Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1B 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7B Bài tập được xếp trong hệ thống PPDH mà phương pháp luyện tập thông qua việc sử dụng BTHH được xem là một trong những phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn; đồng thời đây cũng là một phương pháp học tập tích cực đối với HS. Do vậy, GV hóa học luôn tìm cách khai thác tốt chức năng của BTHH nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau. Xét riêng về phần bài tập hóa học vô cơ ở trường THPT nói chung và bài tập hóa học vô cơ lớp 10 nói riêng (phần phi kim), chúng tôi xin nêu ra một số nghiên cứu gần đây như: – Nguyễn Cao Biên (2008), Rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông thông qua hệ thống bài tập hóa học, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.
– Lê Thị Thanh Bình (2005), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông thông qua bài tập hóa học vô cơ, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội. – Trần Thị Trà Hương (2009), Xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ lớp 10 THPT nhằm củng cố kiến thức và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP. – Phạm Thị Bích Liên (2008), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học vô cơ phần phi kim nhằm bồi dưỡng học sinh khá giỏi trường trung học phổ thông, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội. – Vũ Thị Kim Oanh (2008), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương trình hóa học lớp 10 cơ bản, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.
– Nguyễn Thị Như Quỳnh (2006), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học (Phần phi kim – Hóa học lớp 10 nâng cao), luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội. – Trần Thị Thanh Tâm (2008), Rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học chương Oxi – Lưu huỳnh (Lớp 10 – chương trình nâng cao), luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP. – Nguyễn Cẩm Thạch (2009), Thiết kế bài giảng hóa học vô cơ ở trường trung học phổ thông (ban cơ bản) theo hướng dạy học tích cực, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP. – Nguyễn Thị Thanh Thủy (2006), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trung học phổ thông thông qua bài tập hóa học vô cơ, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội.
Xu hướng đổi mới PPDH hiện nay đặc biệt quan tâm đến hoạt động và vai trò của HS trong quá trình học tập, đòi hỏi HS phải tích cực hoạt động, tham gia vào quá trình khám phá, tích lũy kiến thức để nhanh hiểu bài đặc biệt là hiểu bài ngay tại lớp, nắm vững và vận dụng được kiến thức đã học. Các công trình nghiên cứu trên đều góp phần đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Tuy nhiên chưa có công trình nào khai thác hiệu quả của BTHH thông qua các hoạt động dạy học tức là thiết kế hệ thống bài tập lồng ghép vào hoạt động dạy học khi lên lớp nhằm tận dụng thời gian không nhiều ngay tại lớp để hướng dẫn bài tập cho HS góp phần làm cho giờ học trở nên nhẹ nhàng hơn, giảm tâm lý chán ngán, nặng nề về lý thuyết và nhất là tận dụng để buộc HS tái hiện, vận dụng nền kiến thức cũ đã được trang bị trước đó để tiếp thu kiến thức mới, từng bước xây dựng phương pháp học tập tốt hơn. Bài tập hóa học 8B 1.
Khái niệm bài tập hóa học B 0 2 Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ “bài tập” có nghĩa là “bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”. Theo tác giả Thái Duy Tuyên “bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra” [47, tr. Một số tài liệu lý luận dạy học thường dùng thuật ngữ bài toán hoá học để chỉ những bài tập định lượng, đó là những bài tập có tính toán khi HS cần thực hiện những phép tính nhất định. BTHH không chỉ cung cấp cho HS kiến thức, mà cả con đường để giành lấy kiến thức, cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức.
Do vậy, BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm [34, tr. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học đối với quá trình dạy học hóa học [4], [11], [40], B 1 2 [41], [42] Việc dạy học không thể thiếu bài tập. Như đã nói trên bài tập được xếp trong hệ PPDH. Nhiều nhà nghiên cứu lý luận dạy học hoá học đã nghiên cứu và nêu ra ý nghĩa, tác dụng to lớn của BTHH về nhiều mặt như phát triển, giáo dục trí dục và đức dục mà chúng tôi tổng kết lại như sau: - Giúp cho HS hiểu đúng, hiểu sâu hơn các khái niệm hoá học, củng cố, hệ thống hoá và khắc sâu các kiến thức hoá học cơ bản cũng như những kiến thức đã học một cách sinh động, hấp dẫn và thuận lợi nhất.
- BTHH là phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS tập vận dụng các kiến thức hoá học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức tiếp thu được qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình. Kiến thức HS tiếp thu được chỉ có ích khi sử dụng được. - Giúp HS phát triển các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát độc lập, rèn trí thông minh và năng lực sáng tạo. Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức đã học để giải đáp hoặc giải quyết những vấn đề được đặt ra trong học tập hoặc trong thực tiễn.
Ở đây HS được sử dụng một cách tổng hợp các kiến thức đã học, các thao tác tư duy, các phương pháp phán đoán suy lí để lựa chọn cách giải quyết hợp lí, ngắn gọn và nhanh nhất. - Góp phần hình thành và rèn luyện các kỹ năng, kĩ xảo về hoá học như kỹ năng cân bằng phương trình hoá học, kỹ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kỹ năng thực hành thí nghiệm, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học, kỹ năng nhận biết các chất, …góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS. - Giáo dục cho HS về tư tưởng, đạo đức, tác phong như rèn tính kiên nhẫn, trung thực trong lao động học tập, tính sáng tạo khi xử trí các vấn đề đặt ra, tính chính xác khoa học; nâng cao lòng yêu thích bộ môn; rèn luyện tác phong lao động có tổ chức, có kế hoạch, giữ gọn gàng, sạch sẽ nơi làm việc thể hiện rõ thông qua việc giải các bài tập thực nghiệm. - Có khả năng gắn kết các nội dung học tập hoá học ở trường học với thực tiễn đa dạng, phong phú của đời sống hoặc sản xuất hoá học.
Do đó BTHH có tác dụng giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, dạy nghề cho HS. - BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật, …) trong quá trình tiếp cận tri thức mới, giúp HS tích cực, tự lực khám phá, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng. - BTHH có tác dụng phát huy tính tích cực, tự lực của HS và giúp hình thành phương pháp học tập hợp lí.
- BTHH còn là phương tiện để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác, giúp cả GV và HS biết được những lỗ hổng kiến thức cũng như những sai sót mà HS hay mắc phải để kịp thời điều chỉnh, bổ sung.