Chương 1: CO SO Li LUAN VA THỰC TIỀN Mục đích của giáo dục là phát triển con người, từ đó dẫn đến phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục của toàn xã hội. Việc cải cách giáo dục (CCGD) là chiến lược. của nhiều quốc gia trên thể giới để đưa đất nước đến với văn minh và giảu mạnh. từng giai đoạn, từng thời điểm lịch sử khác nhau, đất nước ta đã tiền hành CCGD.
theo các mục tiêu, nội dung phủ hợp với đất nước ta và phủ hợp với sự phát triển chung cua thé giới. Chúng ta nhìn lại lịch sử CCGD ở Việt Nam đề thấy rõ điều đó: ~ Mục tiêu của CCGD năm 1950 đã chỉ rõ: “giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ trở. thành những “công dân lao động tương lai” trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân”. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn là phương châm mà cuộc CCGD năm 1950 đã để ra.
Bên cạnh đó, nội dung giáo dục của CCGD lần thứ nhất là nhắn mạnh đến bồi dưỡng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, chí căm thủ giặc, tinh thằn yêu chuộng lao. động, tôn trọng của công, tinh than tap thé, thương pháp suy luận và thói quen làm. việc khoa học [6] ~ Tháng 3/1956 Chính phủ thông qua đề án CCGD lần thứ hai và giao cho Bộ Giáo dục tổ chức thực hiện. Mục tiêu giáo dục của cuộc CCGD lần này được xác định tö “đào tạo, bôi dưỡng thế hệ thanh niên và thiểu nhỉ trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động.
tốt, cắn bộ tốt của nước nhà, có tài có đức đề phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng Chủ nghĩa Xã hội (CNXH) ở nước ta." Phương châm giáo dục là lý luận liên hệ với thực tiễn, gắn chặt nhà trường với đời sống xã hội. Mục tiêu và phương châm giáo dục đã được thê hiện rõ ở nội dung giáo dục có tinh toàn diện bồn. mặt gồm đức, trí, thê, mỹ. Trong khi nhận định trí dục là cơ sở của giáo dục toàn diện, thì không thể vì thế cho trí dục là tất cả mà coi nhẹ đức dục, thể dục, mỹ dục [6] ~ Ngày 11-1-1976, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành.
Nghị quyết số 14-NQ/TW về CCGD lần thứ 3 với những định hướng có tính nguyên tắc sau: + Về mục tiêu giáo dục: Chăm sóc, giáo dục thể hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến. lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con người phát triển toàn diện; thực. hiện phổ cập giáo dục toàn dân, đảo tạo và bồi dưỡng đội ngũ lao động phủ hợp nhằm tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng: Quan hệ sản xuất; Khoa học - kỹ thuật; Van hoá - tư tưởng, + Về nội dung giáo dục “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo ra những. lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự nghiệp xây dựng CNXH”' + Về nguyên lý giáo dục, yêu cầu học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao đông, nhà trường gắn liền với xã hội.
+ Về hệ thống giáo dục xây dựng GDPT 12 năm, cùng nhiều trường đại học. chuyên ngành được xây dựng và phát triển. ~ Ngày9 tháng 12 năm 2000, Quốc hội khóa X ra Nghị quyết số 40/2000/QH10. vị đổi mới chương trình GDPT khăng định mục tiêu của đôi mới chương trình GDPT.
lần này là "Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa. phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phủ. hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ GDPT ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”. ‘Van ban đồng thời yêu cầu “Đổi mới chương trình GDPT phải quán triệt mục.
tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cắp học quy định trong Luật giáo dục; khắc phục những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng. cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học vả công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của HS." ~ Đổi mới chương trình GDPT năm 2006 theo điều 29, mục II - Luật Giáo dục ~ 2005 “Chương trình GDPT thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuân kiến thức, kĩ năng, phạm vĩ và cấu trúc nội dung giáo dục phỏ thông; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học. ở mỗi lớp và mỗi cấp học của GDPT" Căn cứ khoa học và thực tiễn của đôi mới chương trình GDPT trong giai đoạn này là ~ Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với việc đảo tạo nguồn nhân. lực trong giai đoạn mới ~ Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nỗ của khoa học công nghệ thể hiện qua sự ra đời nhiễu lý thuyết, thành tựu mới cũng như khả năng ứng dụng chúng vào thực tế cao, rộng và nhanh buộc chương trình sách giáo khoa phải luôn được xem xét và điều chỉnh.
~ Do có những thay đổi trong đối tượng giáo dục, trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, HS tiếp cận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong. phú từ nhiều mặt của cuộc sống, hiểu biết nhiều hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đây. ~ Do xu thế hội nhập và đổi mới trên thể giới trong lĩnh vực chương trình, sách giáo khoa cũng là một trong những yêu cầu cẩn thiết. Chương trình các nước đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng sống của con người, khắc phục tình trạng.
học tập nặng nề gây mắt hứng thú và niềm tin đối với việc học tập của HS. Các định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 1. Định hướng về nội dung giáo dục Chương trình GDPT thực hiện mục tiêu giáo dục, hình thành, phát triển phẩm chất và NL cho HS thông qua các nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học, giáo dục. toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học tự nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp.
Mỗi nội dung giáo dục đều được thực hiện ở tât cả các môn học và hoạt động giáo dục trong đó có một sô môn học và hoạt động giáo dục đảm nhiệm vai trò cốt lõi. Căn cứ mục tiêu giáo dục và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, NL ở từng giai đoạn giáo dục và từng cắp học, chương trình mỗi môn học và hoạt động giáo dục xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, NL và nội dung giáo dục của môn học, hoạt động giáo dục đó. Giai đoạn giáo dục cơ bản thực hiện phương châm giáo dục toàn diện và tích hợp, bảo đảm trang bị cho HS tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở: giai đoạn giáo dục định hướng. tghiệp thực hiện phương châm giáo dục phân hóa, bảo đảm HS được nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phô thông có chất lượng.
Cả hai giai đoạn giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp đều có các môn học tự chọn; giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp có thêm các môn học và chuyên đề học tập lựa chọn, nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triền tiềm năng, sở trường. của mỗi HS [39], 1. Định hướng về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục 1. Dịnh hướng về phương pháp giáo dục Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng cho các phương pháp tích cực hóa hoạt động của HS, trong đó giáo viên (GV) đóng vai trò tô chức, hướng dẫn hoạt động cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện NL, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy.
tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được đẻ phát triển. Các hoạt động học tập của HS bao gồm hoạt động khám phá vấn đẻ, hoạt động. luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số, thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lý thuyết, thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu, tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách, sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ công đồng [39]. Định hướng về đánh giá kết quả giáo dục Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và NL được quy định trong.
chương trình tổng thể và các chương trình môn học, hoạt đông giáo duc. Pham vi đánh giá bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, môn học và chuyên để học tập lựa chọn và môn học tự chọn. Đối tượng đánh giá là sản phẩm và quá trình. học tập, rèn luyện của HS.
Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kỷ ở cơ sở giáo dục, các kỷ đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương và các kỳ đánh giá quốc. Cùng với kết quả các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học và chuyên đề học tập lựa chọn, kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của HS trong từng năm học và trong cả quá trình học tập [39] Phương thức đánh gi bảo đảm độ tin cậy khách quan phù hợp với từng lứa tuổi, từng cấp học, không gây áp lực lên HS, hạn chế tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình HS và xã hội Nghiên cứu từng bước áp dụng các thành tựu của khoa học đo lường, đánh giá trong giáo dục, xếp loại HS ở cơ sở giáo dục và sử dụng kết quả đánh giá trên điện rộng làm công cụ kiểm soát chất lượng đánh giá ở cơ sở giáo dục. Chương trình giáo dục phỗ thông tổng thể 1.