ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, thuốc phòng và chữa bệnh được điều chế từ hai nguồn: dược liệu và hoá chất tổng hợp. Trong đó, nhiều hoạt chất quan trọng cần phải chiết xuất từ dược liệu mà chưa thể điều chế bằng con đường tổng hợp.000 loài cây cỏ được các nước trên thế giới sử dụng, không chỉ các nước Á Đông mà các nước phương tây cũng tiêu thụ một lượng rất lớn dược liệu. Đặc biệt, ở Việt Nam, dược liệu có một vai trò quan trọng. Là một nước nằm trong vùng nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa, Việt Nam được thiên nhiên ưu ái sở hữu hệ thực vật rất phong phú và đa dạng với hơn 12.000 loài thực vật có mạch, trong đó có trên 4.000 loài cây thuốc [3].
Đứng trước nhu cầu lớn về dược liệu, đây sẽ là nguồn tài nguyên đóng góp rất nhiều cho ngành dược nước ta trong nghiên cứu, chiết xuất phân lập các hợp chất có hoạt tính sinh học, từ đó phát triển các thuốc mới. Ổi (Psidium guajava L.) là một loại cây được trồng rất phổ biến ở nước ta. Ngoài việc đem lại giá trị dinh dưỡng rất tốt cho sức khoẻ, Ổi còn được sử dụng trong nhiều bài thuốc dân gian. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, cao búp ổi được dùng để chữa đi lỏng, lỵ; nước sắc để rửa các vết loét, vết thương [3].
Bên cạnh đó, Ổi còn được biết đến bởi tác dụng rất tốt trong điều trị đái tháo đường-một căn bệnh đã trở nên phổ biến ở nước ta nói riêng cũng như toàn thế giới nói chung [45], [52]. Mặc dù có nhiều công dụng tốt cùng với nguồn nguyên liệu dồi dào, nhưng dược liệu Ổi tại nước ta lại chưa được quan tâm khai thác hiệu quả. Tại Việt Nam hiện nay, đã có một số nghiên cứu về các tác dụng sinh học từ cao chiết lá Ổi. Tuy nhiên, các thông tin cụ thể về thành phần hoá học cũng như các nghiên cứu về tác dụng dược lý của loại dược liệu này còn rất hạn chế.
Bởi vậy, cần có thêm nghiên cứu sâu và đầy đủ về thành phần hoá học, cấu trúc các hoạt chất tạo ra những tác dụng sinh học từ dược liệu Ổi tại Việt Nam. Do đó, với mục đích đóng góp vào cơ sở dữ liệu về thành phần hoá học, cấu trúc các hợp chất có tác dụng sinh học, từ đó làm cơ sở để phát triển thêm các nghiên cứu về tác dụng sinh học cũng như công dụng của lá Ổi trong tương lai, đề tài “Bước đầu nghiên cứu thành phần hoá học lá Ổi Psidium guajava thu hái ở Hưng Yên” được thực hiện với các mục tiêu sau: ➢ Phân lập 1-2 hợp chất tinh khiết từ cao phân đoạn. ➢ Xác định cấu trúc hoá học của các chất phân lập được. Tổng quan về cây Ổi (Psidium guajava L.
Tên khoa học và vị trí phân loại 1. Tên khoa học Tên khoa học: Psidium guajava L. Tên gọi khác: Phan thạch lựu [4]. Tên nước ngoài: Common guava (Anh), goyavier (Pháp) [11].
Vị trí phân loại Theo hệ thống dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia Việt Nam [6], cây Ổi có vị trí phân loại như sau: Giới Thực vật (Plantae) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ Đào kim nương (Myrtales) Họ Sim (Myrtaceae) Chi Ổi (Psidium) Loài Ổi (Psidium guajava L. Phân bố, sinh thái Cây Ổi có nguồn gốc từ Trung Mỹ phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhập trồng ăn quả và phát tán rộng [2]. Ở Việt Nam, Ổi mọc hoang tại nhiều vùng núi phía bắc và được trồng phổ biến ở hầu hết các địa phương của nước ta, từ đồng bằng đến miền núi. Cây ưa sáng, phát triển tốt ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới [7].
Nhiệt độ phát triển thích hợp từ 15-45oC , nhiệt độ cho cây ra quả là từ 23-28oC, lượng mưa 1.000 mm/năm và không sống được ở độ cao 1. Ổi ra hoa và quả nhiều năm, thụ phấn nhờ gió hoặc côn trùng. Vòng đời của cây ổi có thể tồn tại từ 40-60 năm [11]. Đặc điểm thực vật Cây ổi cao 4 -5 m, cành non có 4 cạnh.
Lá non phủ lông trắng nhạt, vị chát [3]. Lá trưởng thành nhẵn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn, phiến nguyên, khi soi lên thấy có túi tinh dầu trong; vị chát [10]. Vỏ thân nhẵn, khi già bong ra từng mảng [11]. 2 Hoa trắng mọc riêng lẻ 2-3 cái ở một kẽ lá [3], cuống có lông mịn, cuống dài, nụ phù ở đầu [10]; 4-5 lá đài, dày, không đều; 4-5 cánh hoa trắng; rất nhiều nhị [3], xếp thành nhiều dãy, chỉ nhị rời; bao phấn có trung đới rộng; bầu hạ, dính vào ống đài, 5 ô [11].
Quả hình cầu, nạc trắng, hạt nhiều, to 2-3 mm, cứng, vàng [10], khi xanh có vị chua và chát, chín có vị ngọt. Ở đầu quả có sẹo của đài tồn tại [3]. Cây, lá và hoa ổi Psidium guajava L. Tổng quan về lá Ổi (Folium Psidii guajavae) 1.
Thành phần hoá học Đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về phân lập các thành phần hoá học của lá ổi Psidium guajava L. được công bố trên thế giới và Việt Nam. Các nhóm chất chủ yếu được tìm thấy trong thành phần hoá học của P. guajava bao gồm: các flavonoid, triterpenoid, tanin, saponin, tinh dầu,… và một số polyphenol khác không thuộc các nhóm kể trên.
Flavonoid Trong búp và lá ổi có chứa các flavonoid đã được tìm thấy từ rất sớm. Các hợp chất phân lập được trong thành phần hoá học của lá P. guajava đã công bố gồm: a, Nhóm flavon và flavonol Năm 2021, nhóm nghiên cứu của Babatola và cộng sự đã phân lập được luteolin (1) là hoạt chất thuộc nhóm flavon của P. Công thức hoá học của hợp chất thuộc nhóm flavon Theo tổng quan tài liệu, những flavonol nổi bật có trong lá Ổi bao gồm: quercetin (2), avicularin (3), quercetin-3-O-β-D-(2’-O-galloyl glucosid)-4’O- vinylpropyonat (4), morin-3-O-α-L-lysopyranosid (5) [3]; guajaverin (6), morin-3-O- β-D- glucopyranosid (7) [11].
Năm 2013, Eidenberger cùng cộng sự đã phân lập được các chất gồm: hyperoside (8), quercetin- 3-O-β-glucoside (9), guaijaverin (10), quercetin-3-O-α-L- arabinopyranoside (11) [24]. Năm 2021, nhóm nghiên cứu của Babatola và cộng sự cũng đã phân lập được thêm 5 hoạt chất thuộc phân nhóm flavonol. Các hợp chất này gồm có: rutin (12), kaempferol (13), myricetin (14), isoquercetin (15), reynoutrina (16) [15]. Công thức các hợp chất thuộc nhóm flavonol 5 b, Nhóm flavanon, flavan-3-ol và flavan-3-4-diol Năm 2021, Huang cùng nhóm nghiên cứu lần đầu tiên phân lập được 2 flavanon là đối quang của nhau: Psiflavanon A (17), psiflavanon B (18) [30].
Năm 2016, Díaz-de-cerio cùng cộng sự đã phân lập được 4 hợp chất thuộc nhóm flavan-3-ol bao gồm: Prodelphinidin dimer isomer (19), gallocatechin (20), catechin (21), procyanidin (22) [22]. Năm 2023, nhóm nghiên cứu Đại học Cần Thơ đã phân lập được Leucomyanidin (23) thuộc nhóm flavan-3-4-diol [9]. Công thức các hợp chất thuộc nhóm flavanol 6 Hình 1. Công thức các hợp chất thuộc nhóm flavan-3-ol Hình 1.
Công thức hợp chất thuộc nhóm flavan-3-4-diol 1. Triterpenoid Triterenoid là nhóm chất nổi bật trong thành phần hoá học của lá P. Đã có rất nhiều triterpenoid đã được tìm thấy và phân lập, có thể được phân loại thành các nhóm sau đây: a, Triterpenoid pentacyclic ➢ Nhóm Oleanan Nhóm oleanan nổi bật với acid oleanolic (24) [11]. Năm 2012, Shao M cùng cộng sự đã tách được acid eucalyptolic (25) từ cao chiết lá Ổi P.
Cùng với đó, năm 2021, Li Y và các cộng sự cũng đã phân lập thêm được 8 triterpenoid mới bao gồm: acid maslinic (26), acid arjunolic (27), acid terminolic (28), oleanoaldehyde (29), acid 3-β-O-cis- p-coumaroyl maslinic (30), acid 3-β-O-trans-p-coumaroyl maslinic (31), acid 3-β-O-cis-p- coumaroyl arjunolic (32), acid 3-β-O-trans-p-coumaroyl arjunolic (33) [34]. Công thức các hợp chất thuộc nhóm oleanan ➢ Nhóm Ursan Theo tổng quan tài liệu, chất thuộc nhóm ursan phân lập được từ P. guajava có acid ursolic (34) [11]. Năm 2004, Begum S và cộng sự đã phân lập được uvaol (35) vào [16].
Bổ sung thêm trong danh sách các chất đã tách được từ P. guajava, năm 2015, Flores và cộng sự phân lập được thêm acid madecassiac (36) [26]. Bên cạnh 8 hoạt chất được phân lập có khung oleanan nói trên, năm 2021, Li Y và các cộng sự cũng đã phân lập thêm được 12 triterpenoid mới có khung ursan bao gồm: acid corosolic (37), acid asiatic (38), ursaldehyde (39), acid corosolic 3-β-O-cis- p-coumaroyl (40), acid jacoumaric (41), acid asiatic 3-β-O-cis-p-coumaroyl (42), acid asiatic 3-β-O-trans-p-coumaroyl (43), guajavolide (44), ehretiolide (45), ilelatifol D (46), acid guavenoic (47), acid 3-β-O-cis-p-coumaroyl Actinidic (48) [34]. Công thức các hợp chất thuộc nhóm ursan ➢ Nhóm Taraxasteran: Có acid guavanoic (49) được Begum và cộng sự phân lập vào năm 2002 [17] Hình 1.
Công thức các hợp chất thuộc nhóm taraxasteran 9 ➢ Nhóm lupan: Năm 2010, Ghosh cùng cộng sự phân lập được acid betulinic (50), lupeol (51) [28]. Sau đó, Li Y cùng cộng sự đã phân lập thêm được acid alphitolic (52) vào năm 2021 [34]. Công thức các hợp chất thuộc nhóm lupan 1. Tanin Búp và lá non của ổi chứa khoảng 10% tanin.
Thành phần tanin của búp và lá ổi gồm cả 3 loại tanin: thuỷ phân được, không thuỷ phân được và loại hỗn hợp. Các tanin thuỷ phân được trong búp và lá ổi gồm: Gallotannin 3,4,5- trimethoxyphenol 1-O-β-D-(2’,6’-di-O-galloyl)-glucopyranosi, ellargitanin (2,3-(S)- hexanhydroxydiphenoyl-6-O-galloyl-D-glucopyranoisd, pedunculagin) và các ellargitanin C-glycosid (castalagin, sasuarictin, casuarinin, acid valolaginic , acid vescalagin carboxylic). Các ellargitanin C-glycosid là thành phần chính trong tanin của búp và lá ổi. Tanin không thuỷ phân được trong búp và lá ổi gồm: Procyanidin-B1, prodelphinidin-B1.
Tanin hỗn hợp trong búp và lá ổi gồm: Acutissimin A, B; eugenigrandin A; mongolicain A; guajavin A và B; psidinin A, B và C; psiguavin; guavin A (53), guavin C (54) và guavin D [3]. Công thức các hợp chất thuộc nhóm tanin 10 1. Tinh dầu Tuỳ theo từng loại Ổi, hàm lượng tinh dầu có trong lá nằm trong khoảng 0,2- 0,31% [11]. Các nghiên cứu bằng phân tích GC-MS cho thấy một số hợp chất chính có trong tinh dầu P.
guajava thuộc terpenoid và terpen: a, Terpenoid Các tinh dầu gồm eucalyptol, caryphyllene oxit, trans-nerolidol (55), hinesol, β- bisabolol, α-bisabolol, c-eudesmol là những tinh dầu được tách bởi De Souza và cộng sự năm 2018 [21]. Bên cạnh đó còn có các tinh dầu khác được phát hiện gồm: α-terpinyl acetate [19]; c-cadinol [48] và 7 tinh dầu được xác định bởi Hassan và nhóm cộng sự năm 2020 gồm: linalool, α-terpineol, epiglobulol, spathulenol, globulol, viridiflorol, ledol [29]. b, Terpen Năm 2018, De Souza và cộng sự đã tách được 9 tinh dầu thuộc nhóm terpen bao gồm: Limonen (56), caryophyllen (57), α-humulene, c-muurolen, α-selinen, β-selinen, α- bisabonen, β-bisabonen, α-cedren [21]. Năm 2019, Weli và cộng sự đã tác được các tinh dầu bao gồm: Iso-caryphyllene, d-cadinen, aromadendren [48]; Nhóm nghiên cứu của tác giả Hasan cũng đã phân lập được một số tinh dầu từ P.
guajava bằng phân tích GC-MS gồm: α-pinen, β-myrcen, d-3 caren [29].