ĐẶT VẤN ĐỀ Chi Trà (Camellia L.) với một số loài điển hình như trà xanh (Camellia sinensis L.), Trà hoa vàng Ba Chẽ cuống tím (Camellia chrysantha Hu Tuyama). được tìm thấy khá nhiều ở nước ta, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái nguyên, Phú Thọ, Hà Giang [9]. Chi Trà cũng là một trong những chi được ứng dụng nhiều nhất trong đời sống cũng như trong y dược nhờ các tác dụng đã được lưu truyền trong dân gian và chứng minh qua các nghiên cứu như: phòng ngừa ung thư; giải độc gan, thận; trị đái tháo đường, chống oxy hóa… [33], [21], [13]. Chi Trà có thành phần hóa học cũng vô cùng đa dạng, điển hình là các thành phần chính nhiều hoạt tính như: catechin, rutin, quercetin, caffein, acid gallic,….
Hải đường hay còn gọi là Hải đường Việt Nam, có tên khoa học là Camellia amplexicaulis (Pit.) Cohen-Stuart cũng là một loài thuộc chi Trà. Theo IUCN, Camellia amplexicaulis (Pit.) Cohen-Stuart dù đã tuyệt chủng trong tự nhiên nhưng hiện nay lại được trồng khá phổ biến ở Việt Nam với mục đích làm cảnh, loài này có hoa màu hồng đỏ rất đặc biệt. Tuy vậy, hiện nay trên thế giới có rất ít nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của chúng. Với mục đích tạo cơ sở khoa học để có thể nâng cao giá trị sử dụng của loài Hải Đường, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần hóa học định hướng tác dụng chống oxy hóa của cây Hải đường (Camellia sp.)” được thực hiện nhằm hướng tới các mục tiêu sau: - Mô tả đặc điểm hình thái và giải phẫu của thân và lá Hải đường.
- Phân lập được 1-2 chất tinh khiết từ lá của loài Hải Đường (Camellia amplexicaulis (Pit. - Đánh giá tác dụng chống oxy hóa của các chất vừa phân lập được trên mô hình DPPH. Tổng quan về chi Camellia L. Về vị trí phân loại Trong hệ thống phân loại thực vật, chi Trà (hay Chè- Camellia) có vị trí phân loại như sau [9]: Giới Thực vật Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliophyta) Bộ Chè (Theales) Họ Chè (Theales) 1.
Về đặc điểm thực vật chung Các loài thuộc chi Camellia thường là cây bụi hoặc cây nhỏ, thường xanh, cành nhẵn hoặc lông. Lá thường có cuống; đơn; mọc cách, không có lá kèm, kích thước lá khác nhau, có thể dài từ vài cm đến 45 cm; chất lá thường dạng da, dày mỏng khác nhau ít khi chất màng mỏng; chóp lá nhọn, có đầu nhọn hoặc kéo dài thành đuôi; gốc lá hình nêm hẹp, nêm rộng, tròn hay hình tim; mép có răng cưa nhọn hay tù, hiếm khi nguyên. Gân lá đa phần là lông chim. Đặc biệt phần lớn lá của các loài trà hoa vàng có các điểm tuyến màu đen ở mặt dưới.
Hoa đều, lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn độc hoặc tập trung 2-5 hoa ở nách lá hoặc đỉnh cành. Hoa màu đỏ, trắng, hồng hay màu vàng, mọc ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa đầy đủ, lưỡng tính, đối xứng tỏa tròn, cuống hoa ngắn hoặc gần như không. Lá bắc 2-8, mọc xoắn trên cuống hoa, tồn tại hoặc sớm rụng để lại sẹo.
Lá đài, tồn tại hoặc sớm rụng, thường 5 phiến. Tràng 4-19, hợp một phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài. Nhị nhiều, những nhị ngoài thường dính nhau thành cái chén hay ống ở phía gốc; vòng nhị phía trong rời nhau; chỉ nhị dài. Bộ nhụy bầu trên, 1-5 ô; vòi nhụy 1-5, dạng sợi, rời hoặc dính nhau ở mức độ khác nhau, bầu và vòi nhụy nhẵn hay phủ lông mịn.
Quả nang hình cầu, hình cầu dẹt hoặc hình trứng, khi khô chẻ ô từ trên xuống thành 3, 4 hay 5 mảnh; có trụ quả hay không; vỏ quả dày hay mỏng, hoá gỗ. Hạt thường 1 đến nhiều hạt trong mỗi ô, hình cầu, nửa cầu hay hình nêm, vỏ hạt màu nâu, nâu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng, phủ lông hay nhẵn [8], [4] Phân bố: Trên thế giới có khoảng 300 loài, phân bố chủ yếu ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, có mặt ở rất nhiều nước như: Châu Á (Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan, Iran, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nhật Bản, Scri-lanka, Trung Quốc, Việt Nam); Châu Âu (Thổ Nhĩ Kì, Liên Xô cũ); châu Phi (Burumdi, Ethiopia, Kenya, Maritius, Nam Phi, Uganda); khu vực Nam Mỹ (Argentina, Brazil, Ecuador, Peru), trong đó 80-90% các loài là loài bản địa Trung Quốc. Ở Việt Nam gặp 2 khoảng 70 loài, được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc như: Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang [8], [9], [18]. Về thành phần hóa học Chi Trà (Camellia) cho đến nay đã được nghiên cứu khá nhiều về thành phần hóa học.
Các hợp chất chính quan trọng nổi bật có thể kể đến như polyphenol (tanin, flavonoid, terpenoid, các phenolic….) acid amin, alcaloid, … Bảng 1. Thành phần hóa học của 1 số loài thuộc chi Camellia L. STT Loài Thành phần chính Một số hợp chất phân lập được 1 Camellia Hợp chất chính bao acid gallic, acid p -hydroxybenzoic, japonica gồm: phenolic (tanin, acid ferulic, acid ellagic, quercetin và (L.) flavonoid, acid phenolic),kaempferol. Quercetin 3-O-β- D - terpenoid, acid béo [35] galactopyranosid, quercetin 3-O-β- D - glucopyranosid, epicatechin [35] 2 Camellia Thành phần chủ yếu là L-theanin và acid γ-aminobutyric sinensis (L).
flavonoid (catechin), (GABA) [47]; epigallocatechin gallat Kuntze polysaccharide, (EGCG), (-)-epigallocatechin (EGC), protein, acid amin, (-)-epicatechin gallat (ECG) và (-)- saponin, caffein, acid epicatechin (EC) [42] gallic… [27] 3 Camellia Thành phần quan trọng quercetin-7-O-glucoside, quercetin-3-O chrysantha nhất là: polyphenol -rutinosid (rutin) và quercetin-3-O- (Hu) (flavonoid, tannin), glucoside (isoquercetin) [32]; quercetin Tuyama saponin, đường khử tự -7-O-β-D-glucopyranosid, catechin, do, acid amin, acid hữu epicatechin, keampferol, vitexin, cơ, các nguyên tố vi isovitexin [45] lượng [6] 4 Camellia Dầu hoa trà bao gồm kaemferol-3- O - [2- O -β-D- oleifera (C.) các acid béo không bão glucopyranosyl-6- O -L- Abel hòa, polyphenol, - rhamnopyranosyl]-β-D- squalene, saponin, glucopyranosid, kaempferol-3- O –β- nguyên tố vi lượng, D-glucopyranosyl-(1→4)-L- vitamin…. [46] rhamnopyranosyl-7- O -α-L- rhamnopyranosid, kaemferol-3- O – [ 2-O -β-D-xylopyranosyl-6- O -α-L- rhamnopyranosyl]-β-D-glucopyranosid, kaempferol-3- O -[4″″- O -acetyl-α-L- 3 STT Loài Thành phần chính Một số hợp chất phân lập được rhamnopyranosyl-(1→6)]-[β-D- glucopyranosyl-(1→2)]- β-D-glucopyranosid, kaempferol-3- O -[ 4″″- O -acetyl-α-L-rhamnopyranosyl- (1→6)]-[β-D-xylopyrano-syl-(1→2)]- β-D-glucopyranoside [19] 5 Camellia Chứa nhiều các 1,2-di- O -galloyl-4,6- O - (S)- taliensis phenolic như: các hexahydroxydiphenoyl- β -D- (WW Sm.) tannin thủy phân, các glucopyranose; 4- O -(6′- O -galloyl- Melchior dẫn chất catechin, 3 β– D-glucopyranosyl)- cis - p – este thơm acid quicnic, coumaric acid, 2- O -galloyl-4,6- O –(S )- caffein [20] hexahydroxydiphenoyl- β -D-glucopyranos; quercetin 3- O - β – D-glucopyranosid, kaempferol 3- O - rutinosid, rutin, kaempferol 3- O - β- D-galactopyranosid [14] 6 Camellia Chứa nhiều hợp chất kaempferol 3- O -(6''- O - trans - p - nitidissima khác nhau bao gồm: coumaroyl)- β -D- glucopyranosid, CW. Chi hợp chất phenolic kaempferol-3- O -rhamnosid, (flavonoid, lignan, acid quercetin-3'- O - β -D-glucosid, phenolic), saponin, kaempferol-7- O - β -D-glucosid, polysaccharid, nitidissimol A, nitidissimol B, nguyên tố kháng và các sexangularetin 3-O-(6''- trans-p - acid amin [48] coumarolyglucopyranosid) và sexangularetin 3-O-(2''- trans-p - coumarolyglucopyranosid) [44] 1. Về tác dụng sinh học Với các nhóm chất chính là: polyphenol, saponin, các polysaccharid, acid amin thì từ lâu các loài thuộc chi Camellia đã được ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống và điều trị: 1.
Tác dụng chống oxy hóa Các nghiên cứu về hoạt tính chống oxy hóa của các loài thuộc chi Camellia đã được thực hiện rất nhiều trên thế giới và cả Việt Nam.Với thành phần polyphenol có hàm lượng lớn trong dược liệu, các cây thuộc chi Camellia L. được cho là có khả năng chống oxy hóa tốt. 4 Từ các nghiên cứu trước đó, Camellia sinensis đã được chứng minh rộng rãi với khả năng chống oxy hóa nhờ nhóm catechin: epicatechin, epigallocatechin, epicatechin gallat và epigallocatechin gallat. Chúng là những chất có khả năng loại oxy và nito phản ứng [33].
Hoa trà (Camellia sinensis) đã được chú ý ngày càng nhiều vì người ta phát hiện ra rằng hoa trà có chứa các thành phần đại diện tương tự như lá trà, chẳng hạn như catechin, caffein và acid amin. Thành phần hóa học của hoa trà bao gồm chủ yếu là catechin, polysaccharide, protein, acid amin và saponin và do đó hoa trà sở hữu nhiều lợi ích sức khỏe khác nhau như chống oxy hóa, chống viêm, kích thích miễn dịch, chống ung thư, hạ đường huyết, chống béo phì và chống dị ứng [12]. Theo nghiên cứu của W. Lu (2008) thì dịch chiết của lá C.
chrysantha cũng cho khả năng giúp thanh thải các gốc tự do hydroxyl (. OH) và gốc tự do oxy (. O2) lần lượt là 15,70% và 36,71%, cao hơn so với polyphenol trong trà xanh ở cùng nồng độ. Khi nồng độ lên tới 1,25mg/mL, thì dịch chiết C.
chrysantha có thể hạn chế hình thành (.O2) hoàn toàn [31] Hay theo nghiên cứu của Thanh Lưu và các cộng sự, trong lá của Camellia crassicolumna var. multiplex được xác định chứa 18 hợp chất phenolic, bao gồm bốn flavan-3-ols, sáu flavonol glycoside, ba tannin thủy phân, hai dẫn xuất của acid chlorogenic và ba hợp chất phenolic đơn giản. Các hợp chất phân lập được đánh giá về hoạt tính chống oxy hóa bằng các thử nghiệm loại bỏ gốc tự do 1,1'-diphenyl-2- picrylhydrazyl (DPPH) và ức chế tyrosinase. Hầu hết chúng đều thể hiện hoạt động nhặt gốc DPPH đáng kể, trong khi flavan-3-ol và tannin thủy phân cho thấy hoạt động ức chế tyrosinase mạnh hơn [29].
Ngoài các polyphenol đã được nghiên cứu nhiều thì theo nghiên cứu của Tao Chen, Min Tang và các cộng sự (2023) về Camellia oleifera , thành phần polysaccharide có trong hoa, lá và vỏ quả của Camellia oleifera có khả năng bảo vệ tế bào Hep G2 và Caenorhabditis elegans khỏi tổn thương oxy hóa do t- BHP gây ra [15] 1. Tác dụng kháng khuẩn Đã có nhiều cây thuộc chi Camellia đã được nghiên cứu và chứng minh có khả năng kháng khuẩn tốt: Camellia sinensis có khả năng chống nấm Candida [21]. Hay theo nghiên cứu của J Steinmann, Jbuer vào năm 2009 về đặc tính nhiễm trùng của EGCG, nghiên cứu chỉ ra rằng thành phần epigallocatechin-3-gallat (EGCG) trong Camellia sinensis có khả năng kháng viruss với nhiều phương thức hoạt động khác nhau với nhiều họ viruss khác nhau như Retroviridae, Orthomyxoviridae và Flaviviridae, virus cúm A và virus viêm gan C, can thiệp vào chu kỳ sao chép AND của các virus: viêm gan B, virus Herpes simplex và Adenovirus. Ngoài ra với nồng độ lớn 10-110 lần thì EGCG có khả năng kháng lại các vi khuẩn bao gồm các chủng đa kháng 5 thuốc như Staphylococcus aureus kháng methicillin hoặc Stenotrophomonas maltophilia.
Hơn nữa, catechin EGCG có hoạt tính kháng nấm chống lại các loại nấm men gây bệnh ở người như Candida albicans [39]. Cấu trúc một số chất có khả năng kháng khuẩn trong chi Camellia L. Tác dụng hạ đường huyết Tác dụng hạ đường huyết cũng là một tác dụng phổ biến của các loài thuộc chi Camellia L.