Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, mã số 9 22 01 09) với đề tài "Từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Xuân Nga thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Việt Hùng (Hà Nội, 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ ở lời gắn liền với hoạt động giao tiếp và phản ánh các mối quan hệ xã hội, phong tục tập quán, cùng bản sắc văn hóa của từng tộc người. Nghiên cứu từ ngữ xưng hô không chỉ giới hạn trong phạm vi ngữ pháp cấu trúc mà còn mở rộng sang ngữ dụng học, xã hội ngôn ngữ học và ngôn ngữ học xuyên văn hóa. Trong khi hệ thống từ ngữ xưng hô tiếng Việt đã được nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống lý luận ổn định, việc tìm hiểu từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ các dân tộc thiểu số tại Việt Nam — đặc biệt là trong các tác phẩm văn học dân gian truyền miệng như sử thi (khan) — còn ở mức độ khiêm tốn. Sử thi Dam Săn (Klei khan Y Dam Săn) là một tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu của người Ê-đê, phản ánh sâu sắc đời sống, thiết chế xã hội mẫu hệ và phong tục tập quán cổ truyền. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu về lớp từ ngữ xưng hô trong sử thi này trên các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa tộc người.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án bao gồm:

  1. Làm rõ đặc điểm của các từ ngữ xưng hô trong hoạt động thực tiễn giao tiếp của Sử thi Dam Săn trên các bình diện cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
  2. Chỉ ra các đặc trưng về văn hóa của người Ê-đê qua việc sử dụng các từ ngữ xưng hô trong những bối cảnh giao tiếp khác nhau ở Sử thi Dam Săn.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu về từ ngữ xưng hô, về giao tiếp, nhân vật giao tiếp, các quan hệ liên nhân và vấn đề lịch sự trong giao tiếp.
  2. Phân tích và miêu tả các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các từ ngữ xưng hô được sử dụng trong Sử thi Dam Săn ở các bối cảnh giao tiếp cụ thể giữa các nhân vật tham gia giao tiếp.
  3. Làm rõ đặc điểm văn hóa của người Ê-đê qua việc sử dụng lớp từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn trên các bình diện: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát hệ thống từ ngữ xưng hô trong tác phẩm Sử thi Dam Săn được rút ra từ văn bản cuốn Khan Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Mlan do tác giả Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch và chỉnh lí (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003). Tác giả luận án cũng lưu ý rằng văn bản sử thi này được ghi chép và chỉnh lý dựa trên lời kể của các nghệ nhân khan Ê-đê vào những năm 90 của thế kỷ XX, nhưng phản ánh các đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa của tộc người Ê-đê từ thời kỳ hình thành sử thi.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

1. Các nghiên cứu quốc tế

  • Hướng tiếp cận ngôn ngữ - văn hóa và ngôn ngữ - nhân chủng học: Các tác giả như Friedrich Engels, Sigmund Freud, G. Lounsbury, E. Leach, R. Needham và D. Schneider đã phân tích mối quan hệ thân tộc, thiết chế gia đình và xã hội, bước đầu chỉ ra các đại từ nhân xưng và từ ngữ xưng hô thân tộc trong tiếng Anh (grandmother, grandfather, mother, father, uncle, brother...). Nhóm tác giả Leach, Needham và Schneider cho rằng từ thân tộc mang tính chất quan hệ xã hội được quy định bởi hôn nhân hơn là quan hệ sinh học thuần túy.
  • Hướng tiếp cận ngôn ngữ học cấu trúc: M. Thompson phân loại đại từ nhân xưng tiếng Việt thành đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời. M. Emeneau trong Studies in Vietnamese (Annamese) Grammar (1951) phân tích vai trò của đại từ xưng hô và nhóm từ xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ (ông gọi là "đại từ cương vị"). L. Thompson trong A Vietnamese Reference Grammar (1965) chỉ ra sự thiếu hụt đại từ nhân xưng thực thụ ở ngôi thứ hai và thứ ba trong tiếng Việt, dẫn đến việc phải thay thế bằng danh từ thân tộc và danh từ chỉ chức vụ.
  • Hướng tiếp cận ngôn ngữ học chức năng: M. Halliday, R. Brown, A. Gilman, Carol Scotton, Zhu Wanjin nghiên cứu hệ quy chiếu ngôi trên trục quyền uy và thân sơ. V. Luong Hy trong Discursive Practices and Linguistic Meanings (The Vietnamese System of Person Reference) (1990) đề xuất nghiên cứu hệ thống quy chiếu người trong tiếng Việt đồng bộ trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
  • Nghiên cứu về dân tộc, tiếng Ê-đê và sử thi: H. Maitre trong Les Jungles Mới (1912) khảo tả đời sống kinh tế - xã hội của người Ê-đê và M'nông; L. Sabatier sưu tầm và biên tập luật tục Ê-đê (gồm 236 điều, 11 chương) và công bố bản dịch tiếng Pháp của Sử thi Dam Săn năm 1927 tại Paris; Anne De Hautecloque - Howe trong Người Êđê, một xã hội mẫu quyền (1984) miêu tả hệ thống tổ chức xã hội mẫu quyền Ê-đê. Về ngôn ngữ, L. Tadahiko Shintani nghiên cứu ngữ âm trong Études phonétique de la langue Rhadé (1981) và biên soạn từ điển Boh blư̆ klei Êđê - Yuan - Zapônê (1998); R. Louison Benjamin (1964), James A. Tharp và Y-Bhăm Buôn Yă (1980) biên soạn sách học và từ điển; Tam Thi Minh Nguyen nghiên cứu cú pháp và hiện tượng chuỗi động từ trong tiếng Ê-đê (2012, 2013, 2015). Về sử thi, G. Condominas (1955) phân tích xã hội học văn học qua Khan Dam Săn và Khan Dam Di; N. Niculin nghiên cứu mối quan hệ cội nguồn giữa sử thi Ê-đê và sử thi Mã Lai.

2. Các nghiên cứu trong nước

  • Về từ ngữ xưng hô tiếng Việt:
    • Ngữ pháp truyền thống (Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Phú Phong, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Chiến) xem danh từ thân tộc được lâm thời dùng như đại từ để xưng hô.
    • Ngữ pháp chức năng (Bùi Minh Yến, Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Văn Khang, Lê Thanh Kim, Trương Thị Diễm) phân biệt bản chất ký hiệu đại từ (thay thế, nội dung rỗng) và ký hiệu danh từ (định danh, nội dung đặc) theo lý thuyết của E. Benveniste, mở rộng nội hàm thuật ngữ "từ xưng hô" / "từ ngữ xưng hô".
    • Hướng đối chiếu liên ngữ (Nguyễn Văn Chiến, Dương Thị Nụ, Phạm Ngọc Hàm) so sánh thành tố nghĩa của từ thân tộc giữa tiếng Việt với tiếng Khmer, tiếng Anh, tiếng Hán.
  • Về dân tộc, tiếng Ê-đê và Sử thi Dam Săn:
    • Về dân tộc học và văn hóa: Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Vũ Quốc Khánh, Thu Nhung Mlô Duôn Du (nghiên cứu vị thế phụ nữ Ê-đê), Buôn Krông Thị Tuyết Nhung (nghiên cứu văn hóa mẫu hệ qua sử thi Ê-đê), Lê Thị Quỳnh Hảo (nghiên cứu phụ nữ Ê-đê và M'nông).
    • Về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp tiếng Ê-đê: Rơmah Dêl, Trương Văn Sinh, Đoàn Văn Phúc (các công trình ngữ âm - âm vị học tiếng Ê-đê, hiện tượng phụ âm tiền thanh hầu hóa, cấu tạo từ vựng), Y Tru Aliô (đối chiếu ngữ âm Ê-đê - Anh), Nguyễn Minh Hoạt, Đoàn Thị Tâm, Phan Văn Phức, Tạ Văn Thông (Ngữ pháp tiếng Êđê, Từ điển Êđê - Việt), Trương Thông Tuần (phương thức so sánh trong luật tục Ê-đê).
    • Về từ ngữ xưng hô tiếng Ê-đê: Nguyễn Minh Hoạt khảo sát hệ thống đại từ nhân xưng và từ thân tộc, xã hội làm phương tiện xưng hô; Đoàn Thị Tâm miêu tả đại từ nhân xưng và các từ thân tộc đặc biệt trong tiếng Ê-đê.
    • Về Sử thi Dam Săn: Chu Xuân Diên, Hoàng Ngọc Hiến, Phan Đăng Nhật, Đỗ Hồng Kỳ, Trương Bi, Nguyễn Văn Kha, Võ Hoàng Hiếu, Hà Thị Thu Hà, Nguyễn Hữu Thấu nghiên cứu trên các bình diện văn học dân gian, nhân vật anh hùng và thi pháp tự sự.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây về từ ngữ xưng hô tiếng Ê-đê chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả danh sách đại từ nhân xưng hoặc khảo sát từ vựng ở phạm vi hẹp; các nghiên cứu về Sử thi Dam Săn chủ yếu khai thác góc độ folklore, dân tộc học và văn học. Đến thời điểm thực hiện luận án, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về lớp từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn trên cả bốn bình diện: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa tộc người.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  1. Khái niệm xưng hô và từ ngữ xưng hô:

    • Luận án tiếp thu quan điểm của Nguyễn Văn Khang (2002): "Xưng hô là hành động tự xưng mình khi nói với người khác và gọi người khác là cái gì đó trong giao tiếp (kể cả người được nhắc tới) để bộc lộ được tính chất và tình cảm trong mối quan hệ xã hội với nhau".
    • Khái niệm từ ngữ xưng hô: Là những từ và ngữ (định danh) được dùng để tự xưng mình với người khác và gọi người khác là gì đó trong các mối quan hệ giao tiếp, bao gồm cả ngôi thứ ba (khách thể không trực diện).
  2. Ba chức năng cơ bản của từ ngữ xưng hô:

    • Chức năng định vị: Xác định vị thế, chỗ đứng của người nói (ego) và người đối thoại dựa trên tuổi tác, quan hệ gia đình, vị thế xã hội và tính chất quy thức của cuộc thoại (theo Đỗ Hữu Châu).
    • Chức năng chiếu vật: Chuyển hóa nghĩa biểu vật trong hệ thống ngôn ngữ thành nghĩa chiếu vật cá thể trong phát ngôn cụ thể, quy chiếu trực tiếp đến các nhân vật tham gia hội thoại.
    • Chức năng thể hiện quan hệ liên cá nhân: Vận dụng mô hình hai trục quan hệ của C. Kerbrat-Orecchioni:
      • Trục ngang (quan hệ thân - sơ): Biểu thị khoảng cách xã hội, mức độ thân cận hoặc xa cách giữa các nhân vật (mang tính đối xứng hoặc phi đối xứng).
      • Trục dọc (quan hệ quyền lực, vị thế cao - thấp): Biểu thị thứ bậc, quyền uy trong cấu trúc xã hội (mang bản chất phi đối xứng).
  3. Phân loại từ ngữ xưng hô:

    • Từ ngữ xưng hô chuyên dụng: Đại từ nhân xưng (ĐTNX) được chia theo các ngôi (ngôi I, ngôi II, ngôi III và lưỡng ngôi).
    • Từ ngữ xưng hô không chuyên dụng: Bao gồm từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc (trong gia đình, gia tộc và mở rộng ra ngoài xã hội) và từ ngữ chỉ quan hệ xã hội (chức danh, tầng lớp, vai vế xã hội).
  4. Ngữ cảnh và phân tích thành tố nghĩa:

    • Khảo sát sự chi phối của ngôn cảnh văn hóa, ngôn cảnh tình huống và tính quy thức (formal) / phi quy thức (informal) đối với sự lựa chọn từ ngữ xưng hô.
    • Ứng dụng lý thuyết ngữ nghĩa học của John Lyons và Đỗ Hữu Châu: Phân tích thành tố nghĩa (nghĩa tố cấu trúc trong từ điển học và nghĩa tố ngữ dụng phát sinh trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể).

Cơ sở thực tiễn

  1. Dân tộc Ê-đê và tiếng Ê-đê:

    • Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2009, dân tộc Ê-đê có dân số là 331.194 người, cư trú tập trung chủ yếu tại tỉnh Đắk Lắk (các huyện Krông Búk, Krông Pắc, Krông Bông, Krông Ana, Ea Súp, M'Drắk và thành phố Buôn Ma Thuột). Gồm các nhóm địa phương: Kpă, Adham, Mdhur, Bih, Blô, Ktul, Krung, Êpan, Hwing (trong đó phương ngữ Kpă là phương ngữ phổ thông).
    • Tiếng Ê-đê thuộc nhánh phía Tây của ngữ hệ Nam Đảo (Austronesia), nằm trong tiểu nhóm Chamic. Về ngữ âm, tiếng Ê-đê là ngôn ngữ đơn lập có xu hướng đơn tiết hóa mạnh mẽ, không có thanh điệu, sở hữu 140 tổ hợp hai phụ âm và 73 tổ hợp ba phụ âm, lưu giữ dấu vết tiền tố (m-, k-) và trung tố (-n-). Cú pháp câu theo trật tự Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ (SVO/CVB). Chữ viết Ê-đê xây dựng trên mẫu tự La-tinh, được công nhận chính thức từ năm 1936 theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương.
  2. Sử thi Dam Săn (Klei khan Y Dam Săn):

    • Là tác phẩm tự sự anh hùng ca dân gian nảy sinh vào thời kỳ chuyển tiếp từ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp sơ khai. Cốt truyện xoay quanh người anh hùng tù trưởng Dam Săn, thực hiện tập tục hôn nhân nối dòng (chuê nuê - čue nue) với hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị, lãnh đạo buôn làng đánh thắng các tù trưởng thù địch (Mtao Grự, Mtao Mxây), đi chặt cây thần và cầu hôn Nữ thần Mặt Trời.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp thống kê miêu tả:

  • Phương pháp miêu tả:
    • Các thủ pháp nội bộ: Phân loại, hệ thống hóa, thủ pháp đối lập xác định cấu tạo từ, phân tích thành tố trực tiếp, phân tích nét nghĩa cấu trúc và nghĩa dụng học, phân tích ngôn cảnh tình huống giao tiếp.
    • Các thủ pháp bên ngoài: Thống kê miêu tả tần số xuất hiện của các từ ngữ xưng hô trong văn bản sử thi; phân tích liên ngành ngôn ngữ học với văn hóa học, dân tộc học và nhân chủng học.
  • Phương pháp quy nạp và mô hình hóa: Tổng hợp ngữ liệu, lập bảng biểu đối sánh và rút ra các kết luận khoa học qua từng chương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về từ ngữ xưng hô, về dân tộc học, ngôn ngữ học tiếng Ê-đê và Sử thi Dam Săn. Luận án xác lập khung lý thuyết ngữ dụng học về hành vi xưng hô, xác định ba chức năng ngôn ngữ (định vị, chiếu vật, thể hiện quan hệ liên cá nhân trên hai trục ngang - dọc) và vai trò của ngữ cảnh quy thức/phi quy thức. Chương này cũng phân tích cơ sở thực tiễn về đặc điểm loại hình đơn lập - đơn tiết của tiếng Ê-đê (331.194 người theo điều tra năm 2009), đặc điểm chữ viết La-tinh (từ năm 1936) và giá trị tư tưởng - nghệ thuật của Sử thi Dam Săn trong việc phản ánh bức tranh sinh hoạt đời thường, tập tục mẫu hệ và các biến cố chiến tranh thị tộc buổi bình minh lịch sử.

Chương 2: Đại từ nhân xưng trong Sử thi Dam Săn

Chương 2 khảo sát hệ thống đại từ nhân xưng (ĐTNX) tiếng Ê-đê và sự hiện diện của chúng trong văn bản Sử thi Dam Săn.

1. Hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Ê-đê

Tiếng Ê-đê có 19 đại từ nhân xưng được phân chia theo 3 ngôi và đại từ lưỡng ngôi:

Ngôi giao tiếp Số lượng Các đại từ nhân xưng cụ thể Nghĩa tương đương trong tiếng Việt
Ngôi I (người nói) 5 kâo, hmei, drei, phung drei, phung hmei tôi, tao, chúng tôi, chúng tao, ta, mình, chúng mình, bọn ta, bọn tôi
Ngôi II (người nghe) 5 ih, ông (o\ng), di ih, phung ih, phung di ih ông, bà, anh, chị, mày, các ông, các anh, bọn mày
Ngôi III (người được nhắc đến) 8 ñu (`u), gơ̆ (*gơ*), di ñu, di gơ̆, phung ñu, phung di ñu, phung gơ̆, phung di gơ̆ nó, hắn, y, họ, bọn nó, chúng nó, lũ chúng nó
Lưỡng ngôi 1 arañ (ara\ng) người ta

2. Cấu tạo của đại từ nhân xưng

  • Từ đơn: Gồm 8 đại từ (kâo, hmei, drei, ih, ông, ñu, gơ̆, arañ).
  • Từ ghép: Gồm 8 đại từ hình thành bằng cách ghép yếu tố chỉ số nhiều di hoặc phung (phung drei, phung hmei, di ih, phung ih, di ñu, di gơ̆, phung ñu, phung gơ̆).
  • Ngữ đại từ: Gồm 3 đơn vị kết hợp đa tầng (phung di ih, phung di ñu, phung di gơ̆).

3. Đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng và văn hóa

  • Đại từ ngôi I: kâo được nhân vật dùng để tự xưng trong bối cảnh giao tiếp thân mật hoặc khẳng định vị thế cá nhân; drei mang tính chất gộp (bao gồm cả người nghe), thể hiện sự hòa đồng cộng đồng.
  • Đại từ ngôi II: ih mang sắc thái trung tính, linh hoạt; ông mang nét nghĩa thân mật suồng sã hoặc bộc lộ thái độ khinh bỉ, giận dữ khi đối đầu với kẻ thù trong các trận đánh giữa Dam Săn và các tù trưởng Mtao Grự, Mtao Mxây.
  • Đại từ ngôi III: ñu và gơ̆ trỏ khách thể gián tiếp, phân biệt sắc thái trung tính hay coi thường tùy ngữ cảnh.
  • Đại từ lưỡng ngôi: arañ trỏ đối tượng khái quát, người khác ngoài cuộc thoại.
  • Đặc trưng văn hóa phản ánh: Việc sử dụng ĐTNX trong sử thi thể hiện tinh thần bình đẳng trong quan hệ cộng đồng buôn làng Ê-đê, đồng thời phân định rõ ràng ranh giới giữa bạn bè, người thân với kẻ thù xâm phạm buôn làng.

Chương 3: Từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn

Chương 3 đi sâu phân tích lớp từ ngữ xưng hô không chuyên dụng có nguồn gốc từ quan hệ thân tộc (danh từ thân tộc - DTTT).

1. Đặc điểm cấu tạo và phạm vi hành chức

  • Hệ thống từ thân tộc tiếng Ê-đê phản ánh chi tiết quan hệ thân tộc hai bên nội - ngoại nhưng ưu tiên định danh dòng họ mẹ.
  • Các từ ngữ thân tộc được khảo sát trong hai phạm vi giao tiếp:
    • Giao tiếp trong gia đình, thân tộc: Xưng hô giữa vợ chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em, ông bà - cháu.
    • Giao tiếp mở rộng ngoài thân tộc: Dùng từ thân tộc để xưng hô với các thành viên buôn làng nhằm biểu thị sự tôn trọng, thân mật và thiết lập liên minh cộng đồng.

2. Từ ngữ thân tộc đặc biệt và sự chi phối của tập tục

  • Luận án phân tích nét nghĩa dụng học đặc thù của từ adei (nghĩa gốc: em). Trong ngữ cảnh gia đình Ê-đê cổ truyền, bà ngoại (aduôn) có thể dùng adei để xưng hô với cháu gái ngoại. Hiện tượng này chỉ được lý giải thỏa đáng thông qua tập tục hôn nhân chuê nuê (]uê nuê - nối dây/nối nòi): Khi người bà mất đi, nếu dòng họ bên nữ không còn ai thay thế làm vợ kế tiếp cho người ông, người cháu gái ngoại có thể thực hiện trách nhiệm "làm nuê" (vợ nối dòng) cho ông ngoại.
  • Phản ánh cấu trúc hôn nhân gia tộc mẫu hệ: Mối liên kết nối dòng qua nhiều thế hệ được thể hiện xuyên suốt qua cuộc đời Dam Săn: chàng lấy hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị (vợ nối nòi của dòng họ cậu Mtao Kla); khi Dam Săn qua đời, linh hồn hóa thành ruồi đầu thai vào bụng chị gái Hơ Âng, sinh ra Dam Săn cháu, và người cháu này tiếp tục lấy Hơ Nhị làm vợ nuê.

3. Đặc điểm văn hóa Ê-đê qua từ ngữ thân tộc

  • Phản ánh văn hóa mẫu hệ: Đề cao vai trò của phụ nữ và dòng họ mẹ trong việc quyết định hôn nhân, quản lý tài sản buôn làng.
  • Bảo vệ tập tục chuê nuê: Giữ gìn của cải và dòng máu không bị phân tán ra ngoài thị tộc.
  • Thể hiện quan niệm "vạn vật hữu linh": Các nhân vật sử thi sử dụng từ thân tộc để gọi và trò chuyện với muông thú, thần linh (yang), cây cối, xem thiên nhiên như những thực thể có quan hệ ràng buộc với con người.

Chương 4: Từ ngữ chỉ quan hệ xã hội dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn

Chương 4 nghiên cứu các từ ngữ xưng hô chỉ quan hệ xã hội được sử dụng trong tác phẩm.

1. Đặc điểm cấu tạo

  • Từ đơn và từ ghép chỉ quan hệ xã hội: Các danh từ chỉ chức vị, vị thế như mtao (tù trưởng), khua (người đứng đầu, già làng), mnuih (người), hlui (tôi tớ, nô lệ).
  • Ngữ danh từ chỉ quan hệ xã hội: Kết hợp giữa từ chỉ thân phận/chức vụ với tên riêng hoặc định ngữ mô tả (ví dụ: các danh xưng trỏ tù trưởng giàu có, trỏ người giúp việc, trỏ khách lạ).

2. Đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng

  • Phân định các tầng lớp trong xã hội Ê-đê thời kỳ phân hóa ban đầu: Tù trưởng giàu mạnh (Mtao Grự, Mtao Mxây, Dam Săn), tầng lớp tôi tớ (hlui), dân làng (buôn sang).
  • Trong giao tiếp hàng ngày, các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội được sử dụng linh hoạt kết hợp với nguyên tắc lịch sự, giảm thiểu tính áp đặt quyền lực tuyệt đối.

3. Đặc điểm văn hóa Ê-đê thể hiện qua giao tiếp xã hội

  • Ít phân biệt đẳng cấp xã hội gắt gao: Dù có sự phân tầng giữa tù trưởng và tôi tớ, cách xưng hô trong sinh hoạt buôn làng vẫn giữ được sự gần gũi, tôn trọng nhân cách con người.
  • Hài hòa, tế nhị trong ứng xử: Thể hiện qua các nghi thức chào hỏi, tiếp khách, mời rượu cần trong các dịp lễ hội (nghi lễ ăn năm uống tháng).
  • Tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường: Khi có biến cố chiến tranh bảo vệ buôn làng hoặc tổ chức tang lễ cho tù trưởng, các tù trưởng lân cận (người M'nông, người Bih) và dân làng đều gắn kết, thể hiện qua các biểu thức xưng hô thân hữu mang tính liên minh bộ lạc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án cung cấp một hệ thống ngữ liệu thực tế về từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn, phân tích đồng bộ trên 4 bình diện: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa.
  • Luận án khẳng định và củng cố lý luận của ngữ dụng học và ngôn ngữ học xuyên văn hóa khi nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian: Cách thức lựa chọn từ ngữ xưng hô chịu sự chi phối của cấu trúc xã hội, thiết chế mẫu hệ và các chuẩn mực ứng xử của cộng đồng tộc người.
  • Góp phần nghiên cứu mối quan hệ ngôn ngữ học giữa các ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Chamic (Nam Đảo lục địa) tại Việt Nam với các ngôn ngữ Nam Đảo hải đảo.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp ứng dụng

  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho cán bộ, công chức người Kinh hoặc các dân tộc khác trong quá trình học tập tiếng Ê-đê và tiếp xúc giao tiếp với đồng bào Ê-đê tại địa phương (phục vụ các chương trình bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số theo Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg, Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg, Quyết định số 449/QĐ-TTg và Quyết định số 2356/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).
  • Là tư liệu phục vụ công tác giảng dạy tiếng Ê-đê trong hệ thống trường học tiểu học và các cơ sở giáo dục tại Đắk Lắk.
  • Giúp thế hệ trẻ người Ê-đê nâng cao năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, hiểu rõ các giá trị ngữ nghĩa - văn hóa trong kho tàng sử thi (khan), góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết và di sản văn hóa dân tộc thiểu số trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Ngữ liệu khảo sát của luận án dựa trên văn bản Khan Đăm Săn do Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch và chỉnh lý từ lời kể của nghệ nhân dân gian vào thập niên 90 của thế kỷ XX; đây không phải là ngôn ngữ ghi âm trực tiếp từ thời kỳ cổ đại sơ khai khi sử thi mới hình thành.
  • Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào văn bản Sử thi Dam Săn, chưa bao quát toàn bộ các khan khác hiện có trong kho tàng sử thi Tây Nguyên.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn với các tác phẩm sử thi Ê-đê khác như Khan Dam Di, Khan Khing Ju, Khan Dam Đơroan.
  • Thực hiện nghiên cứu đối chiếu liên ngữ về từ ngữ xưng hô giữa tiếng Ê-đê với các ngôn ngữ khác trong tiểu nhóm Chamic (Gia-rai, Ra-glai, Chu-ru, Chăm) hoặc giữa tiếng Ê-đê với tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng học văn hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học: Tham khảo khung phân tích ngữ dụng học và phương pháp khảo sát từ ngữ xưng hô trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số (đặc biệt là các chương 2, 3, 4 về phân tích cấu tạo, ngữ nghĩa và thành tố nghĩa dụng học).
  • Giảng viên và nhà biên soạn chương trình: Sử dụng các cứ liệu ngôn ngữ để biên soạn bài giảng ngữ pháp, từ vựng tiếng Ê-đê và sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số.
  • Cán bộ, công chức công tác tại vùng Tây Nguyên: Tham khảo các quy tắc xưng hô, đặc trưng văn hóa giao tiếp và phong tục tập quán mẫu hệ của người Ê-đê để nâng cao hiệu quả giao tiếp trong công tác dân vận và thực thi nhiệm vụ công quyền.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê gồm bao nhiêu đơn vị và được phân chia thế nào?

Theo khảo sát của luận án, tiếng Ê-đê có 19 đại từ nhân xưng:

  • Ngôi I (5 đại từ): kâo (tôi/tao), hmei (chúng tôi/chúng tao), drei (ta/mình/chúng mình), phung drei (bọn ta/bọn mình), phung hmei (bọn tao/bọn tôi).
  • Ngôi II (5 đại từ): ih (ông/bà/anh/chị/mày), ông (o\ng - mày), di ih (các ông/các bà/các anh/bọn mày), phung ih, phung di ih.
  • Ngôi III (8 đại từ): ñu (`u - nó/hắn), gơ̆ (*gơ* - nó/hắn/y), di ñu, di gơ̆, phung ñu, phung di ñu, phung gơ̆, phung di gơ̆.
  • Lưỡng ngôi (1 đại từ): arañ (ara\ng - người ta).

2. Về mặt cấu tạo, đại từ nhân xưng tiếng Ê-đê được chia thành những dạng thức nào?

Xét về cấu tạo và số lượng âm tiết, 19 đại từ nhân xưng tiếng Ê-đê gồm có:

  • 8 từ đơn: kâo, hmei, drei, ih, ông, ñu, gơ̆, arañ.
  • 8 từ ghép: Tạo bởi phụ tố chỉ số nhiều di hoặc phung kết hợp với đại từ đơn (phung drei, phung hmei, di ih, phung ih, di ñu, di gơ̆, phung ñu, phung gơ̆).
  • 3 ngữ đại từ: phung di ih, phung di ñu, phung di gơ̆.

3. Tập tục "nối dây" (chuê nuê) chi phối việc dùng từ xưng hô thân tộc như thế nào trong Sử thi Dam Săn?

Tập tục chuê nuê (]uê nuê) quy định khi vợ hoặc chồng qua đời, người còn lại sẽ tái hôn với người cùng nòi của người đã mất. Trong Sử thi Dam Săn, tập tục này dẫn đến việc sử dụng từ xưng hô thân tộc đặc biệt: bà ngoại (aduôn) gọi cháu gái ngoại là adei (em), bởi nếu bà mất mà gia tộc không còn ai thay thế, cháu gái ngoại có thể làm vợ nối nòi (nuê) cho ông ngoại. Cốt truyện thể hiện rõ khi Dam Săn làm chồng nối nòi của Hơ Nhị và Hơ Bhị (sau khi Mtao Kla chết), và sau đó Dam Săn cháu tiếp tục làm chồng nối nòi của Hơ Nhị.

4. Tiếng Ê-đê có vị trí như thế nào trong phân loại loại hình ngôn ngữ?

Tiếng Ê-đê thuộc nhánh phía Tây của ngữ hệ Nam Đảo (Austronesia), nằm trong tiểu nhóm Chamic. Về loại hình, tiếng Ê-đê là ngôn ngữ đơn lập có xu hướng đơn tiết hóa cao độ, không có thanh điệu, có 140 tổ hợp hai phụ âm và 73 tổ hợp ba phụ âm, sử dụng trật tự từ và hư từ để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp, cấu trúc câu theo mô hình Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ (SVO). Chữ viết La-tinh của tiếng Ê-đê được Toàn quyền Đông Dương công nhận chính thức từ năm 1936.

5. Văn bản ngữ liệu chính được luận án sử dụng là gì?

Luận án khảo sát văn bản Sử thi Dam Săn in trong cuốn Khan Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Mlan do tác giả Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch và chỉnh lý (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003).


Kết luận

Luận án "Từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn" của tác giả Phạm Thị Xuân Nga đã miêu tả và phân loại hệ thống từ ngữ xưng hô chuyên dụng (đại từ nhân xưng) và không chuyên dụng (từ ngữ thân tộc, từ ngữ chỉ quan hệ xã hội) trong văn bản sử thi Ê-đê. Thông qua việc phân tích cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng trên khung lý thuyết chức năng giao tiếp và quan hệ liên cá nhân, công trình đã làm sáng tỏ mối liên hệ giữa hành vi ngôn ngữ và các thiết chế văn hóa đặc thù của người Ê-đê như chế độ mẫu hệ, tục hôn nhân nối dòng chuê nuê và quan niệm vạn vật hữu linh. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp ngữ liệu cho ngôn ngữ học các dân tộc thiểu số mà còn cung cấp cơ sở ứng dụng thực tiễn cho công tác giáo dục, đào tạo cán bộ và bảo tồn di sản văn hóa truyền thống tại khu vực Tây Nguyên.