phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học trong phần Sinh học Tế bao, Sinh học 10 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 9. Những đóng góp mới của đề tài ~ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rèn luyện KNTH và HĐHT để rèn luyện cho. 1S KNTH trong dạy học phần SHTB, Sinh học 10 ~ Đề xuất quy trình thiết kế các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHTB, Sinh học 10. ~ Xây dựng các dạng HĐHT để rên luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHTB, Sinh học 10 it quy trình tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong day học phần SHTB, Sinh học 10.
~ Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá mức độ rèn luyện cho HS KNTH trong. dạy học phần SHTB, Sinh học 10. Lược sử vấn đề nghiên cứu Trong suốt chiều dài lich sử phát triển giáo dục, việc hướng dẫn, rèn luyện. 'KNTH là vấn đề được nhiều quốc gia, nhiều người quan tâm, nhưng trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, vấn đề tự học được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Tình hình nghiên cứu trên thể giới ‘Theo Không Tử (người thầy vĩ đại của Nho giáo) thì việc phát huy tính tích cực, nhận thức của người học là vô cùng quan trọng. Ông xác định “Học nhỉ thời tập chí”, việc học tập là phải gắn liền với thực hành đê thông suốt những điều đã học. Giữa học tập và tư duy trong học tập là 2 yếu tố có mối liên hệ mật thiết, không. thể tách rời.
“Đề phát triển trí tuệ bắt buộc người học phải phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo để tự mình giảnh lấy tri thức” đó chính là quan niệm của nhiều nhà giáo. dục lớn ở thế kỷ XVII dén XIX (A.A Conmesky, Jacques Rousseau. Vì vậy, để học đạt kết quả thì người học phải chủ đông chiếm lĩnh tri thức và phải có KNTH thật tốt. ' Châu Á, vấn đề tự học cũng rất được quan tâm vào những năm 30 của thế kỷ XX, điển hình là sự kết luận của T.Makiguchi (nhà sư phạm Nhật Bản), ông cho rằng: “Giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá tị để đạt ến hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng”.
'Qua đó, ta thấy mặc dù quan điềm về tự học đã được hình thành rất sớm, tuy. nhiên khi xét về phương hướng giáo dục của các nước trên thế giới về rèn luyện 'KNTH cho HS thì PPDH tích cực có mằm mồng từ thế kỉ XIX và được phát triển từ những năm 20 ở Anh, Liên Xô (củ), Pháp, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức và phát triển mạnh từ những năm 70 của thế ki XX như Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc Một quốc gia lân cận khác như Thái Lan cũng đang tiến hành cải cách giáo. dục, giảm bớt số tiết học lý thuyết, tăng cường các tiết tự học, tiến hành dạy học. “môn học tổng hợp” nhằm giảm bớt áp lực, tạo không khí thoải mái vừa học vừa chơi nhưng vẫn đạt kết quả cao [30] Va 6 thé ky XI này, Unesco nghién cứu và chỉ rõ “Để đáp ứng thành công nhiệm vụ của mình, giáo dục phải được tô chức xoay quanh bốn loại hình học tập.
cơ bản, mà trong suốt cuộc đời của mỗi con người, chúng sẽ là những trụ cột về kiến thức: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”. Như vậy, vấn đề đôi mới PPDH phát huy tính tích cực của HS, trong đó nhắn mạnh đến rèn luyện cho HS KNTH là xu hướng phát triển giáo dục của nhiều nước. trên thế giới. Với những PPDH mới này đã góp phần nâng cao khả năng lĩnh hội kiến thức của HS, đồng thời góp phần đào tạo con người có đủ trình độ năng lực tham gia vào các hoạt động xã hội và lao động sản xuất 10.
Tình hình nghiên cứu trong nước 'Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia luôn nêu cao gương tự học. Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều. nhân tài kiệt xuất (Mạc Đĩnh Chỉ, Nguyễn Binh Khiêm, Tú Kiệt,. Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân.
Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao. những tắm gương tự học thành tài. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tu tưởng về tự học đã được nhiễu tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học, PPDH. Một số công trình tiêu biểu là của các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị,.
Những năm gần đây vấn đề rèn luyện KNTH trong day hoc S nghiên cứu sâu hơn, được chú trọng nhiều hơn và có nhiều tác gi hình có các đề tài liên quan như: Võ Ngọc Bình (2013) với đề tài nghiên cứu “7hiết kể và sử dụng phiếu học tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học trong dạy học phân Di truyên học ~ Sinh học. 12, trung học phổ thông” đã đề xuất quy trình rèn luyện cho HS KNTH thông qua phiếu học tập trong dạy học phần Di truyền học — Sinh học 12 [2] ‘Tran Thị Thúy Hoanh (2014) với các nghiên cứu “Sứ dụng phiếu học tập đề tổ chức học sinh tự học phân Sinh thải học, Sinh học 12" đã đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng phiếu học tập để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần Sinh thái học [18] Nguyễn Thị Thanh Thảo (2015) với nghiên cứu "Sử dụng phiếu học tập để rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên giáo dục thường xuyên trong phan sinh học vi sinh vật, sinh học 10” đã xác định cắu trúc của KNTH và đề xuất các dạng phiếu học tập để rèn luyện KNTH cho học viên giáo dục thường xuyên trong phần sinh học vi sinh vật [30] Đăng Thị Dạ Thủy, Hà Thị Thanh Nhàn (2017) với nghỉ cứu :hức các. hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực giải quyết van đề trong day hoc phân sinh học tế bào, sinh học 10” đã đưa ra các dạng HĐHT, quy trình thiết kế các 'HĐHT nhằm phát triển NL giải quyết vấn đề trong dạy học phần SHTB [36, tr 32-47]. Đặng Thị Dạ Thủy, Nguyễn Quỳnh Trang (2016) với nghiên cứu “7hiết kể các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong day hoc l3 phân sinh vật và môi trưởng, sinh học 9” đã xây dựng các dạng HĐHT và tổ chức dạy.
học các dạng HĐHT nhằm phát triển NL giải quyết vấn đề của HS [37, tr 48-51] Đặng Thị Dạ Thủy, Phan Thị Hồng Liên (2018), với nghiên cứu “ 7hiết kế các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học Sinh học 6” đã đề xuất các dạng HĐHT và tổ chức dạy học các dạng HĐHT nhằm phát triển NL tự học của HS [35, tr 48-51] 'Qua các nghiên cứu trên cho thấy việc sử dụng các biện pháp dạy học đẻ tổ chức các HĐHT nhằm rèn luyện KNTH, NL tự học đã được nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng vấn đề tổ chức các HĐHT để rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học. phan SHTB, Sinh học 10 vẫn chưa được nghiên cứu. Trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, đồng thời sẽ tập trung tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH khi dạy hoc phan SHTB nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS lớp 10 ở các trường THPT hiện nay. 14 NỘI DUNG CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA ĐÊ TÀI 1,1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Kỹ năng tự học 1. Khi iệm Có nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng: “Theo từ điển Tiếng Việt “ KN là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào.
thực tiễn” [28], “Theo Phạm Viết Vượng (2000), KN là khả năng hành động, khả năng thực hiện thành công các loại công việc đã được học tập. Trình độ chất lượng của KN được đánh giá bằng chính sản phẩm mà HS làm ra [42]. Theo Trần Bá Hoành (1996), KN là khả năng vận dụng những trỉ thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. KN đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo trở thành kỹ xảo [19] Nguyễn Quang ấn (2007) cho rằng: “KN là hệ thông những hành động đảm.
bảo cho con người sẵn sàng và có năng lực hoàn thành công việc có kết quả” [41] 'Từ các định nghĩa trên có thể hiểu KN như một hoạt động trí tuệ, là khả năng vận dụng những trỉ thức thu nhận được vào thực tiễn. Trong KN có cả những KN tư duy và những KN hoạt động chân tay, giác quan. ~ KN nhận thức: là những hoạt động đòi hỏi công việc biến đổi một thông tin được cung cắp hoặc không được cung cấp. ~ KN hoạt động chân tay: là hoạt động chủ yếu bằng động tác và đòi hỏi sự.
làm chủ cảm giác vận động (KN viết, vẽ, làm đồ dùng dạy học. Vai trò của kỹ năng trong quá trình đạy học KN của HS có vai trò trong quá trình dạy học, KN là một trong ba tiêu chí để đo thành quả của quá trình giáo dục và chất lượng đào tạo. Nhiệm vụ dạy học không. chỉ trang bị cho HS vốn kiến thức mà còn phải rèn luyện cho các em KN cơ bản tức.
là rèn luyện KN được xem như một nhiệm vụ được ưu tiên song hành với việc trang, bị kiến thức. Kiến thức là cơ sở để thực hiện hai nhiệm vụ còn lại. Ngược lại sự hình thành KN, kỹ xảo là cơ sở của việc nắm tri thức và cũng là điều kiện để nắm trí thức sâu hơn, tiếp tục lĩnh hội những trì thức, KN mới. Xét về khía cạnh tâm lý học tri thức, KN, kỹ xảo chính là chất liệu để tạo ra các NL tương ứng.
Nên KN là yếu tố không thể tách rời trong mục tiêu đảo tạo. Vì vậy, rèn luyện KN có vai trò quyết định rất lớn đến chất lượng dạy học. “rong quá trinh day học, đối với bộ môn Sinh học nói riêng và các môn học khác nói chung việc rèn luyện KN có tầm quan trong rat lớn.