Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô Khi nghiên cứu về từ ngữ xưng hô, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đi theo các hướng sau: a) Hướng nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa, ngôn ngữ - nhân chủng học Tiên phong trong lĩnh vực này là các tác giả Friendrich Engels [153], Sigmund Freud (1856 – 1939), G.
Lounsbury, Leach, Needham và Schneider,. Các tác giả này đã lập các bảng về quan hệ thân tộc, gia đình và xã hội. Khi phân tích về nguồn gốc thân tộc, thiết chế xã hội, các nhà nghiên cứu đã bước đầu đề cập đến các đại từ nhân xưng (ĐTNX) và những từ ngữ được dùng để xưng hô trong mối quan hệ thân tộc như grandmother, grandfather, mother, father, uncle, brother,. Đáng chú ý là các tác giả Leach, Needham và Schneider cho rằng, các từ thân tộc không mang tính chất quan hệ sinh học, đặc biệt là huyết thống, mà đây là những từ mang tính chất xã hội nhất định, được quy đổi bởi hôn nhân.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này cũng chỉ mới là bước khởi đầu. b) Hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học cấu trúc Từ quan điểm của ngôn ngữ học cấu trúc, các tác giả M. Thompson đã chỉ ra được các “chất liệu”, các “phương tiện vật chất” cơ bản được dùng để thực hiện hành vi xưng hô trong tiếng Việt là các “đại từ nhân xưng” (pesonal pronouns), đồng thời đã phân chia ĐTNX thành hai nhóm: đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời để nghiên cứu. Với công trình Studies in Vietnamese (Annamese) Grammer [152], M.
Emeneau đã đề cập nhiều đến đại từ trong tiếng Việt, đặc biệt là đại từ xưng hô và nhóm xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ. Tác giả cũng đã nhận ra hạn chế của 6 luan an ĐTNX và vai trò quan trọng của các từ xưng hô lâm thời mà ông gọi là “Đại từ cương vị”. Thompson trong công trình A Vietnamese Reference Grammar [165] đã đề cập đến các ĐTNX trong tiếng Việt như: ta, tôi, họ, hắn,. cùng các danh từ thân tộc.
Với danh từ thân tộc, tác giả cho rằng giữa danh từ chung và danh từ riêng có hai mặt đối lập: thay đổi và không thay đổi; đồng nhất và không đồng nhất. Ông cũng cho rằng: “Số lượng các đại từ xưng hô thực thụ là quá ít và đại từ tôi, ta với thái độ xưng hô thể hiện sự kính trọng hay thái độ bề trên, ở ngôi thứ nhất không có đại từ tương ứng với nó ở ngôi thứ hai (chỉ người nghe) và ngôi thứ ba (chỉ người được nói đến), do đó phải thay bằng các từ thuộc từ loại hoặc các danh từ” [165, tr. c) Hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng Trên nền tảng lí thuyết được đề cập trong các công trình của M. Halliday, Brown và A.
Gilman, hay Carol.ScoHon và Zku Wanjin,. liên quan đến chức năng giao tiếp, hệ quy chiếu ở các ngôi trục quyền uy và thân sơ trong các vai giao tiếp, V. Luong Hy với công trình Discursive Practices and Linguistic Meanings (The Vietnamese System of Person Reference) (“Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học – hệ quy chiếu về người trong tiếng Việt”) [157] đã đề xuất hướng nghiên cứu từ xưng hô, cái mà tác giả gọi là “hệ thống quy chiếu về người” một cách đồng bộ trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Đồng thời, ông còn cho rằng, hệ thống quy chiếu ngôi tiếng Việt bao gồm 3 tiểu loại ngữ pháp: Đại từ nhân xưng, danh từ chung (danh từ thân tộc và danh từ cương vị) và danh từ riêng đối lập nhau trên hai phương diện là thay đổi/ không thay đổi, đồng nhất/ không đồng nhất… Tuy đã đi sâu phân tích và chỉ ra chức năng thay thế của danh từ chung và đại từ nhân xưng, nhưng quan điểm của ông còn hơi cứng nhắc khi xem xét về vấn đề từ loại và miêu tả các từ xưng hô thân tộc vẫn còn sơ lược, cho dù sự đóng góp của ông trong việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô là đáng ghi nhận.
Từ các quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã nêu, khi nghiên cứu về từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn, chúng tôi đã tham khảo về cách phân chia và sử dụng đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc và các danh từ khác làm phương tiện xưng hô để áp dụng trong luận án. Nghiên cứu về dân tộc Ê-đê và tiếng Ê-đê a) Nghiên cứu về dân tộc Ê-đê Nhiều học giả nước ngoài đã có quá trình nghiên cứu lâu dài về các tộc người ở Tây Nguyên nói chung và người Ê-đê nói riêng đặc biệt các học giả người Pháp như H. Trong các công trình nghiên cứu về người Ê-đê, ở những mức độ khác nhau, các tác giả trên đã quan tâm đến đời sống, phong tục, tập quán, nghi lễ,. Nghiên cứu sớm nhất về người Ê-đê là công trình Les Jungles Moi [159] của H.
Maitre khi mô tả đời sống xã hội, kinh tế, phong tục,. của nhiều dân tộc ở vùng Cao nguyên Trung bộ Việt Nam, trong đó có người Ê-đê, M’nông. Đây là nguồn tư liệu giá trị, khảo tả chân thực về cuộc sống của hai dân tộc này trong những năm đầu thế kỷ XX.Sabatier đã thu thập và biên tập bộ luật tục Ê-đê (sau này được Ngô Đức Thịnh biên tập) [117]. Văn bản luật tục Ê-đê được L.Sabatier chia 236 điều ra làm 11 chương và cơ cấu, sắp xếp nội dung theo từng mảng chủ đề, tương ứng với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Đó là những quy tắc ứng xử chứa đựng các tiêu chí về đạo đức, luân lí, các phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo, được mọi thành viên trong cộng đồng chấp nhận và thực hiện một cách tự giác. Chỉ đến công trình “Người Êđê, một xã hội mẫu quyền” của Anne De Hautecloque - Howe [149] thì cơ cấu tổ chức, các quan hệ xã hội, mà xã hội Ê-đê là một xã hội mẫu quyền điển hình ở Tây Nguyên mới được miêu tả một cách khá hệ thống, đầy đủ. b) Nghiên cứu về tiếng Ê-đê - Về ngữ âm L. Tadahiko Shintani đã nghiên cứu hệ thống âm vị học tiếng Ê-đê tương đổi tỉ mỉ trong công trình Études phonetique de la langue Rhadé [166].
Tuy vậy, sự miêu tả và lí giải của ông về ngữ âm- âm vị học đối với những âm thanh hầu và các nguyên âm lại chưa thực sự thuyết phục. Điều này được Đoàn Văn Phúc đề cập trong các công trình ngữ âm tiếng Ê-đê [84; 86; 88]. - Về từ vựng Với công trình Boh blu\ klei Êđê - Yuan - Zapônê [167] L. Tadahiko Shintani đã cung cấp một bảng từ vựng hết sức phong phú, góp phần nghiên cứu những bình 8 luan an diện khác nhau của tiếng Ê-đê.
Nhưng cũng như công trình [156], các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ đối chiếu từ ngữ giữa các ngôn ngữ chứ chưa gắn với ngữ cảnh cụ thể. Ngoài ra còn có thể kể tới một số sách công cụ như: các loại Sách học tiếng Ê- đê và các bộ Từ điển song ngữ tiếng Ê-đê được các tác giả như: R. Louison Benjamin [151], James A. Tharp and Y-Bhăm {uôn Yă [168] hay các sách học tiếng Ê-đê cũng nói về vấn đề cấu tạo từ thông qua các mô hình từ ghép, từ láy.
- Về ngữ pháp Tam Thi Minh Nguyen cũng có một số công trình [161], [162], [163], [164],… xoay quanh vấn đề ngữ pháp tiếng Ê-đê như: Some topics in Ede syntax [161], Expressive Forms in Bih [164]. Riêng công trình Verb serialization in Ede from a diachronic perspective [162] nghiên cứu tiếng Ê-đê trên phương diện từ loại (động từ). Nghiên cứu về sử thi Ê-đê và Sử thi Dam Săn Sử thi (khan) Ê-đê ra đời từ rất sớm và tồn tại trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, nhưng phải đến năm 1927, khi L.Sabatier sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp thì “Sử thi Đăm Săn” mới được xem là dấu mốc đầu tiên trong việc sưu tầm, nghiên cứu sử thi Ê-đê. Năm 1933, “Sử thi Đăm Săn” được in song ngữ Ê-đê - Pháp trên tạp chí của Viện Viễn Đông Pháp.Condominas, nhà dân tộc học nổi tiếng người Pháp, trong bài “Những quan sát xã hội học về hai trường ca Rađê” [Dẫn theo 26] đã nghiên cứu các khía cạnh về phương diện xã hội học, dân tộc học của Sử thi Dam Săn và Dam Di.
Khi đánh giá về Sử thi Dam Săn, chính ông cho rằng: “Người ta không thể nói về văn hóa dân gian Đông Dương nguyên thủy mà không nhớ ngay đến một cái đầu đề: Trường ca Đăm Săn. Bài thơ tuyệt vời này, bài thơ lớn đầu tiên ai cũng biết trong văn học truyền miệng của các bộ tộc ở Miền Trung Việt Nam, hiện nay hiển nhiên vẫn là một tuyệt tác”[26, tr. Trong công trình “Cuộc hôn nhân trong sử thi Ê-đê và Mã Lai”, tác giả N.Niculin đã tìm hiểu những mối quan hệ mang tính cội nguồn chung” của một số sử thi Ê-đê với sử thi Mã Lai. Ông còn dịch một số sử thi Ê-đê sang tiếng Nga và đã nhận xét rằng: “Kết quả tất cả những công 9 luan an việc lớn lao mà các nhà folklore Việt Nam đã làm được cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng các tác phẩm sử thi Ê đê đã được nghiên cứu sâu sắc hơn và toàn diện hơn so với sử thi của một loạt dân tộc khác ở Việt Nam” [Dẫn theo 57].
Các công trình nghiên cứu về sử thi Ê-đê và Sử thi Dam Săn đã được các tác giả khai thác từ nhiều góc độ, đây sẽ là nguồn tư liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nghiên cứu luận án này. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu từ ngữ xưng hô Ở trong nước, vấn đề từ ngữ xưng hô được nghiên cứu ở rất nhiều ngôn ngữ khác nhau và từ nhiều bình diện khác nhau. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống nhất phải kể đến các công trình nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt.
Khi nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đã đi theo các hướng nghiên cứu sau: - Quan điểm của ngữ pháp truyền thống Các tác giả Nguyễn Tài Cẩn [10], Nguyễn Minh Thuyết [122], Nguyễn Phú Phong [83],. đều xếp danh từ chỉ quan hệ thân tộc vào từ loại đại từ và cho rằng những danh từ thân tộc này có chức năng xưng hô như đại từ (tức đại từ lâm thời). Họ đã chia ĐTNX thành hai nhóm: Nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng (tôi, tao, tớ, .