phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận. Chƣơng này nghiên cứu những vấn đề về lịch sử gia đình Việt Trung từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, Ngoài ra, bƣớc đầu nêu ra thực trạng của các gia đình đa văn hóa Việt Trung, trong đó có thực trạng của bố mẹ và thực trạng của con cái. Chƣơng này cũng đƣa ra một số khái niệm quan trọng đƣợc sử dụng trong luận văn nhƣ gia đình Việt Trung, tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai hay lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ… - Chƣơng 2: Thực trạng tiếng Việt của trẻ em trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà. Chƣơng này giới thiệu khái quát về khu vực châu Hồng Hà.Sau đó, khảo sát một số gia đình đa văn hóa Việt Trung.
Cụ thể hơn là thực trạng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung tại hai huyện Hà Khẩu và Kim Bình. 5 z - Chƣơng 3: Những nhân tố tác động đến việc học tiếng Việt của trẻ em lai và một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà. Chƣơng này phân tích những nhân tố tác động đến năng lực tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà trên các khía cạnh nhƣ môi trƣờng ngôn ngữ, nhân tố cá nhân và thói quen cuộc sống hàng ngày cũng nhƣ chính sách giáo dục của nhà nƣớc. Từ đó, luận văn đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà.
6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Gia đình Việt – Trung * Khái niệm gia đình Với tƣ cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội. Gia đình đƣợc hình thành từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài.
Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải dựa vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam và nữ giới, những hình thức cộng đồng tổ chức đời sống gia đình đã xuất hiện. Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều hình thức gia đình nhƣ: Gia đình đối ngẫu, gia đình hôn nhân từng cặp, gia đình một vợ một chồng. Gia đình là một cộng đồng ngƣời sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dƣỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài.Thực tế, gia đình có những ảnh hƣởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.
Hôn nhân và quan hệ hôn nhân là một quan hệ cơ bản của sự hình thành, tồn tại và phát triển gia đình.Huyết thống, quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản, đặc trƣng của gia đình.Quan hệ nuôi dƣỡng giữa các thành viên và các thế hệ thành viên trong gia đình. * Khái niệm gia đình đa văn hóa Theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Việt Nam [12]: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nƣớc ngoài, phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nƣớc ngoài”. 7 z Nhƣ vậy, theo các quy định trên, các gia đình có yếu tố nƣớc ngoài khi có một trong những dấu hiệu sau: - Chủ thể trong gia đình là ngƣời nƣớc ngoài. - Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình xảy ra ở nƣớc ngoài.
- Tài sản liên quan đến gia đình ở nƣớc ngoài - Nơi cƣ trú của các bên đƣơng sự tham gia vào gia đình ở nƣớc ngoài. * Khái niệm gia đình Việt – Trung Gia đình Việt- Trung cũng là một loại gia đình có yếu tố nƣớc ngoài, chủ thể trong gia đình là ngƣời Trung Quốc và ngƣời Việt Nam.Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình xảy ra giữa ngƣời Việt Nam và ngƣời Trung Quốc.Tài sản liên quan đến gia đình Việt- Trung.Nơi cƣ trú của hai bên đƣơng sự tham gia vào gia đình Việt- Trung. Tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai * Khái niệm tiếng mẹ đẻ Theo Nguyễn Thiện Giáp [5], ngôn ngữ đầu tiên (hay tiếng mẹ đẻ) là một ngôn ngữ mà ngƣời ta đƣợc thừa hƣởng trong thời thơ ấu, và có thể không đƣợc giảng dạy chính thức trong trƣờng học. Đặc trƣng của ngƣời nói tiếng mẹ đẻ của một ngôn ngữ là trực giác về những gì họ có trong ngôn ngữ của họ mà những ngƣời khác không thể nói đƣợc tiếng mẹ đẻ.
Khả năng của một ngôn ngữ không đƣợc giáo dục chính thức ở trình độ cao sẽ giảm đi giống nhƣ là một ngƣời trở nên già nua.Trong ngôn ngữ học hiện đại, sự khởi đầu của tuổi dậy thì thƣờng đƣợc coi là kết thúc giai đoạn đƣợc gọi là quan trọng, trong đó sự tiếp nhận tiếng mẹ đẻ là có thể đƣợc. * Khái niệm ngôn ngữ thứ hai Theo Nguyễn Quốc Hƣng [4], một ngôn ngữ không đƣợc xem nhƣ tiếng mẹ đẻ, thông thƣờng đƣợc gọi là ngôn ngữ thứ hai. Ngôn ngữ thứ hai (second language) là ngôn ngữ đƣợc dạy ngay trong môi trƣờng ngôn ngữ ấy, mà ở bên 8 z ngoài học sinh vẫn có thật nhiều cơ hội nghe, thấy và vận dụng những gì mình đã học.Trong thời thơ ấu, nếu có sự tiếp xúc đầy đủ, ngƣời ta có thể nói đƣợc phần lớn tiếng mẹ đẻ.Song ngữ và đa ngôn ngữ nằm trong phần lớn các tiêu chuẩn của thế giới. Ở các nƣớc phƣơng Tây có xu hƣớng thay thế ngôn ngữ khác nhau của dân chúng ở các khu vực địa phƣơng, thành một thứ tiếng duy nhất, đó là ngôn ngữ theo tiêu chuẩn quốc gia.
Việc tiếp nhận của ngôn ngữ thứ hai thƣờng là khó khăn hơn tiếng mẹ đẻ và để duy trì kiến thức của họ, cần thiết phải tiếp tục sử dụng thƣờng xuyên. Theo các nhà ngôn ngữ học, đó là truyền thống: tiếng mẹ đẻ đƣợc thừa hƣởng, ngôn ngữ thứ hai đƣợc học tập để nói chuyện. Đặc biệt trong ngôn ngữ thứ hai những gì có liên quan đến kiến thức hiểu biết thụ động của tiếng mẹ đẻ, thì sự hiểu biết đó thƣờng đƣợc tốt hơn so với những kiến thức tích cực, việc sử dụng ngôn ngữ riêng của mình. Ngay cả đối với một ngƣời có thể dễ dàng nói ngôn ngữ thứ hai một cách hoàn hảo cũng phải thƣờng lƣu ý rằng đó không phải là tiếng mẹ đẻ của ngƣời nói vì giọng lạ.
Mức độ phát triển tiếng mẹ đẻ của trẻ em là yếu tố dự báo chắc chắn về khả năng phát triển ngôn ngữ thứ hai của chúng. Trẻ em đi học với nền tảng tiếng mẹ đẻ vững chắc sẽ phát triển khả năng đọc viết tốt hơn trong ngôn ngữ ở trƣờng học. khi cha mẹ và ngƣời chăm sóc khác dành thời gian cho con cái và kể chuyện hoặc chia sẻ các vấn đề với trẻ để phát triển từ vựng và các khái niệm bằng tiếng mẹ đẻ, thì trẻ em tới trƣờng với hành trang vững vàng để học ngôn ngữ trong trƣờng và đạt đƣợc kết quả tốt. Kiến thức và các kỹ năng của trẻ chuyển ngôn ngữ mẹ đẻ chúng đƣợc học ở nhà thành ngôn ngữ trong trƣờng.Từ quan điểm về sự phát triển các khái niệm, các kỹ năng tƣ duy của trẻ, hai ngôn ngữ có mối quan hệ với nhau.
Việc chuyển giao ngôn ngữ có thể theo hai chiều: khi tiếng mẹ đẻ đƣợc dạy trong trƣờng và phát triển tại nhà, thì những khái niệm, các kỹ năng ngôn ngữ và đọc viết mà trẻ học đƣợc trong ngôn ngữ chiếm tỷ lệ cao có thể chuyển sang ngôn ngữ ở nhà. Tóm lại, cả hai ngôn ngữ hỗ trợ nhau khi môi trƣờng giáo dục và gia đình cho phép trẻ em tiếp xúc với cả hai ngôn ngữ.3 Lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ Thụ đắc ngôn ngữ là một thuật ngữ của tâm lí học và ngôn ngữ học.Thụ đắc ngôn ngữ đƣợc hiểu là quá trình mà đứa trẻ chiếm lĩnh, nắm bắt ngôn ngữ để giao tiếp. Đó chính là quá trình hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Diễn giải đơn giản hơn thì có thể hiểu thụ đắc ngôn ngữ là quá trình học ngôn ngữ một cách tự nhiên.
Thụ đắc ngôn ngữ cũng có thể đƣợc xem là một đặc trƣng riêng vốn có của loài ngƣời. Theo Huỳnh Thị Bích Vân [8], vào những năm 1970, lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ của Krashen cho rằng con ngƣời có khả năng học ngôn ngữ bẩm sinh và không có khác biệt đáng kể nào giữa cách chúng ta học tiếng mẹ đẻ và cách chúng ta học ngoại ngữ. Cách học ngoại ngữ hiệu quả theo Krashen có thể đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Chúng ta phát triển năng lực ngôn ngữ (mẹ đẻ hay ngoại ngữ) thông qua quá trình thụ đắc trực tiếp, không phải từ việc học thuộc danh sách từ vựng, quy tắc văn phạm hay làm bài tập. Hiệu quả thụ đắc trực tiếp diễn ra khi ta có thể hiểu đƣợc nội dung mà ta tiếp nhận trong trạng thái tinh thần thoải mái.
Để kết quả thụ đắc trực tiếp biến thành năng lực ngôn ngữ thì quá trình tích lũy phải dài và nội dung tiếp nhận phải đa dạng và đủ nhiều. Mô hình thụ đắc ngôn ngữ : * Chúng ta phát triển năng lực ngoại ngữ bằng cách tiếp xúc trực tiếp với ngoại ngữ chứ không phải bằng cách học kiến thức về ngoại ngữ đó. Giả thiết Thụ đắc trực tiếp/Học gián tiếp của Krashen phân biệt hai loại hoạt động học ngoại ngữ hoàn toàn khác nhau: thụ đắc trực tiếp (acquisition) và học gián tiếp (learning). Thụ đắc trực tiếp (acquisition) hay tích lũy tự nhiên là hoạt 10 z động vô thức, diễn ra khi ta tiếp xúc trực tiếp với ngoại ngữ nhằm mục đích truyền thông, tƣơng tự nhƣ quá trình trẻ em học tiếng mẹ đẻ.
Học gián tiếp (learning) là hoạt động có ý thức, diễn ra khi ta học thuộc các kiến thức về ngoại ngữ nhƣ danh sách từ vựng, quy tắc văn phạm, chú ý khi sử dụng v.