]. Các công trình này chủ yÁu thu thập ván từ mang tính chÁt đißn hình của các vùng phương ngữ, thổ ngữ khác nhau và gi¿i thích nghĩa của chúng. Hướng nghiên cứu sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa của các vùng phương ngữ, đã có các công trình, giáo trình và bài viÁt của mßt sá tác gi¿. Tiêu bißu như: trong <Giáo trình Việt ngữ - tập II (Từ hßi học) (1961) [18], Đỗ Hữu Châu đã chia từ địa phương thành 4 loại, về sau trong giáo trình Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt (1981) [17], ông lại gßp thành 3 loại sau: 1.
Những đơn vị từ vựng chỉ những hiện tượng, những sự vật. trong đßi sáng bình thưßng; 2. Những đơn vị từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau về ngữ âm nhiều hay ít; 3. Các từ địa phương có hình thức ngữ âm khác nhau nhưng nghĩa có bß phận giáng nhau, có bß phận khác 12 nhau.