CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Từ ngữ Phật giáo - hiện tượng ngôn ngữ xã hội 1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo Ngôn ngữ là phương tiện để con người giao tiếp với nhau, hoặc bằng lời nói hoặc bằng chữ viết. Theo thời gian, ngôn ngữ cũng thay đổi để đáp ứng nhu cầu, hoàn cảnh giao tiếp trong xã hội.
Hjelmslev, nhà ngôn ngữ học phương Tây đã nói: “Ngôn ngữ, tức là lời nói của con người, là một kho báu không bao giờ cạn kiệt. Ngôn ngữ không thể tách khỏi loài người, nó có mặt trong tất cả mọi hoạt động của con người. Ngôn ngữ là công cụ mà con người sử dụng để diễn đạt tư tưởng, tình cảm, ý chí cũng như hành vi, là công cụ mà con người tác động lên người khác cũng như để chịu sự tác động của người khác…”. (Đào Hà Ninh dịch, 2004, tr.
257) Tuy rằng mỗi cộng đồng dân tộc đều có một ngôn ngữ thống nhất nhưng tính thống nhất này không mang ý nghĩa tuyệt đối. Bởi lẽ, do hoàn cảnh địa lý và điều kiện lịch sử, sự phân bố giữa các giai tầng trong xã hội đã làm nảy sinh những lớp từ ngữ mới. Về điểm này, tác giả Nguyễn Văn Khang ghi nhận:“Sự tác động của nhân tố xã hội - ngôn ngữ thường không chỉ là một mà là sự tổng hợp của nhiều nhân tố dưới hình thức “nhân tố nọ kéo theo nhân tố kia”.” (Nguyễn Văn Khang, 2014, tr. 149) Do đó, khi đề cập đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo, tác giả cũng đã nhận định: “Ngôn ngữ và tôn giáo có mối quan hệ mật thiết, hai chiều… Ngôn ngữ phản ánh các hoạt động và việc mở rộng hoạt động của tôn giáo; tôn giáo tác động vào ngôn ngữ và có thể dẫn tới những thay đổi trong ngôn ngữ… Ngôn ngữ là nơi lưu giữ mọi mặt đời sống của tôn giáo…” (Nguyễn Văn Khang, 2014, tr.
291) 16 Trong các cộng đồng xã hội được phân biệt theo thế hệ (trẻ, già), theo giới tính (nam, nữ), theo tôn giáo (giáo chức, tín đồ) …, thì hoạt động ngôn ngữ của những cộng đồng này sẽ có những đặc điểm riêng về nội dung và hình thức. Trong xã hội, mỗi tôn giáo đều có lớp từ ngữ khác nhau tạo thành những đặc điểm riêng, quy ước trong giao tiếp của mình, như đạo Thiên chúa, Tin Lành thì có các từ ngữ: Hồng y giáo chủ, Giám mục, Linh mục, Mục sư, cha, cha cố, đức cha, soeur, giáo dân, con chiên; Phật giáo thì có các danh xưng: Phật, Như Lai, Thế Tôn, hiền giả, nhân giả, tôn giả, hòa thượng, thượng tọa, đại đức, ni trưởng, ni sư, sư cô, thiện nam, tín nữ, Phật tử, thí chủ, đạo hữu, liên hữu, cư sĩ… Ngoài ra, mỗi tôn giáo còn có những biệt ngữ được ứng dụng trong quá trình truyền đạo, chẳng hạn như nói về sự chết thì có: Chúa gọi về, về với Chúa, về cõi vĩnh hằng, về cõi Phật, vãng sinh Phật quốc, vãng sinh Tây phương, vãng sinh Tịnh độ, siêu sinh Tịnh độ, về cõi Niết-bàn, quá vãng, thất lộc, mãn phần, mãn duyên, hóa duyên ký tất, quá vãng. Từ những khảo sát trên có thể thấy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo là sự tương tác mật thiết. Nhờ có ngôn ngữ, tôn giáo mới có phương tiện để lưu giữ các thông tin, phát triển lâu dài; nhờ có sự phát triển của ngôn ngữ mà từ ngữ tôn giáo ngày càng phong phú.
Với Phật giáo, ngôn ngữ là phương tiện để truyền bá chánh pháp, cho nên từ ngữ được sử dụng khá đa dạng trong các văn cảnh khác nhau. Từ ngữ Phật giáo Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn ở phương Đông (Phật-Nho-Lão), là một tôn giáo có lịch sử lâu dài phong phú. Ở những thời kỳ đầu Phật giáo mới truyền vào Việt Nam (thế kỷ thứ II), học thuật xã hội ở Giao Chỉ đặt nặng về Hán học nên một số bản kinh sách Phật giáo tiếng Phạn được chuyển ngữ, lưu hành đều theo hình thức dùng chữ Hán ghi chép lại, dấu vết được tìm thấy trong Lục độ tập kinh do Thiền sư Khang 17 Tăng Hội dịch bằng chữ Hán. Điều này được Nguyễn Lang ghi nhận: “Hán học đã được sử dụng trong thế kỷ này mà những người theo Phật có biết Phạn ngữ cũng phải học Hán để ghi chép những điều về đạo Phật …, bài tam quy hay những đoạn kinh Phật thường được các vị sa-môn dạy cho tín đồ cũng phải được phiên dịch và lưu hành bằng Hán tự.” (Nguyễn Lang, 1979, tr.
Đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo phát khởi, giới học thuật Phật giáo mới phổ biến kinh Phật bằng Quốc ngữ qua ký tự La-tinh. Theo thời gian, tiếng Việt dần phát triển nhưng còn thiếu vốn từ có nghĩa tương đồng với các từ ngữ Phật giáo gốc Hán hàm súc mang tính triết lý, thuật ngữ. Do vậy, kinh Phật tiếng Hán lưu hành, truyền bá ở Việt Nam trong giai đoạn này thường được ghi chú theo âm Hán Việt. Trong quá trình chuyển ngữ, đáp ứng nhu cầu học Phật của mọi người, các dịch giả Việt có khuynh hướng dùng các từ Hán Việt Việt hóa (theo phong cách gọt giũa), hoặc khuynh hướng dùng các từ tiếng Việt địa phương (theo phong cách khẩu ngữ).
Do đó, dù đã có nhiều bản kinh Phật được chuyển ngữ từ Hán sang Việt trong những thập niên đầu thế kỷ XX, nhưng vẫn luôn mang dấu ấn của thời đại kim cổ giao thoa. Đến cuối thế kỷ XX, lớp từ ngữ Phật giáo sử dụng ngày càng có sự chọn lọc theo chức năng ngôn ngữ, phù hợp sắc thái biểu cảm hoặc trang trọng hoặc bình dân gần gũi với cách hiểu của đại chúng. Điều đó cho thấy, sự phát triển của tiếng Việt trong những thập niên cận đại cùng sự phát triển của ngôn ngữ học đã góp phần hữu ích cho công cuộc chuyển ngữ kinh sách Phật giáo, những tác phẩm kinh có giá trị học thuật văn chương. Trải qua quá trình tiếp xúc mật thiết hai chiều giữa ngôn ngữ và tôn giáo, nhờ chuyển ngữ kinh sách nên từ ngữ, thuật ngữ Phật giáo nhanh chóng gia nhập từ vựng tiếng Hán và tiếng Việt.
Việc gia nhập và thêm từ ngữ mới có ba tình huống: Một là, các từ ngữ, thuật ngữ Hán Việt là các danh từ chuyên môn biểu đạt khái niệm Phật giáo, được dùng một cách tự nhiên trong xã hội, thấm sâu vào lòng người, không lưu lại cảm giác “ngoại lai” như: cứu cánh, giác 18 ngộ, hoan hỷ, nhân duyên, nhẫn nhục, nhân quả, phát tâm, phương tiện, sám hối, từ bi hỷ xả, tùy hỷ, tùy thuận, vô lượng, vô biên, v. Hai là, các từ do chuyển ngữ tận dụng các yếu tố có khả năng kết hợp của tiếng Hán mà tạo thành từ ngữ mới, biểu đạt nghĩa tương đương như: duyên khởi, duyên sinh, pháp giới (pháp tánh, thật tướng), trực đạo (chánh đạo), vô vi (chân như), v. Ba là, căn cứ theo quan niệm của Phật giáo, theo ngữ nghĩa trong văn bản, các từ ngữ mới được sáng tạo thêm, như tiếng Hán thì có “bổn lai diện mục” chuyển sang Việt “mặt thật xưa nay”, hoặc là chỉ sự ra đời của các bậc Thánh thì có “thị hiện, xuất hưng, xuất hiện,” v. Theo Lương Hiểu Hồng (1992, tr.17), từ ngữ Phật giáo có 6 loại: từ phiên âm, từ hỗn hợp (Phạn-Hán), từ dịch nghĩa, từ ngữ tiếng Hán được Phật hóa, thành ngữ và tục ngữ Phật giáo.
Chu Thục Mẫn (2000, tr.16) thì chia thành 5 loại, không có tục ngữ Phật giáo. Ở đây, chúng tôi tạm nêu 5 loại từ ngữ Phật giáo tiếng Hán tiêu biểu. (1) Từ phiên âm là từ tiếng Phạn phiên âm theo cách đọc của tiếng Hán, như: (Anuttara-samyak-saṃbodhi), phiên âm → A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ- đề 阿耨多羅三藐三菩提; (Bhagavan) → Bạc-già-phạm 薄伽梵; (prajñā) → bát-nhã 般若; (Dānapati) → đàn-việt 檀越, v. (2) Từ dịch nghĩa là từ âm đọc tiếng Phạn dịch nghĩa như: (A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề) → Vô thượng chánh đẳng chánh giác 無上正等正覺, Vô thượng chánh đẳng bồ-đề 無上正等菩提; (Bạt-già-phạm) → Thế Tôn 世尊; (đàn-việt) → bố thí 布施, v.
Trong đó, “chiên-đàn”, “câu-vật-đầu” là phiên âm Phạn. 19 (4) Từ ngữ tiếng Hán được Phật hóa là những từ ngữ tiếng Hán được Phật giáo đưa vào sử dụng mang màu sắc tôn giáo như: âm ty (âm phủ), bái sám, bố thí, cúng tế, diêm vương, lễ bái, pháp, phóng sinh, quỷ la-sát, tâm, thiện, v. Năm loại từ ngữ tiếng Hán trên được dùng để biểu đạt khái niệm của Phật giáo. Lý Kiến Hân ghi nhận: “Ngôn ngữ thời thượng cổ Trung Quốc thường chủ yếu là đơn âm, dần dần phát triển thành từ phức hợp…”.
Theo đó, việc chuyển ngữ kinh sách Phật tiếng Hán phần lớn sử dụng từ song tiết và từ đa tiết như: an cư kiết hạ, kết tập, nghiệp chướng, phiền não, tập khí, thần thức, ý thức, v. Ngoài ra, do ảnh hưởng xã hội nên có một số từ ngữ Phật giáo được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau, như từ “pháp sư” mà giới Phật giáo Đài Loan hay dùng có hai nghĩa: (1) Vị thầy tu tinh thông Phật pháp”; (2) Thầy pháp chuyên cúng tế trừ tà ma. Theo Từ điển Phật Quang (babylon), từ “pháp sư” có 4 nghĩa: (1) Người học rộng, thông suốt tất cả chương cú. (2) Biết rõ tướng sinh diệt của các pháp thế gian và xuất thế gian.
(3) Chứng đắc thiền định trí tuệ. (4) Lời nói và việc làm như nhau. Tuy nhiên ở Nam bộ, người dân chỉ dùng theo nghĩa thứ hai (thầy pháp). Hiện tại, nhiều từ ngữ Phật giáo được sử dụng trong các lĩnh vực học thuật, cũng như trong đời sống xã hội, có liên quan đến vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, nên việc chuyển ngữ cũng được xem xét phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc; phù hợp với phong cách viết và phong cách nói trong từng lĩnh vực.
20 Do vậy, từ ngữ Phật giáo trong các văn bản kinh sách được chuyển ngữ từ Hán sang Việt được khảo sát ở phương diện rộng. Về “từ”, ở đây là lớp từ Hán Việt đơn tiết, song tiết, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ thuần Việt; các từ Hán Việt biến đổi âm đọc theo vùng miền (ảnh hưởng ngữ nghĩa). Về ngữ, “ngữ” ở đây là ngữ tiếng Hán trong quan hệ với tiếng Việt, bao gồm cả các thuật ngữ, các ngữ chính phụ, ngữ liên hợp, ngữ rút gọn, ngữ cố định trong câu. Tổng quan vấn đề chuyển ngữ 1.
Khái niệm Xã hội phát triển, việc chuyển ngữ luôn được xem trọng, vì đó là điều cần thiết để giải mã và nhập mã các ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, làm phương tiện giao tiếp trong nhiều lĩnh vực hành chính xã hội, tôn giáo, các ngành khoa học, v.