Nghiên Cứu Về Từ Ngữ Chỉ Sự Vật và Hiện Tượng Tự Nhiên Trong Thành Ngữ Tiếng Việt

Tài liệu nghiên cứu Luận văn từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng việt, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
114
12
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của đề tài

0.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG

1.1. Những vấn đề chung về từ

1.2. Khái niệm về từ

1.3. Các thành phần về nghĩa của từ

1.4. Sự chuyển nghĩa của từ trong hệ thống

1.5. Sự chuyển nghĩa của từ trong hoạt động

1.6. Quan niệm về ngữ cố định và thành ngữ

1.6.1. Quan niệm về ngữ cố định

1.6.2. Quan niệm về thành ngữ

1.7. Phân biệt thành ngữ với quán ngữ, cụm từ tự do với tục ngữ

1.7.1. Phân biệt thành ngữ với quán ngữ

1.7.2. Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do

1.7.3. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

1.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT

2.1. Khái quát từ ngữ chỉ sự vật và thành ngữ có yếu tố chỉ sự vật

2.2. Khái niệm từ ngữ chỉ sự vật

2.3. Thành ngữ có yếu tố chỉ sự vật

2.4. Từ ngữ chỉ thế giới thực vật và động vật trong thành ngữ tiếng Việt

2.4.1. Từ chỉ thế giới thực vật

2.4.2. Ý nghĩa biểu trưng của một số hình ảnh thực vật tiêu biểu trong thành ngữ tiếng Việt

2.4.3. Từ chỉ thế giới động vật

2.4.4. Ý nghĩa biểu trưng của một số hình ảnh động vật trong thành ngữ tiếng Việt

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: TỪ NGỮ CHỈ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT

3.1. Quan niệm về tự nhiên

3.2. Khái niệm về tự nhiên

3.3. Con người trong mối quan hệ với tự nhiên

3.4. Từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên

3.5. Những từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt

3.6. Ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng Việt

3.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Từ Ngữ Tự Nhiên Trong Thành Ngữ VN

Thế giới tự nhiên đa dạng và phong phú, là nguồn cảm hứng bất tận cho ngôn ngữ, đặc biệt là trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt. Nghiên cứu từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về văn hóa, tư duy và cách người Việt cổ cảm nhận thế giới. Thành ngữ không chỉ là đơn vị ngôn ngữ mà còn là một phần của văn hóa Việt Nam, phản ánh kinh nghiệm, quan sát và tri thức dân gian. Việc nghiên cứu thành ngữ ở khía cạnh này mở ra cánh cửa khám phá những ý nghĩa biểu tượng ẩn sau những hình ảnh quen thuộc. Từ điển thành ngữ cũng là một nguồn tài nguyên quan trọng trong quá trình nghiên cứu.

1.1. Khái Niệm và Đặc Điểm của Thành Ngữ Tiếng Việt

Thành ngữ tiếng Việt là những cụm từ cố định, mang ý nghĩa biểu tượng và thường được sử dụng để diễn tả một ý niệm, kinh nghiệm hoặc quan sát nào đó. Theo Nguyễn Thiện Giáp, thành ngữ là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, với ý nghĩa không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Tính biểu cảm của thành ngữ thường rất cao, giúp diễn đạt ý một cách sinh động và sâu sắc hơn. Chúng đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp và văn chương, làm phong phú thêm vốn ngôn ngữ học của chúng ta.

1.2. Vai Trò của Yếu Tố Tự Nhiên trong Thành Ngữ

Yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển thành ngữ tiếng Việt. Các sự vật tự nhiên trong thành ngữ, hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ thường được sử dụng như những hình ảnh ẩn dụ, so sánh để diễn tả các khái niệm trừu tượng. Ví dụ, hình ảnh mưa gió có thể tượng trưng cho khó khăn, gian khổ; trăng sao tượng trưng cho vẻ đẹp, sự vĩnh hằng. Việc phân tích ý nghĩa biểu tượng của các yếu tố tự nhiên này giúp ta hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam.

II. Vấn Đề Thiếu Nghiên Cứu Sâu Về Từ Ngữ Tự Nhiên

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, nhưng số lượng các nghiên cứu tập trung vào từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc chưa khai thác hết tiềm năng của thành ngữ trong việc phản ánh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Việc thiếu các nghiên cứu chuyên sâu cũng gây khó khăn trong việc giảng dạy và truyền bá văn hóa Việt Nam cho thế hệ trẻ. Nghiên cứu này mong muốn góp phần lấp đầy khoảng trống này.

2.1. Hạn Chế trong Phân Loại và Giải Thích Thành Ngữ Tự Nhiên

Một trong những thách thức lớn là việc phân loại thành ngữ dựa trên các yếu tố tự nhiên. Việc xác định ý nghĩa thành ngữ một cách chính xác cũng gặp nhiều khó khăn do tính biểu tượng và ẩn dụ cao. Phân tích ý nghĩa biểu tượng đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về văn hóa và ngôn ngữ học. Các phương pháp so sánhẩn dụ thường được sử dụng để giải thích ý nghĩa thành ngữ.

2.2. Thiếu Ứng Dụng Thực Tế trong Giáo Dục và Văn Hóa

Việc nghiên cứu thành ngữ liên quan đến tự nhiên chưa được ứng dụng thành ngữ một cách rộng rãi trong giáo dục và văn hóa. Các tài liệu giảng dạy thường chỉ tập trung vào ý nghĩa bề mặt mà chưa khai thác hết ý nghĩa biểu trưng và giá trị văn hóa. Cần có những phương pháp tiếp cận sáng tạo để ứng dụng thành ngữ vào việc giảng dạy và truyền bá văn hóa Việt Nam.

III. Phương Pháp Phân Loại Từ Ngữ Tự Nhiên Trong Thành Ngữ

Để nghiên cứu thành ngữ một cách hiệu quả, cần có phương pháp phân loại rõ ràng dựa trên các tiêu chí nhất định. Trong nghiên cứu này, thành ngữ được phân loại theo các nhóm sự vật tự nhiênhiện tượng tự nhiên khác nhau. Việc phân loại giúp ta dễ dàng phân tích và so sánh ý nghĩa của các thành ngữ, từ đó rút ra những kết luận có giá trị.

3.1. Phân Loại Theo Sự Vật Động Vật Thực Vật Địa Hình

Phân loại thành ngữ theo các nhóm sự vật tự nhiên như từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ, từ ngữ chỉ thực vật trong thành ngữtừ ngữ chỉ địa hình trong thành ngữ. Mỗi nhóm sự vật mang một ý nghĩa biểu trưng riêng, phản ánh những quan niệm và giá trị của người Việt. Ví dụ, thành ngữ liên quan đến núi sông thường thể hiện sự vững chãi, trường tồn.

3.2. Phân Loại Theo Hiện Tượng Thời Tiết Thiên Tai Vũ Trụ

Phân loại thành ngữ theo các nhóm hiện tượng tự nhiên như từ ngữ chỉ thời tiết trong thành ngữ, thành ngữ về mưa, thành ngữ về gió, thành ngữ về mặt trời và các hiện tượng vũ trụ. Các hiện tượng này thường được sử dụng để diễn tả các trạng thái cảm xúc, sự kiện lịch sử hoặc quy luật tự nhiên. Ví dụ, thành ngữ về mưa có thể tượng trưng cho sự tươi mới, khởi đầu.

IV. Phân Tích Ý Nghĩa Biểu Tượng Từ Ngữ Tự Nhiên Trong Thành Ngữ

Mục tiêu quan trọng của nghiên cứu là phân tích ý nghĩa biểu tượng của các từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ. Việc phân tích ý nghĩa biểu tượng giúp ta hiểu sâu sắc hơn về tư duy, văn hóa và thế giới quan của người Việt. Mỗi sự vậthiện tượng tự nhiên mang một ý nghĩa biểu trưng riêng, được hình thành qua quá trình lịch sử và giao tiếp.

4.1. Ý Nghĩa Biểu Tượng của Động Vật Trong Thành Ngữ

Các loài động vật thường được sử dụng để tượng trưng cho những phẩm chất, tính cách hoặc trạng thái khác nhau. Ví dụ, con rồng tượng trưng cho quyền lực, sự cao quý; con hổ tượng trưng cho sức mạnh, sự dũng cảm. Ý nghĩa biểu tượng của động vật có thể thay đổi tùy theo thành ngữ cụ thể.

4.2. Ý Nghĩa Biểu Tượng của Thực Vật Trong Thành Ngữ

Các loài thực vật cũng mang những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Ví dụ, cây tre tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất; hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao, thuần khiết. Ý nghĩa biểu tượng của thực vật thường gắn liền với đặc tính sinh học và vai trò của chúng trong đời sống con người. Biện pháp tu từ như ẩn dụnhân hóa thường được sử dụng.

4.3. Ý Nghĩa Biểu Tượng của Hiện Tượng Thời Tiết Trong Thành Ngữ

Các hiện tượng thời tiết như mưa, gió, nắng, bão thường được sử dụng để diễn tả những biến động, thay đổi trong cuộc sống. Mưa có thể tượng trưng cho sự khởi đầu mới, gió tượng trưng cho sự thay đổi, nắng tượng trưng cho sự ấm áp, hạnh phúc, còn bão tượng trưng cho những khó khăn, thử thách. Tính biểu cảm của thành ngữ được thể hiện rõ nét qua cách sử dụng các hiện tượng thời tiết.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Dạy Và Học Thành Ngữ Hiệu Quả

Nghiên cứu này có thể được ứng dụng vào việc dạy và học thành ngữ tiếng Việt một cách hiệu quả hơn. Bằng cách hiểu rõ ý nghĩa biểu tượng của các từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên, người học có thể dễ dàng ghi nhớ và sử dụng thành ngữ trong giao tiếp. Giáo viên có thể sử dụng các ví dụ minh họa sinh động để giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam.

5.1. Xây Dựng Bài Giảng Về Thành Ngữ Tự Nhiên

Nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp để xây dựng các bài giảng về thành ngữ liên quan đến tự nhiên. Bài giảng nên tập trung vào việc phân tích ý nghĩa biểu tượng của các sự vậthiện tượng tự nhiên, đồng thời kết hợp với các hoạt động thực hành để giúp học sinh nắm vững kiến thức.

5.2. Phát Triển Tài Liệu Học Tập Về Thành Ngữ Tự Nhiên

Cần phát triển các tài liệu học tập chuyên biệt về thành ngữ liên quan đến tự nhiên. Tài liệu nên bao gồm các ví dụ minh họa sinh động, các bài tập thực hành và các hoạt động tương tác để giúp học sinh tự học một cách hiệu quả.

VI. Kết Luận Giá Trị Văn Hóa Và Hướng Nghiên Cứu Mới

Nghiên cứu từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng Việt không chỉ có giá trị về mặt ngôn ngữ học mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu này mở ra những hướng đi mới trong việc khám phá kho tàng thành ngữ của dân tộc.

6.1. Giá Trị Văn Hóa của Thành Ngữ Tự Nhiên

Thành ngữ liên quan đến tự nhiên phản ánh những giá trị văn hóa sâu sắc của người Việt, như sự gắn bó với thiên nhiên, sự tôn trọng các quy luật tự nhiên và sự trân trọng những gì mà thiên nhiên ban tặng. Thành ngữ là một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng và Phát Triển

Nghiên cứu này có thể được mở rộng và phát triển theo nhiều hướng khác nhau, như so sánh thành ngữ liên quan đến tự nhiên giữa các vùng miền, nghiên cứu thành ngữ trong các tác phẩm văn học và nghiên cứu ảnh hưởng của thành ngữ đến tư duy và hành vi của con người.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1. Những vấn đề chung về từ 1. Khái niệm về từ. Cho đến nay, vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong cách định nghĩa về từ.S Cao Xuân Hạo, “Chúng ta hiểu tính da dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho các đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordssyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word).

Thực ra nó chính là âm, hình vị, hoặc từ và tất cả là đồng thời nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ thì cơ cấu của Tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết”. Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ba nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một chữ viết rời. Theo quan niệm của Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê, “Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được. Nguyễn Văn Tu cho rằng, “Từ là đơn vị nhỏ nhất và đơn lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính biện chứng và lịch sử.

Tác giả Nguyễn Kim Thản viết, “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và một khối hoàn chỉnh về ngữ âm (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp. Hồ Lê nêu ý kiến, “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động có khả năng kết hợp 8 tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa. Lưu Văn Lãng cho rằng: “Những đơn vị dùng tách biệt rõ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất.

Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất và từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp Tiếng Việt”.214] Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu hoặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.14] Qua các định nghĩa nêu trên, chúng tôi nhận thấy có thể khái quát về khái niệm từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, mang tính sẵn có, cố định và là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp tạo nên câu. Các thành phần về nghĩa của từ Mỗi khi học nghĩa của một từ, chúng ta liên hội từ với những cái mà nó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động hoặc thuộc tính…mà từ đó làm tên gọi cho nó). Mặt khác nghĩa của từ cũng được thông qua các tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó được sử dụng. Từ liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng.

Nghĩa của từ không chỉ có một thành phần. Khi nói về nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây: 1. Nghĩa biểu vật (denotative) Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị được gọi là nghĩa biểu vật của từ. Hay nói cách khác, nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ.

Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình có bản chất vật chất hoặc phi vật chất. Ví dụ: đất, trời, mây, mưa, nắng, nóng, lạnh, thánh, thần,.Ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh 9 trong tự nhiên. Ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo những cái có trong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc. Ta có thể chứng minh điều này dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong ngôn ngữ cụ thể và dựa vào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các ngôn ngữ.

Biểu hiện thứ nhất của sự không trùng nhau đó là: trong thực tế sự vật luôn luôn tồn tại trong dạng cá thể, còn nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ lại mang tính đồng loạt, khái quát… Biểu hiện thứ hai của sự không trùng nhau đó là sự chia cắt hiện thực khách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ. Nghĩa biểu niệm (significative) Sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan có các thuộc tính, các thuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm. Hay nói cách khác, khái niệm là phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu biết trong thực tế. Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng.

Các thuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ hình thành các nét nghĩa. Tập hợp của các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành nghĩa biểu niệm. Như vậy, nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các nghĩa biểu vật mà liên hệ với hiện thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ. Các nét nghĩa bắt buộc từ các thuộc tính của các sự vật trong thực tế.

Mỗi dân tộc, tùy theo ngôn ngữ của mình, chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập nghĩa của từ trong hệ thống. Nghĩa biểu niệm chiếm vị trí hàng đầu trong từ vựng -ngữ nghĩa. Cần phải hiểu mối liên hệ mà chúng ta nói tới trong quan niệm về nghĩa của từ ở đây chính là mối liên hệ chỉ xuất, mối liên hệ phản ánh, cho nên nghĩa biểu hiện cũng có thể hiểu là sự phản ánh sự vật – biểu vật (đúng là phản ánh các thuộc tính, các đặc trưng của chúng) trong ý thức con người, được tiến hành bằng từ. 10 Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định.

Giữa các nét nghĩa có mối quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số nghĩa biểu vật của từ. Chính vì nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm. Ví dụ: Nước biển, nước mắm, ngồi ghế, ngồi chồm hổm, cái bàn, quần áo,… 1.

Nghĩa biểu thái (pragmatical meaning) Nghĩa ngữ dụng còn gọi là nghĩa biểu thái, là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói. Thuộc phạm vi nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá như: “mạnh yếu”, “to nhỏ”,…nhân tố cảm xúc như: “dễ chịu”, “khó chịu”, “sợ hãi”, “ngạc nhiên”,… nhân tố thái độ như: “trọng”, “khinh”, “yêu”, “ghét”,…mà từ gợi ra cho người nói và người nghe. Sự chuyển nghĩa của từ trong hệ thống 1. Nguyên nhân sự chuyển nghĩa của từ Sự chuyển nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau như sự phát triển không ngừng của thực tế khách quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tượng kiêng cữ, sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngôn ngữ…Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất chính là “nhu cầu giao tiếp của con người”.

Thay đổi nghĩa của một từ có sẵn, thổi vảo chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân, đáp ứng được kịp thời của nhu cầu giao tiếp. Các dạng chuyển nghĩa của từ Dạng móc xích Dạng tỏa ra 1. Phương thức chuyển nghĩa của từ Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là những 11 tổ chức lộn xộn. Nếu là một từ nhiều nghĩa (đa nghĩa) thì các nghĩa đó của từ có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo những cơ cấu tổ chức nhất định.

Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gồm những thành tố nhỏ hơn, có thể phân tích ra được và cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó. Như vậy, xét cơ cấu nghĩa của từ là ta xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn, và tất cả chúng được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào. Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của từ, trong ngôn ngữ có nhiều phương thức. Tuy nhiên, có hai phương thức quan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là: chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy).

Phương thức ẩn dụ Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b, c, d vì giữa a, b, c,d có điểm giống nhau. Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng. Ví dụ: Từ CHÂN trong tiếng Việt có nhiều nghĩa. Khi định danh cho chân người, nó có nghĩa là: Bộ phận cuối cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng, chạy, nhảy.

Trên cơ sở so sánh nhiều sự vật khác có hình dạng tương tự (hoặc người Việt liên tưởng và cho là chúng tương tự nhau, người ta đã chuyển CHÂN sang gọi tên cho những bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng, có tác dụng đỡ cho các bộ phận khác như: chân đèn, chân ghế, chân bàn, chân giường) nó khác so với những hoạt động bằng chân của con người mà ta nói ở trên. Có hai hình thức chuyển nghĩa: - Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể) - Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừu tượng). Phương thức hoán dụ Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên cho sự vật b, c, d vì giữa a, b, c, d tuy không giống nhau nhưng có một quan hệ gần nhau nào đó về không gian hay thời gian. Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tiếp cận.

Ví dụ: “Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan”. (thơ Nguyễn Du) Thì các từ tay, mặt, gan không mang nghĩa đen chỉ đối tượng (cái tay, khuôn mặt, bộ gan) mà dùng để chỉ con người trong nghĩa bóng của nó, như vậy bộ phận của con người được dùng để chỉ chính con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Từ Ngữ Chỉ Sự Vật và Hiện Tượng Tự Nhiên Trong Thành Ngữ Tiếng Việt" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách mà ngôn ngữ Việt Nam phản ánh thế giới tự nhiên thông qua các thành ngữ. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên mà còn khám phá ý nghĩa văn hóa và tâm lý của người Việt trong việc sử dụng chúng. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ các thành ngữ này không chỉ giúp nâng cao khả năng giao tiếp mà còn làm phong phú thêm vốn từ vựng và hiểu biết về văn hóa dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu "Thành ngữ có yếu tố 22mặt22 trong tiếng việt có đối chiếu với tiếng thái", nơi so sánh các thành ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Thái, hoặc tài liệu "Miền ý niệm vật dụng trong tiếng việt trên cứ liệu ca dao tục ngữ và thành ngữ", giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà các vật dụng được thể hiện trong ngôn ngữ. Cuối cùng, tài liệu "Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ việt anh có yếu tố chỉ tiền bạc" sẽ cung cấp cái nhìn thú vị về sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt giữa hai ngôn ngữ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn hóa.