Tách Chiết và Xác Định Thành Phần Hóa Học Cây Tần Dày Lá Tại Thị Xã Điện Bàn, Quảng Nam

Nghiên cứu tách chiết, xác định thành phần hóa học cây Tần dày lá ở Điện Bàn, Quảng Nam bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước.

Trường đại học

Trường Đại Học Quảng Nam

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

67
28
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. Phần 1. Lý do chọn đề tài

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.2. Phương pháp nghiên cứu

1.3. Vị trí địa lý, đặc điểm về tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động của thị xã Điện Bàn trong tỉnh Quảng Nam

1.4. Tổng quan về cây Tần dày lá

1.5. Tìm hiểu về tinh dầu

1.6. Nguyên liệu, dụng cụ, hóa chất

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tinh dầu thu được

1.8. Các phương pháp xác định chỉ tiêu lý học

1.9. Các phương pháp xác định chỉ tiêu hóa học

1.10. Định lượng tinh dầu

2. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

2.1. Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới lượng tinh dầu thu được

2.2. Ảnh hưởng của thời gian sau khi thu hái đến lượng tinh dầu trong cây Tần dày lá

2.3. Ảnh hưởng của thời gian chiết đến lượng tinh dầu thu được

2.4. Kết quả định lượng dầu

2.5. Kết quả xác định chỉ số lý học

2.6. Kết quả xác định chỉ số hóa học

2.7. Xác định thành phần hóa học trong tinh dầu của cây Tần dày lá bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát về đề tài và cây Tần dày lá

Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc tách chiết và xác định thành phần hóa học của cây Tần dày lá (Plectranthus amboinicus) ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước. Tần dày lá, còn được gọi là húng chanh, là một loại cây cỏ sống lâu năm, có lá dày, mọng nước và mùi thơm đặc trưng. Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu xác định hàm lượng tinh dầu, thành phần hóa học, các chỉ tiêu lý hóa và xây dựng quy trình chiết tách các hợp chất hữu cơ từ cây Tần dày lá. Việc nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần khai thác tiềm năng của cây Tần dày lá trong lĩnh vực dược phẩm, mỹ phẩm và hương liệu. Theo tài liệu, cây Tần dày lá đã được sử dụng rộng rãi trong dân gian để chữa ho, cảm cúm, viêm họng. "Tinh dầu tần có tác dụng kháng sinh mạnh đối với vi khuẩn gây ho như tụ cầu, liên cầu, phế cầu…" - một trích dẫn trong tài liệu khẳng định giá trị dược liệu của loại cây này. Đề tài cũng nhấn mạnh sự quan trọng của việc nghiên cứu cây tinh dầu nói chung, là nguồn nguyên liệu quý giá cho nhiều ngành công nghiệp.

II. Phương pháp nghiên cứu và khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước để tách chiết tinh dầu từ lá Tần dày lá. Các chỉ tiêu lý hóa của tinh dầu được xác định bằng các phương pháp tiêu chuẩn. Phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS) được sử dụng để xác định thành phần hóa học của tinh dầu. Khu vực nghiên cứu được giới hạn ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, một địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của cây Tần dày lá. Tài liệu cung cấp thông tin chi tiết về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động của thị xã Điện Bàn. "Thị xã Điện Bàn nằm về phía Bắc của tỉnh Quảng Nam; có vị trí địa lý từ 15°50’ - 15°57’ vĩ độ Bắc và 108° - 108°20’ kinh độ Đông." - trích dẫn từ tài liệu cho thấy vị trí địa lý cụ thể của khu vực nghiên cứu. Thông tin này giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguồn gốc của nguyên liệu và bối cảnh của nghiên cứu.

III. Tinh dầu và các phương pháp phân tích

Tài liệu cung cấp một cái nhìn tổng quan về tinh dầu, bao gồm trạng thái tự nhiên, thành phần cấu tạo, phân bố trong tự nhiên, tính chất lý hóa và vai trò của tinh dầu. Tinh dầu được định nghĩa là "hỗn hợp các chất hữu cơ tan lẫn vào nhau, có mùi đặc trưng tùy thuộc vào nguồn gốc nguyên liệu". Các phương pháp sản xuất tinh dầu và các phương pháp xác định chỉ tiêu lý học, hóa học của tinh dầu cũng được đề cập đến. "Chỉ số axit (Ax), Chỉ số xà phòng hóa (Xp), Chỉ số este (Es)" - là một số chỉ tiêu hóa học quan trọng được phân tích trong nghiên cứu. Việc trình bày chi tiết về các phương pháp này giúp đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có giá trị khoa học trong việc xác định thành phần hóa học và các đặc tính của tinh dầu Tần dày lá. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc ứng dụng cây Tần dày lá trong sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm và hương liệu. "Cây tinh dầu là nguồn cung cấp nguyên liệu thiên nhiên cho nhiều ngành công nghiệp như hương liệu, dược phẩm, mỹ phẩm…rất có giá trị." - đoạn trích này khẳng định tiềm năng ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu. Việc xác định được thành phần hóa học cụ thể của tinh dầu Tần dày lá sẽ mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm mới từ nguồn nguyên liệu này. Nghiên cứu cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc quý của Việt Nam. Tuy nhiên, tài liệu chưa đề cập đến hiệu quả kinh tế của việc khai thác và sử dụng cây Tần dày lá, một khía cạnh quan trọng cần được xem xét trong tương lai.

11/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Vị trí địa lý, đặc điểm về tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động của thị xã Điện Bàn trong tỉnh Quảng Nam [13] 1. Vị trí địa lý a. Về ranh giới hành chính và khu vực phát triển Thị xã Điện Bàn nằm về phía Bắc của tỉnh Quảng Nam; có vị trí địa lý từ 15050’ - 15057’ vĩ độ Bắc và 1080 - 108020’ kinh độ Đông.

Phía Bắc, Tây Bắc tiếp giáp với huyện Hoà Vang và quận Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng. Phía Nam, Đông Nam tiếp giáp với huyện Duy Xuyên và thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Phía Đông tiếp giáp biển Đông Phía Tây tiếp giáp với huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Diện tích tự nhiên 214,709 km2, dân số thường trú năm 2013 là 206.223 người, dân số qui đổi 230.

Toàn huyện được chia thành 20 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: Thị trấn Vĩnh Điện và 19 xã, chia làm 3 khu vực - Khu vực phía Đông: là vùng cát ven biển gồm 5 xã Điện Ngọc, Điện Dương, Điện Nam Bắc, Điện Nam Đông, Điện Nam Trung. Tổng diện tích 61,20 km2, dân số 55. Trên khu vực này, có Khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc với diện tích 390 ha, đã lấp đầy 341 ha (87,4% ), trong đó có 193,16 ha diện tích đất sản xuất với 49 dự án đầu tư sản xuất (đã hoạt động 45 doanh nghiệp, số còn lại hiện đang trong quá trình XD); có 06 cụm công nghiệp với tổng diện tích 210 ha, đã lấp đầy 38,26 ha, 9 doanh nghiệp đang hoạt động/16 dự án; gần 24.000 lao động đang làm việc tại các khu, cụm công nghiệp với 2/3 là của người địa phương; ngoài ra còn có Khu đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc diện tích 2.700ha, đã xây dựng hạ tầng 788,131 ha, với 36 dự án; có 8 km bờ biển với 2 resort 5 sao đang hoạt động, 15 resort – khách sạn cao cấp khác đang làm thủ tục đầu tư, 1 sân golf 18 lỗ. Khu vực phía Đông được xác định là khu vực tập trung phát triển đô thị - công nghiệp – du lịch làm động lực tan tỏa lên các khu vực còn lại.

3 - Khu vực dọc theo Quốc lộ 1A: gồm Thị trấn Vĩnh Điện và 6 xã Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam, Điện An, Điện Minh, Điện Phương. Tổng diện tích 42,69 km2, dân số 68. Khu vực này có 4 cụm công nghiệp – thương mại & dịch vụ với tổng diện tích 110,72 ha, đã lấp đầy 35,05 ha, có 11 doanh nghiệp đang hoạt động/18 dự án. Trong khu vực này, Thị trấn Vĩnh Điện là trung tâm chính trị - hành chính của huyện (nguyên là Thành tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 1833 -1945); xã Điện Phương nguyên là nơi đặt Dinh trấn Quảng Nam thời kỳ chúa Nguyễn.

Nơi đây có các món ăn nổi tiếng như bê thui Cầu Mống, mì quảng Phú Chiêm; có làng nghề truyền thống như đúc đồng Phước Kiều, chiếu chẽ Triêm Tây, bánh tráng Phú Triêm, làng nghề thủ công mỹ nghệ Đông Khương. Khu vực này được qui hoạch phát triển theo hướng đô thị hóa, gắn kết với khu vực phía Đông thành vùng nội thị của đô thị Điện Bàn. - Khu vực phía Tây : gồm 8 xã Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong (3 xã Gò Nổi), Điện Hồng, Điện Thọ, Điện Phước, Điện Hòa, Điện Tiến. Tổng diện tích 110,82 km2, dân số 82.

Khu vực này có 11 cụm công nghiệp nhỏ với tổng diện tích 125,39 ha, đã lấp đầy 23,68 ha, có 10 doanh nghiệp đang hoạt động. Khu vực Gò Nổi là quê hương của những chí sĩ anh hùng như Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Trần Quí Cáp, Phan Khôi,. xã Điện Tiến có đồi Bồ Bồ ghi dấu trận thắng Mỹ cuối cùng trước ngày Hiệp định Paris được ký kết, hiện nay được qui hoạch phát triển du lịch với diện tích 215 km2. Toàn bộ khu vực phía Tây trong qui hoạch là vùng ven khu vực nội thị, được tập trung phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Về vị trí địa kinh tế Thị xã Điện Bàn được Bộ Xây dựng công nhận đạt tiêu chuẩn đô thị loại 4 tại Quyết định số 222/QĐ-BXD ngày 10/3/2014, ngoài các tiêu chuẩn được chấm điểm theo qui định thì Điện Bàn còn có vị trí địa kinh tế đặc biệt quan trọng của tỉnh Quảng Nam và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, nằm trong cụm đô thị động lực Chân Mây – Đà Nẵng – Điện Bàn – Hội An – Tam Kỳ - Vạn Tường; là vùng giao thoa của các hoạt động kinh tế, thương mại và du lịch tầm cỡ quốc gia, quốc tế thông qua hệ thống cảng biển Tiên Sa, sân bay quốc tế Đà 4 Nẵng, hành lang giao thông đường bộ, đường sắt Bắc – Nam. Đô thị Điện Bàn nằm giữa đô thị Đà Nẵng (thành phố trẻ, trung tâm hành chính - thương mại - dịch vụ - công nghiệp) và đô thị Hội An (thành phố cổ mang nhiều giá trị văn hóa - lịch sử - thiên nhiên). Như vậy xét về tiềm năng thì đô thị Điện Bàn là duy nhất có khả năng kết hợp, hỗ trợ cùng hai đô thị này để xứng tầm trở thành một trung tâm đô thị đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển hành chính - kinh tế, văn hóa - xã hội qui mô lớn cấp tiểu vùng của Vùng duyên hải miền Trung và Tây nguyên. Về mạng lưới giao thông chính Điện Bàn tiếp giáp với Đà Nẵng nên hưởng lợi trực tiếp từ các đầu mối giao thông đặc biệt quan trọng như sân bay, cảng biển, ga đường sắt, đường quốc lộ.

Trên địa bàn huyện có mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh : - 4 trục dọc: Quốc lộ 1A (đã mở rộng), đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi (đang thi công, có điểm đấu nối xuống Điện Bàn), tuyến du lịch ven biển Đà Nẵng – Hội An (ĐT 603A), tuyến từ cảng Đà Nẵng qua Khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc và các Cụm công nghiệp đến Hội An (ĐT 603-607A). - 8 trục ngang: Trục nối Hội An qua thị trấn Vĩnh Điện đi huyện Đại Lộc (ĐT 608-609); đường nối Đà Nẵng qua đồi Bồ Bồ ra trục ĐT608-609 (ĐT605); đường nối quốc lộ 1A đi 3 xã Gò Nổi (ĐT610B); đường nối Quốc lộ 1A đi các xã vùng cát (ĐT603, ĐT607B, DH7, DH8, DH9). - Giao thông đường thủy liên vùng có sông Thu Bồn, sông Vĩnh Điện, sông Yên và đang lập kế hoạch nạo vét sông Cổ Cò nối Đà Nẵng – Điện Bàn – Hội An. Điều kiện tự nhiên a.

Đất đai, địa hình Đất đai thị xã Điện Bàn khá tốt, có độ phì nhiêu cao, nhóm đất phù sa chiếm đến 69,67% tổng diện tích đất, cho phép thâm canh nông nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng. Bên cạnh đó, Điện Bàn là một huyện đồng bằng ven biển nên địa hình tương đối bằng phẳng, độ chênh cao thấp, thuận lợi cho phát triển đô thị - công nghiệp. Có bờ biển cát trắng, nước trong, sông nước hiền hòa thuận lợi cho khai thác du lịch. Khí hậu, thủy văn Điện Bàn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển các cây trồng nông nghiệp như lúa màu, cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày.

Tuy nhiên do chế độ mưa phân hoá theo mùa trong năm không đồng đều gây khô hạn, nhiễm mặn trong mùa khô và bão thường xảy ra vào các tháng 9, 10, 11 kết hợp với các trận mưa lớn gây lũ lụt, xói lở khu vực ven sông làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân. Tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, lịch sử a. Tài nguyên đất đai Tính đến cuối năm 2012 tổng diện tích thị xã Điện Bàn là 21. Trong đó bao gồm: 1.982 ha đất dân dụng (gồm: đất khu ở, đất CTCC đô thi, đất xây dựng TDTT, đất giao thông nội thị) và 1.886 ha đất chuyên dụng (gồm: đất CN, TTCN, kho tàng, đất du lịch, di tích, tôn giáo, đất giao thông đối ngoại, đất quốc phòng, an ninh, đất bãi xử lý chất thải, đất nghĩa trang, nghĩa địa).518 ha các loại đất khác như: đất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp (4.296 ha); đất bằng chưa sử dụng (1.544 ha); đất sông, suối mặt nước (678 ha).

Tài nguyên nhân văn, du lịch: - Vùng gò đồi Điện Tiến có đồi Bồ Bồ có các phong cảnh đẹp với các khu rừng trồng, đồi cao, ao hồ và tượng đài v. được đầu tư tôn tạo và qui hoạch phát triển du lịch tham quan dã ngoại, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí. - Có sông Thu Bồn, Vĩnh Điện trong xanh, nên thơ với phong cảnh đồng quê trù phú hai bên bờ cho phép phát triển du lịch du thuyền trên sông, ngắm cảnh đồng quê, tham quan làng nghề kết hợp với du lịch văn hóa, lịch sử. Sông Cổ Cò đang có kế hoạch nạo vét để phát triển đô thị - du lịch sinh thái ven sông.

- Có bờ biển đã và đang triển khai nhiều khu du lịch, sân golf cao cấp, bãi tắm phục vụ du khách. - Có nhiều di tích lịch sử, văn hóa lâu đời có giá trị nhân văn sâu sắc, ngoài ý nghĩa lịch sử văn hóa còn là điểm hấp dẫn khách tham quan, du lịch. Các làng nghề truyền thống như nghề đúc đồng Phước Kiều, nghề ươm tơ, dệt lụa Điện 6 Phong, Điện Quang; dệt chiếu, đan mây tre mỹ nghệ, ẩm thực. cho phép phát triển du lịch tham quan làng nghề kết hợp du lịch nhân văn, thăm các di tích lịch sử, văn hóa.

- Là vùng đất có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, toàn huyện có 18.236 thương binh, 520 bệnh binh, 1.611 Bà mẹ được phong tặng và truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tiêu biểu như mẹ Nguyễn Thị Thứ, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi. Dân số và lao động Năm 2012, thị xã Điện Bàn có 122.846 người trong độ tuổi lao động chiếm 60,43%/ tổng dân số toàn huyện. Trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 115. Cơ cấu dân số phi nông nghiệp – nông nghiệp từ 35,5% - 64,5% năm 2005 chuyển sang 68% - 32% năm 2012.

Mức tăng dân số trong giai đoạn 2010 – 2012 là 0,91%/năm. Năm 2013, thị xã Điện Bàn có 230.000 người (dân số qui đổi) với 139.852 người trong độ tuổi lao động chiếm 60,8% tổng dân số. Trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 116. Lao động nông nghiệp tiếp tục giảm còn 29,24%, cho thấy xu hướng tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp – dịch vụ.

Mật độ dân số 1.071 người/km2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết mang tiêu đề "Tách chiết và xác định thành phần hóa học của cây tần dày lá ở thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước" của tác giả Trần Thị Tú Nhi, dưới sự hướng dẫn của Th.Sĩ Nguyễn Đức Trung, trình bày về quy trình tách chiết và phân tích thành phần hóa học của cây tần dày lá. Nghiên cứu này không chỉ góp phần làm rõ các hợp chất có trong cây mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng các thành phần này trong y học và công nghiệp. Qua đó, bài viết cung cấp cho độc giả những hiểu biết sâu sắc về phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước, cũng như giá trị của cây tần dày lá trong việc phát triển các sản phẩm thiên nhiên.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các chủ đề liên quan đến hóa học và ứng dụng trong cuộc sống, hãy tham khảo bài viết 1226 hàm lồi và bất đẳng thức Jensen Trần Sơn Hồng luận văn ĐH Quảng Nam. Bài viết này mang đến những kiến thức sâu sắc về toán học, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến các phương pháp phân tích trong hóa học.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ: Giao kết hợp đồng lao động theo pháp luật Việt Nam và Pháp từ góc độ so sánh để mở rộng kiến thức về các quy định pháp luật, điều này cũng có thể ảnh hưởng đến các nghiên cứu và ứng dụng hóa học trong thực tiễn.

Cuối cùng, nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh văn hóa liên quan đến các nghiên cứu khoa học, hãy xem bài viết Luận án tiến sĩ về văn hóa gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng. Bài viết này không chỉ cung cấp cái nhìn về văn hóa mà còn có thể liên quan đến các ứng dụng của các sản phẩm thiên nhiên trong đời sống cộng đồng.

Những liên kết trên sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực hóa học và các lĩnh vực liên quan.