Đặt vấn đề Nghiên cứu các hợp chất tự nhiên, bao gồm cả dược liệu, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực y học và nhiều lĩnh vực khác. Từ đây cho thấy tiềm năng điều trị bệnh, tạo ra thuốc mới và cung cấp các giải pháp chăm sóc sức khỏe hiệu quả và bền vững. Việt Nam có một tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều loại cây thuốc và dược liệu quý giá. Đây là một nguồn nguyên liệu bền vững và tự nhiên hơn cho các sản phẩm y tế.
Mặc dù vậy, việc nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của các loại dược liệu vẫn còn hạn chế. Trong cơ thể sinh vật cũng như con người luôn hình thành các gốc tự do, các gốc này sẽ phá huỷ các bào quan và cấu trúc bên trong tế bào dẫn đến đột biến và thoái hóa tế báo. Sự thoái hóa (sự oxy hóa) của tế bào là nguyên nhân gây ra quá trình lão hóa và phần lớn các bệnh nguy hiểm như Alzheimer, Parkinson, tăng huyết áp, ung thư, đái tháo đường,.Vậy nên việc sử dụng các hợp chất tự nhiên để trung hòa gốc tự do, hạn chế quá trình oxy hóa đang được quan tâm và phát triển vì tính hiệu quả và an toàn mà nó mang lại. Bên cạnh đó hoạt tính kháng oxy hóa cũng được xem xét phổ biến nhất trên khía cạnh sử dụng trong thực phẩm hay dược phẩm để phòng bệnh và chữa bệnh.
Cây Sài hồ nam (Pluchea pteropoda Hemsl.) là một loài thuộc chi Pluchea, tìm thấy chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và Châu Phi. Từ lâu cây này đã được sử dụng trong y học dân gian với một số ứng dụng truyền thống; trong Đông y thường dùng rễ cây Sài hồ nam phơi khô hoặc rễ cây Cúc tần (Pluchea indica) – đây là một loài cây rất giống với cây Sài hồ để như điều trị viêm, cảm sốt, tiêu chảy, cao huyết áp, nhức đầu,…Bên cạnh đó, theo các tài liệu nghiên cứu liên quan đến các loài cùng chi cho thấy nhiều hoạt tính sinh học đáng chú ý, đặc biệt là hoạt tính kháng oxy hóa. Tuy nhiên đến nay vẫn còn rất ít các công bố, ở Việt Nam việc nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính của cây này cũng chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát các bộ phận trên mặt đất và phân lập các chất từ cao chiết có độ phân cực thấp. Do đó, ở đề tài này mong muốn khảo sát được từng bộ phận riêng của cây (cụ thể là thân cây) và phân lập được các hợp chất có độ phân cực cao hơn.
1 Đây cũng chính là lí do chọn đề tài của khóa luận. Nội dung chính được thực là “Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính chống oxy hóa của cao phân đoạn PPT2-F4 từ thân cây Sài hồ nam (Pluchea pteropoda Hemsl. Đối tượng và mục tiêu của đề tài 2. Đối tượng của nghiên cứu Thân cây Sài hồ nam (Pluchea pteropoda Hemsl.
Mục tiêu của đề tài Các mục tiêu nghiên cứu của khóa luận như sau: - Khảo sát sơ bộ thành phần hóa học của thân cây P. - Xác định thành phần hóa học của các mẫu cao chiết thân cây P. pteropoda bằng phương pháp LC-MS. - Chiết tách và xác định thành phần hóa học trong tinh dầu thân cây P.
pteropoda bằng phương pháp GC-MS. - Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa của các mẫu cao chiết từ đó chứng minh được công dụng trong các bài thuốc dân gian và lựa chọn được phân đoạn tiềm năng để phân lập. - Phân lập các hợp chất từ cao chiết thân cây P. Kết quả dự kiến của đề tài - Xác định các nhóm hợp chất có trong thân cây P.
- Dự đoán được thành phần hóa học có trong các mẫu cao chiết thân cây P. - Xác định thành phần có trong tinh dầu thân cây P. - Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa trên các mẫu cao chiết. - Cô lập và định danh được hai hợp chất từ cao phân đoạn PPT2-F4.
Nguồn gốc và phân bố Chi Pluchea (hay chi Cúc tần) được đặt theo tên nhà tự nhiên học của Pháp Noel-Antoine Pluche, là một chi thực vật có hoa thuộc họ Asteraceae, bao gồm khoảng 80 loài. Chúng có nguồn gốc từ vùng ôn đới và nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở Châu Á, Bắc và Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Úc [1]. Ở Việt Nam, chi Pluchea chỉ mới ghi nhận được 4 loài: Pluchea pteropoda, Pluchea indica, Pluchea polygonata và Pluchea eupatorioides. Cây Sài hồ nam (hay còn được gọi là cây Lức) có tên khoa học là Pluchea pteropoda Hemsl.
Đây là một cây thuốc dân gian, sống lâu năm ở nhiều nơi, nhất là ở các vùng ven biển nhiệt đới châu Á, từ phía nam Trung Quốc đến Việt Nam, Campuchia, Thái Lan,… Ở Việt Nam cây tập trung chủ yếu ở những vùng nước mặn khu vực các tỉnh miền Trung và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Cây sống ở các cửa sông, ven bờ kênh, đường đi, vùng cao ven biển là đa số do đặc biệt thích nghi với các vùng nước lợ, đồng thời cũng sinh trưởng và phát triển tốt ở vùng nước ngọt hoặc nhiễm mặn. Các cây trưởng thành còn có thể chịu ngập úng vài ngày vào mùa mưa [2]. Sài hồ nam từ lâu đã được ứng dụng trong nền y học cổ truyền với công dụng điều trị nhứt đầu, hạ sốt, chống viêm, tức ngực,.
Thân rễ, cành lá và hoa của cây Sài hồ nam được trình bày trong Hình 1.1 và mô tả thực vật được trình bày trong Hình 1. Rễ và thân lá của cây P. Mô tả thực vật Sài hồ nam là một loài cây thân thảo, cao khoảng 40–60 cm, rất phân nhánh ở gốc. Thân hình trụ nhẵn, phân nhiều cành ở gần ngọn, vỏ ngoài màu đỏ nâu.
Lá có hình bầu dục hoặc hình trứng ngược, dài 3–4 cm, rộng 1–2 cm và thường mọc so le. Mép lá có răng cưa, phiến dày. Mặt lá nhẵn, vò có mùi thơm hơi hắc. Cuống lá ngắn khoảng 0,3 cm hoặc gần như không có.
Hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành, có màu hồng hơi tím. Quả hình trụ màu nâu nhạt, có 10 cạnh và có lông. Mùa hoa quả vào tháng 5–7 hàng năm [3]. Mô tả thực vật của cây P.
Nguồn: Lấy từ tài liệu tham khảo [4] 1. Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian của các loài thuộc chi Pluchea Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong y học khoa học hiện đại, nhưng y học cổ truyền vẫn là phương pháp điều trị bệnh chính của phần lớn người dân ở các quốc gia đang phát 4 triển. Phạm vi ứng dụng của cây thuốc đã được mở rộng khi hiểu biết của chúng ta về sinh lý con người và quá trình trao đổi chất tăng lên. Từ lâu, các loài thuộc chi Pluchea đã được sử dụng làm thuốc nhuận tràng, chất làm se da, thuốc hạ sốt, chống viêm, bảo vệ gan, thuốc giãn cơ trơn, thuốc bổ thần kinh và để điều trị bệnh kiết lỵ, đau thắt lưng, bệnh bạch cầu, chứng khó tiểu, bệnh trĩ và loét hoại tử,… [1].
Một số tác dụng dược lý của chi Pluchea được liệt kê trong Bảng 1. Tác dụng dược lý của một số loài thuộc chi Pluchea Bộ phận STT Loài Tác dụng dược lý TLTK dùng Chữa các bệnh về tai và ngoài da, lỡ loét. arabica Thân Trị nhọt và làm mùi thơm cho thuốc khử trùng. [6] 2 P arguta Toàn bộ Thuốc trị đầy hơi, khó tiêu.
[7] Trị hạ sốt, chậm tiêu, thấp khớp, nhứt đầu, tác dụng bổ thận 3 P. carolinensis Lá [8] và chữa chứng khó phát âm. chingoyo Lá Các bệnh về phế quản và cảm lạnh. [9] Sử dụng như thuốc rửa vết thương bị nhiễm trùng ở ngựa 5 P.
dentex Chưa xác định [10] và điều trị cảm lạnh. dioscoridis Toàn bộ Điều trị tràn dịch màng tinh hoàn và bệnh cổ trướng. Bộ phận trên Điều trị các bệnh về mắt và ngứa ngoài da (dùng làm thuốc [11] mặt đất mỡ bôi ngoài da). Lá Điều trị đau dạ dày, hạ sốt, kiết lỵ, ghẻ lỡ, thấp khớp.
indica Điều trị chứng đau thắt lưng, bệnh bạch cầu, làm thuốc bổ Rễ, lá [13] thần kinh và thuốc đắp chống loét. Làm thuốc hạ sốt, chữa đau cơ, hành kinh, đau bụng và co Chưa xác định [14] thắt dạ dày. Làm thuốc hạ sốt, giảm đau, nhuận tràng, bổ thần kinh. lanceolata Lá Điều trị các chứng khó tiêu, viêm khớp dạng thấp và viêm [15] phế quản.
Dùng làm thuốc điều kinh, điều trị chứng co giật trong y Toàn bộ [11] học Maya và kích thích tiết sữa. Chống tiêu chảy, đau buồng trứng và toàn thân, ho, cúm, thấp khớp, ngứa ngoài da, đau bụng, chuột rút, 9 P. odorata Lá đau răng, nhứt đầu, bong gân. Điều trị rong kinh, tăng [11] huyết áp, đau bụng kinh, buồn nôn và các bệnh về đường tiêu hóa.
Rễ Điều trị các bệnh về đường tiêu hóa 5 Bộ phận STT Loài Tác dụng dược lý TLTK dùng Bộ phận trên Dùng làm thuốc trị đầy hơi, long đờm, bệnh về tiêu P. quitoc 10 mặt đất hóa và chống thấp khớp. Bộ phận trên 11 P. rosea Thuốc tẩy giun.
mặt đất Toàn bộ Dùng làm thuốc thông mật, dạ dày. Điều trị các bệnh về gan, hạ nhiệt, đầy hơi, tiêu hóa. Bộ phận trên Dùng để chống ho, rối loạn tâm thần, rối loạn gan và mặt đất P. sagittalis chống viêm.
12 Dùng để an thần, bổ gan, lợi tiểu. Trị bệnh về tiêu hóa, Lá hô hấp và sốt rét. Rễ Dùng như thuốc bổ. Chưa xác Thuốc trị đầy hơi.
định Bộ phận trên 13 P. suaveolens Dùng để chữa viêm gan. symphytifolia Lá Chống tiêu chảy, đau bụng. wallichiana Rễ Chống thấp khớp, chống viêm.
Thành phần hóa học 1. Thành phần hóa học của P. pteropoda Trên thế giới chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học của cây Sài hồ nam, ở Việt Nam thì cũng mới vừa bắt đầu nghiên cứu. Thành phần hóa học của cây bao gồm coumarin, flavonoid, triterpenoid, saponin; không chứa alkaloid và glycoside tim.
Năm 2001, lần đầu tiên Đoàn Thanh Tường lần đầu tiên đã phân lập được 7 hợp chất (Hình 1.3) từ dịch chiết n-hexane của cây Sài hồ nam: β-sitosterol (1), stigmast-5,22-dien-3β-ol (2), β-sitosterol glucoside (3), taraxast-20(30)-en-3β-yl acetate (4), 26α, 27β, 28β-neohop- 13(18)-en-3β-yl acetate (5), hop-17(21)-en-3β-yl acetate (6), hop-17(21)-en-22-ol-3β-yl acetate (7). Trong đó, hợp chất (7) là chất mới thuộc nhóm triterpenoid [16]. Cấu trúc các hợp chất có trong cây P. Hai mươi chín hợp chất (90,4%) được xác định hiện diện trong tinh dầu của các bộ phận trên mặt đất của P.
pteropoda bằng cách sử dụng phương pháp phân tích GC-MS (Bảng 1. Thành phần hóa học của tinh dầu từ các bộ phận trên mặt đất của P.