Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu quy trình dịch hóa, đường hóa và lên men ethanol đồng thời ở nồng độ chất khô cao từ gạo" thuộc ngành Công nghệ Thực phẩm (mã số: 9540101), được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Tiền Tiến Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Tuấn Anh và PGS. Chu Kỳ Sơn tại Đại học Bách khoa Hà Nội (năm 2023).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ethanol giữ vai trò thiết yếu trong công nghiệp thực phẩm (đồ uống pha chế, rượu truyền thống), dung môi công nghiệp và nhiên liệu sinh học. Tại Việt Nam, gạo là cây lương thực chủ lực và là nguồn nguyên liệu tinh bột chính phục vụ sản xuất cồn thực phẩm. Công nghệ sản xuất cồn truyền thống từ tinh bột trải qua các công đoạn: hồ hóa - dịch hóa (95–105°C trong 60–70 phút), làm nguội về 60–62°C để đường hóa, hạ nhiệt độ về 28–32°C để lên men và chưng cất. Quy trình này tiêu tốn nhiều năng lượng nhiệt, nước giải nhiệt, thời gian kéo dài và phát sinh thất thoát cơ chất do phản ứng Maillard.

Công nghệ đường hóa và lên men đồng thời (SSF) ở nồng độ chất khô cao (VHG > 300 g/L) tuy đã giảm bớt công đoạn nhưng vẫn đòi hỏi gia nhiệt dịch hóa trên 80°C. Do đó, công nghệ dịch hóa, đường hóa và lên men đồng thời không gia nhiệt ở nồng độ chất khô cao (SLSF-VHG) được phát triển nhằm tích hợp toàn bộ các giai đoạn thủy phân và lên men trong cùng một thiết bị ở nhiệt độ thường (30–34°C). Tuy nhiên, việc áp dụng quy trình SLSF-VHG trên nguyên liệu gạo tại Việt Nam còn tồn tại các khoảng trống kỹ thuật:

  • Chưa khảo sát, lựa chọn tối ưu loại gạo, hàm lượng amylose, tổ hợp chế phẩm enzym và nấm men phù hợp.
  • Chưa làm rõ cơ chế tác động của enzym lên cấu trúc hạt bột gạo sống và động học tích tụ/chuyển hóa thành phần dịch lên men.
  • Vai trò thay thế nguồn nitơ vô cơ (urea) bằng enzym protease nhằm tăng diện tích tiếp xúc cơ chất và giảm nguy cơ tạo độc chất trong cồn thực phẩm chưa được giải thích đầy đủ.
  • Hiệu suất lên men ở nồng độ chất khô cao còn bị giới hạn bởi hiện tượng ức chế thẩm thấu và ức chế nồng độ cồn cuối lên nấm men; chưa có dữ liệu kiểm chứng ở quy mô pilot 100 L và đánh giá chất lượng cồn theo tiêu chuẩn quốc gia.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Nghiên cứu xác định nguyên liệu, các thông số công nghệ và giải thích cơ chế thủy phân lên men bột gạo sống trong quy trình SLSF-VHG.
  2. Phát triển ứng dụng quy trình SLSF-VHG ở quy mô pilot (100 L dịch lên men).
  3. Nghiên cứu ứng dụng chưng cất chân không tách cồn đồng thời để nâng cao hiệu suất, rút ngắn thời gian lên men và nâng cao nồng độ chất khô trong quy trình sản xuất cồn không gia nhiệt từ gạo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các giống gạo phổ biến tại Việt Nam (IR50404, OM5451, OM6976, OM4900, Hàm Châu, Bụi Sữa, gạo nếp...); các chế phẩm enzym thủy phân tinh bột sống (Stargen 002), enzym đường hóa phụ trợ (Amigase Mega L, Distillase ASP, Spirizyme), enzym protease (Fermgen); các chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae công nghiệp (Ethanol Red, Thermosacc Dry, Angel Super Alcohol).
  • Phạm vi không gian và quy mô: Thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm (bình lên men 1 L) và quy mô pilot (hệ thiết bị tích hợp 100 L dịch lên men) tại Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nội dung: Xác lập thông số công nghệ SLSF-VHG; phân tích động học, hình thái cấu trúc hạt tinh bột (SEM, XRD); phân tích sản phẩm phụ; kiểm chuẩn sản phẩm rượu chưng cất theo TCVN 7043:2013; thử nghiệm tích hợp kỹ thuật lên men - chưng cất chân không tách cồn đồng thời ở nồng độ chất khô 350–500 g/L.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu công nghệ sản xuất ethanol không gia nhiệt trên thế giới và trong nước:

Nhóm nghiên cứu / Tác giả Năm công bố Đối tượng nguyên liệu & Quy mô Thông số / Kết quả chính
Balls & Schwimmer 1944 Tinh bột sống Đặt nền móng cho việc sử dụng enzym thủy phân tinh bột ở nhiệt độ thấp
Matsumoto và cộng sự 1982 Bột ngô (20–30% CK) Sử dụng enzym từ Rhizopus sp., lên men 96 h đạt 14,2% v/v
Shigechi và cộng sự 2004 Bột ngô (20% CK, 1 L) S. cerevisiae, glucoamylase (R. oryzae) và α-amylase (S. bovis); đạt 61,8 g/L ethanol, hiệu suất 86,5%
Wang và cộng sự 2009 Bột ngô (32% CK, 500 mL) Khảo sát Stargen 001, GC106 (protease) và urea; đạt 18% v/v sau 72 h
Xu & Duan 2010 Lúa miến (35% CK) Kiểm soát nhiệt độ thấp và enzym Stargen; đạt nồng độ cồn 20% v/v sau 90 h
Shihadeh và cộng sự 2013, 2014 Bột ngô (250 g/L, 5 L đến 8000 L) Stargen 001, GC106, nấm men Ethanol Red; độ cồn đạt từ 117 g/L (5 L) giảm dần còn 76 g/L (8000 L)
Masiero và cộng sự 2014 Khoai lang (200 g/L) Stargen 002; tiền xử lý ở 52°C cho hàm lượng glucose cao nhất
Krajang và cộng sự 2021 Tinh bột sắn (20% w/v, 1 L - 200 L - 3000 L) Stargen 002; hiệu suất đạt tương ứng 75,29%, 74,4% và 67,6%
Strąk-Graczyk và cộng sự 2019 Lúa mạch, lúa mì, tiểu hắc mạch (280 g/L) Đạt độ cồn 94,5–98,7 g/L; FAN đạt cực đại 0,87 g/L
Chu-Ky và cộng sự 2016 Bột gạo (311,5 g CK/L, 1 L và 25 L) Stargen 002, Amigase Mega L, Fermgen, Urea; đạt 17,6% v/v (1 L) và 17,0% v/v (25 L)
Kumar và cộng sự 2018 Bột ngô (32–42% CK) có chưng chân không Chưng chân không giúp tăng hiệu suất lên men ở nồng độ chất khô cao lên 65–88%

Khoảng trống luận án tập trung giải quyết

Mặc dù công nghệ không gia nhiệt đã được thử nghiệm trên ngô, sắn, lúa mạch, việc áp dụng trên gạo Việt Nam ở nồng độ chất khô cao (>300 g/L) còn hạn chế. Luận án giải quyết triệt để việc lựa chọn giống lúa theo hàm lượng amylose, tối ưu hóa sự phối hợp giữa amylase/glucoamylase với protease nhằm loại bỏ hoàn toàn urea, làm sáng tỏ cơ chế phá vỡ màng protein bao bọc tinh bột, đánh giá định lượng tiêu hao năng lượng/chi phí ở quy mô 100 L và ứng dụng chưng cất chân không để vượt qua giới hạn nồng độ chất khô lên đến 500 g/L.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cấu trúc tinh bột và bột gạo: Tinh bột gạo thuộc dạng tinh thể loại A (đỉnh nhiễu xạ XRD tại 2θ = 15°, 17°, 18°, 20°, 23°), hạt đa giác kích thước 3–5 µm nằm trong mạng lưới liên kết với protein nội nhũ (thể protein hình cầu 0,5–4,0 µm). Amylose mạch thẳng cản trở enzym thủy phân hơn so với amylopectin phân nhánh.
  • Cơ chế xúc tác enzym thủy phân tinh bột sống: Tổ hợp Stargen 002 chứa α-amylase và glucoamylase mang vùng gắn kết tinh bột (Starch-Binding Domain - SBD) kết nối với vùng xúc tác (Catalytic Domain - CD) qua cầu nối giàu serin và threonin, cho phép enzym hấp phụ trực tiếp lên bề mặt hạt tinh bột sống, ăn mòn tạo lỗ xốp mà không cần hồ hóa nhiệt.
  • Tác động hiệp đồng của protease: Protease axit thủy phân mạng lưới protein bao quanh hạt tinh bột, giải phóng nitơ amin tự do (FAN) cho nấm men, đồng thời làm tăng diện tích bề mặt tiếp xúc giúp amylase tấn công sâu vào lõi hạt tinh bột.
  • Động học lên men VHG và giải tỏa ức chế bằng chân không: Lên men ở nồng độ chất khô cao sinh áp suất thẩm thấu và tích lũy nồng độ ethanol cao làm giảm khả năng sinh trưởng của nấm men. Kỹ thuật chưng cất chân không ngắt quãng ở nhiệt độ thấp tách bớt ethanol ra khỏi dịch, duy trì nồng độ cồn dưới ngưỡng ức chế sinh học.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

[Bột gạo + Nước] ---> [Điều chỉnh pH 4,5] ---> [Bổ sung Stargen 002 + Fermgen + Nấm men]
                             |
       +---------------------+---------------------+
       |                                           |
[Quy trình SLSF-VHG]                      [Quy trình SLSFD chân không]
(Lên men tĩnh/khuấy, 30°C)                (Hạ áp tách cồn ngắt quãng)
       |                                           |
[Đánh giá Động học, SEM, XRD]             [Nâng nồng độ CK 350 - 500 g/L]
       |                                           |
[Quy mô Pilot 100 L & TCVN 7043]          [Đánh giá Hiệu suất & Thời gian]
  • Vật liệu và hóa chất: Chế phẩm Stargen 002 (Dupont, hoạt tính α-amylase và glucoamylase), Fermgen (Dupont, protease axit), Amigase Mega L (DSM), Spirizyme DA, Distillase ASP; các chủng nấm men khô S. cerevisiae (Ethanol Red, Thermosacc Dry, Angel Super Alcohol).
  • Phương pháp phân tích hóa lý và sinh học:
    • Xác định hàm lượng đường khử bằng phương pháp quang phổ với thuốc thử axit 3,5-dinitrosalicylic (DNS).
    • Phân tích nồng độ đường hòa tan (glucose, maltose, DP3, DP4+), glycerol, axit hữu cơ (lactic, axetic) và ethanol bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
    • Phân tích thành phần bay hơi (rượu bậc cao, este, aldehyt, metanol) bằng sắc ký khí (GC).
    • Phân tích nitơ amin tự do (FAN) theo phương pháp Ninhydrin; protein thô theo phương pháp Kjeldahl.
    • Quan sát hình thái vi cấu trúc bề mặt bột gạo bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM).
    • Đo độ tinh thể (Crystallinity Index - CrI) của tinh bột bằng phổ nhiễu xạ tia X (XRD).
    • Đếm mật độ tế bào, tỷ lệ tế bào sống và tỷ lệ nảy chồi của nấm men bằng buồng đếm hồng cầu kết hợp nhuộm xanh methylen.
    • Kiểm tra các chỉ tiêu an toàn và chất lượng rượu chưng cất theo TCVN 7043:2013.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thí nghiệm được lặp lại tối thiểu 3 lần; xử lý thống kê, phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định ý nghĩa thống kê bằng phần mềm chuyên dụng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết tình hình sản xuất cồn nhiên liệu và cồn thực phẩm trên thế giới và tại Việt Nam (sản lượng rượu trắng và rượu mạnh năm 2021 đạt 315,3 triệu lít; quy hoạch đến 2025 đạt 350–440 triệu lít). Tác giả so sánh chi tiết công nghệ sản xuất truyền thống, công nghệ SSF và công nghệ không gia nhiệt SLSF-VHG; phân tích đặc điểm cấu trúc hóa thực vật của gạo tẻ, gạo nếp, cấu trúc amylose/amylopectin loại A; làm rõ cấu trúc phân tử của enzym α-amylase, glucoamylase (các domain A, B, C, TIM barrel, SBD, CD) và protease; phân tích tác động của các yếu tố công nghệ (kích thước hạt nghiền, nồng độ enzym, nguồn nitơ, mật độ nấm men, nồng độ chất khô) và cơ sở của phương pháp lên men kết hợp chưng cất chân không tách cồn đồng thời (SLSFD).

Chương 2: Nguyên vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết nguồn gốc, tiêu chuẩn hóa của các lô nguyên liệu gạo, thông số hoạt độ của các chế phẩm enzym (GAU, SAPU) và nấm men thương mại (CFU/g). Mô tả bố trí thực nghiệm cho 4 nội dung nghiên cứu lớn:

  1. Sàng lọc nguyên liệu (loại gạo, enzym GA phụ trợ, chủng nấm men).
  2. Tối ưu hóa điều kiện công nghệ, động học và cơ chế biến đổi hóa lý, hình thái cấu trúc hạt tinh bột trong dịch lên men quy mô 1 L.
  3. Thiết lập và vận hành thử nghiệm quy trình SLSF-VHG ở quy mô 100 L dịch lên men, đánh giá cân bằng vật chất, tiêu hao điện, nước và phân tích chất lượng sản phẩm theo TCVN 7043:2013.
  4. Bố trí mô hình tích hợp lên men và chưng cất chân không tách cồn ngắt quãng ở các dải chất khô 310,8–500 g/L. Chi tiết hóa toàn bộ các công thức toán học tính toán tốc độ tạo cồn ($Q_P$), hiệu suất chuyển hóa ($Y_{P/S}$), hiệu suất lên men (HSLM) và độ tinh thể ($CrI$).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

1. Lựa chọn nguyên liệu (Gạo, enzym phụ trợ, nấm men)

  • Loại gạo: Thử nghiệm trên các giống lúa cho thấy gạo IR50404 (và các giống có hàm lượng amylose dưới 26,32%) cho tốc độ thủy phân và hiệu suất lên men cao nhất, đạt độ cồn trên 17% v/v. Hàm lượng amylose cao làm tăng độ bền cấu trúc, cản trở enzym tấn công.
  • Enzym đường hóa phụ trợ: Việc bổ sung enzym glucoamylase phụ trợ giúp tăng cường phân giải dextrin sót; trong đó Amigase Mega L thể hiện tính tương thích cao nhất với Stargen 002.
  • Chủng nấm men: Chế phẩm nấm men khô S. cerevisiae Ethanol Red (ER) thể hiện khả năng chịu áp suất thẩm thấu và chịu cồn vượt trội so với Thermosacc Dry (TD) và Angel Super Alcohol (AS), duy trì tỷ lệ sống cao ở giai đoạn cuối lên men.

2. Xác lập điều kiện công nghệ và cơ chế phân giải bột gạo

  • Kích thước hạt nghiền: Lựa chọn kích thước lưới nghiền bột gạo thích hợp nhằm cân bằng giữa chi phí năng lượng nghiền và diện tích bề mặt tiếp xúc của hạt bột.
  • Nồng độ enzym Stargen 002 và nồng độ chất khô: Nồng độ chất khô tối ưu xác định ở mức 310,8 g/L; ở nồng độ này nồng độ đường khử duy trì ở mức thấp và ổn định trong suốt pha lên men chính, giúp nấm men tránh được sốc thẩm thấu.
  • Cơ chế tác động của Protease thay thế Urea:
Chỉ tiêu theo dõi Mẫu bổ sung Urea (U) Mẫu bổ sung Protease Fermgen (P) Mẫu đối chứng (R) / Kết hợp (UP)
Nồng độ ethanol (% v/v) Thấp hơn mẫu P Đạt cao nhất (~17,6 - 17,8% v/v) UP không làm tăng cồn so với P
Hàm lượng FAN (mg/L) Không tăng từ cơ chất Tăng mạnh trong 24 h đầu P tạo nguồn FAN sinh học tối ưu
Hình thái bề mặt (SEM) Rỗ bề mặt đơn thuần Xuất hiện các lỗ sâu, phân rã màng protein Màng bao quanh hạt bị phá vỡ hoàn toàn
Độ tinh thể tinh bột (CrI, XRD) Giảm chậm Giảm nhanh từ 24 h đến 72 h Cấu trúc vô định hình và tinh thể bị phân cắt sâu
Sản phẩm phụ (Este, Aldehyt) Tồn tại nguy cơ ethyl carbamate Giảm thiểu sản phẩm phụ độc hại An toàn cho cồn thực phẩm

Ảnh chụp SEM chứng minh Fermgen thủy phân lớp protein bọc ngoài amyloplast, tạo điều kiện cho Stargen 002 thâm nhập sâu vào lõi hạt tinh bột dạng hợp chất của gạo, chuyển đổi cơ chế từ ăn mòn bề mặt sang ăn mòn xuyên tâm.

3. Động học và quy trình SLSF-VHG quy mô 1 L và pilot 100 L

  • Ở quy mô 1 L, xác lập bộ thông số: nồng độ chất khô 310,8 g/L, pH ban đầu 4,5, nhiệt độ 30°C, khuấy trộn 50 vòng/phút trong 24 h đầu, nấm men Ethanol Red ($3,5 \times 10^7$ CFU/mL), Stargen 002 và Fermgen.
  • Thử nghiệm quy mô 100 L dịch lên men: Quá trình lên men diễn ra ổn định, đạt nồng độ cồn 17,73% v/v, hiệu suất lên men đạt 89,07%.
  • Đánh giá chất lượng cồn chưng cất: Hàm lượng metanol, este, aldehyt, rượu bậc cao và furfural đều nằm trong giới hạn cho phép của TCVN 7043:2013 đối với rượu trắng chưng cất.
  • Thống kê định mức kinh tế - kỹ thuật: Tiêu hao điện, nước làm mát giảm rõ rệt so với công nghệ nấu truyền thống do cắt bỏ hoàn toàn công đoạn gia nhiệt 100°C và làm lạnh trung gian.

4. Nghiên cứu tích hợp lên men và chưng cất chân không (SLSFD)

  • Áp dụng chế độ hút chân không ngắt quãng ở các thời điểm thích hợp (từ 24–48 h) nhằm tách bớt ethanol ra khỏi môi trường lên men.
  • Ở nồng độ chất khô 350 g/L: Nồng độ cồn tổng thu hồi đạt 19,98% v/v, hiệu suất lên men đạt 89,09%, thời gian lên men rút ngắn xuống còn 72 h (giảm 24 h so với quy trình không chưng chân không ở 310,8 g/L). Nồng độ chất khô nâng cao được 12,6% và nồng độ cồn quy đổi tăng 2,16% v/v.
  • Nâng nồng độ chất khô lên 500 g/L: Luận án lần đầu tiên ghi nhận việc nâng nồng độ chất khô lên 500 g/L trong công nghệ không gia nhiệt vẫn đạt hiệu suất lên men và thời gian lên men tương đương với mức 310,8 g/L ở quy trình SLSF-VHG thông thường, giải tỏa hoàn toàn hiện tượng ức chế sản phẩm cuối đối với tế bào nấm men.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  1. Xác định được quy luật ảnh hưởng của hàm lượng amylose trong gạo đến hiệu quả thủy phân không gia nhiệt: các loại gạo có hàm lượng amylose nhỏ hơn 26,32% (tiêu biểu là giống IR50404) thích hợp nhất cho quy trình SLSF-VHG.
  2. Cung cấp dữ liệu khoa học toàn diện về động học biến đổi các hợp chất đường hòa tan, protein hòa tan, FAN và sản phẩm phụ trong quy trình SLSF-VHG từ gạo.
  3. Giải thích rõ ràng cơ chế tác động hiệp đồng của tổ hợp enzym thế hệ mới: enzym protease axit (Fermgen) phá vỡ liên kết trong mạng lưới protein - tinh bột, mở đường cho phức hệ amylase/glucoamylase (Stargen 002) gắn kết qua domain SBD để thủy phân hạt tinh bột sống từ ngoài vào trong lõi, giải phóng FAN tự nhiên thay thế hoàn toàn nguồn nitơ vô cơ (urea).
  4. Phát triển thành công nguyên lý tích hợp chưng cất chân không trong quy trình không gia nhiệt (SLSFD), chứng minh khả năng giải tỏa hiện tượng ức chế cồn, cho phép nâng nồng độ chất khô lên ngưỡng 350–500 g/L.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Thiết lập hoàn chỉnh quy trình công nghệ SLSF-VHG trên nguyên liệu gạo Việt Nam ở quy mô pilot 100 L dịch lên men: đạt độ cồn 17,73% v/v, hiệu suất lên men 89,07%, chất lượng rượu đạt chuẩn TCVN 7043:2013.
  2. Cung cấp bảng số liệu định mức tiêu thụ điện, nước và chi phí sản xuất ở quy mô 100 L, làm cơ sở khoa học và công nghệ để chuyển giao, nhân rộng cho các cơ sở sản xuất rượu và cồn công nghiệp, giảm thiểu phát thải và tiêu hao năng lượng.
  3. Giải pháp chưng chân không tách cồn ở 350 g/L chất khô giúp rút ngắn thời gian lên men từ 96–120 h xuống còn 72 h, nâng cao năng suất thiết bị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào các chế phẩm enzym thương phẩm nhập khẩu (Dupont, DSM, Novozymes), chi phí enzym còn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu giá thành sản phẩm.
  • Quy trình chưng cất chân không tách cồn ngắt quãng đòi hỏi hệ thống thiết bị kín và kiểm soát áp suất nghiêm ngặt, mới dừng lại ở quy mô pilot trong phòng thí nghiệm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu tối ưu hóa chế độ thu hồi và tái sử dụng bã thải sau chưng cất (chứa hàm lượng protein nấm men và dưỡng chất cao) làm thức ăn chăn nuôi hoặc thực phẩm chức năng.
  • Hoàn thiện thiết kế hệ thống thiết bị tích hợp lên men - chưng cất chân không liên tục ở quy mô công nghiệp lớn hơn (từ vài mét khối trở lên).
  • Nghiên cứu sản xuất các chế phẩm enzym thủy phân tinh bột sống từ nguồn vi sinh vật bản địa nhằm giảm giá thành nguyên liệu enzym.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo giá trị cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học, Kỹ thuật Hóa học: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm VHG, các kỹ thuật phân tích vi cấu trúc tinh bột (SEM, XRD), sắc ký HPLC/GC và động học lên men vi sinh vật.
  • Giảng viên và nhà khoa học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề công nghệ sản xuất đồ uống có cồn, kỹ thuật enzym học ứng dụng và kỹ thuật phân tách chân không.
  • Kỹ sư công nghệ, nhà quản lý nhà máy cồn/rượu và doanh nghiệp sản xuất: Ứng dụng trực tiếp thông số công nghệ quy mô 100 L để cải tiến dây chuyền sản xuất rượu truyền thống hoặc cồn thực phẩm, chuyển đổi từ công nghệ nấu nhiệt độ cao sang công nghệ không gia nhiệt nhằm tiết kiệm 30–50% năng lượng, giảm chi phí xử lý môi trường và nâng cao hiệu suất thu hồi sản phẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao giống lúa IR50404 và các loại gạo có amylose < 26,32% lại phù hợp nhất cho quy trình SLSF-VHG?

Hạt tinh bột gạo có cấu trúc bán tinh thể loại A. Amylose là phân tử mạch thẳng xếp chặt trong vùng vô định hình và tạo liên kết bền vững, làm giảm chỉ số thủy phân của enzym amylase. Khi hàm lượng amylose thấp (< 26,32%), cấu trúc hạt tinh bột xốp hơn và chứa tỷ lệ amylopectin phân nhánh cao hơn, giúp tổ hợp enzym Stargen 002 dễ dàng hấp phụ qua vùng SBD và phân cắt liên kết glycosidic ở nhiệt độ thường (30°C).

2. Vai trò cốt lõi của enzym protease (Fermgen) trong việc thay thế hoàn toàn urea là gì?

Trong bột gạo, các hạt tinh bột bị bao bọc bởi mạng lưới protein nội nhũ. Fermgen thực hiện hai nhiệm vụ: (1) Thủy phân protein thành các peptide ngắn và nitơ amin tự do (FAN), cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp cho nấm men sinh trưởng mà không cần bổ sung hóa chất vô cơ urea (tránh nguy cơ tạo độc chất ethyl carbamate); (2) Phá vỡ màng protein bao quanh amyloplast, tạo ra các lỗ rỗng sâu giúp enzym amylase tiếp cận trực tiếp bề mặt và lõi hạt tinh bột.

3. Kết quả thử nghiệm ở quy mô pilot 100 L đạt được các chỉ số công nghệ nào?

Ở quy mô 100 L dịch lên men, quy trình SLSF-VHG đạt nồng độ ethanol 17,73% v/v, hiệu suất lên men đạt 89,07%. Sản phẩm rượu chưng cất đạt toàn bộ các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và giới hạn tạp chất (metanol, aldehyt, este, rượu bậc cao) theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7043:2013.

4. Ứng dụng chưng cất chân không tách cồn đồng thời đem lại lợi ích gì cho quá trình lên men?

Kỹ thuật chưng chân không ngắt quãng ở nhiệt độ thấp giúp bốc hơi một phần ethanol ra khỏi dịch lên men khi độ cồn đạt ngưỡng ức chế. Việc này giúp:

  • Tăng mật độ tế bào nấm men sống và kéo dài hoạt lực enzym.
  • Ở nồng độ chất khô 350 g/L: đạt độ cồn tổng thu hồi 19,98% v/v, hiệu suất lên men 89,09% và rút ngắn thời gian lên men từ 96–120 h xuống 72 h.
  • Cho phép nâng nồng độ chất khô lên đến 500 g/L mà vẫn duy trì hiệu suất lên men tương đương quy trình chuẩn.

Kết luận

Luận án của TS. Tiền Tiến Nam đã giải quyết thành công các cơ sở khoa học và thông số công nghệ của quy trình dịch hóa, đường hóa và lên men ethanol đồng thời không gia nhiệt ở nồng độ chất khô cao (SLSF-VHG) từ gạo Việt Nam. Bằng việc làm sáng tỏ cơ chế hiệp đồng giữa phức hệ enzym phân giải tinh bột sống Stargen 002 và protease Fermgen, nghiên cứu đã loại bỏ hoàn toàn việc bổ sung urea và tối ưu hóa quá trình phân giải hạt bột gạo sống. Kết quả thử nghiệm thành công ở quy mô pilot 100 L đạt hiệu suất lên men 89,07% và việc ứng dụng giải pháp chưng cất chân không nâng nồng độ chất khô lên 350–500 g/L là tiền đề kỹ thuật quan trọng để hiện đại hóa ngành sản xuất cồn thực phẩm tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam.