đặt vấn đề nghiên cứu phát triển và tổng hợp các dẫn xuất poly (3–alkylthiophene); thay đổi các nhóm thế để“tăng khả năng hòa tan trong các dung môi hữu cơ”; tiếp theo thực hiện một loạt các nghiên cứu khoa học. Từ“đó, polythiophene và các dẫn xuất của nó là những vật liệu quan trọng được nghiên cứu rộng rãi” [3],[4],[5],[6],[7]. Cơ chế phản ứng polymer hóa Dẫn xuất thiophene có ưu điểm hơn so với các tiền chất polymer dẫn điện khác ở chỗ chúng rất bền với nhiều điều kiện phản ứng cũng như có nhiều nhóm chức liên kết được với phân tử thiophene, bithiophene, hoặc tert–thiophene [8],[9]. Các nhóm chức như vậy dẫn đến việc điều chỉnh các đặc tính của vật liệu: khả năng hòa tan, độ dẫn điện… cho ứng dụng cụ thể của vật liệu đó trong thực tế [10].
Cấu trúc chung của monomer thiophene và phản ứng polymer hóa dưới tác dụng của chất oxy hóa của nó được thể hiện trong Hình 1. Sự ưu tiên cho phản ứng polymer hóa xảy ra thông qua hai vị trí α hoạt hóa hơn, tạo ra một polymer dẫn điện. Bất kỳ liên kết α–β hoặc β–β nào đều được coi là khuyết tật vì chúng làm giảm độ dẫn điện của polythiophene do phá vỡ hệ liên hợp π [11].1: Sơ đồ quá trình polymer hóa hóa học Các nhóm chức ở vị trí β có thể định hướng cho phản ứng polymer hóa, từ đó thay đổi các đặc tính của polymer. Độ tan của polythiophene không có nhóm thế bằng không trong các dung môi thông thường [12], tuy nhiên khi gắn các chuỗi alkyl vào vị trí beta của monomer tạo ra polymer tan trong dung môi hữu cơ [13].
Khi thay đổi các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nhóm thể gắn vào vị trí beta có thể thay tính chất của polythiophene cho các ứng dụng cụ thể như cảm biến [14],[15], FET [16], đèn LED [17], quang điện [15],[18],[19] và cảm biến sinh học [20]. Khi hai monomer có một nhóm thế ở vị trí beta được kết hợp với nhau, chúng có thể ghép đôi ở một trong ba cách sau : đầu– đuôi, đầu – đầu, hoặc nối đuôi nhau (Hình 1.2: Các cấu trúc có thể có của polythiophene Tuy nhiên, khi gắn các chuỗi alkyl vào vị trí beta của monomer tạo ra polymer có khả năng hòa tan trong dung môi hữu cơ [21]. “Hai phương pháp đơn giản nhất để tổng hợp polythiophene và dẫn xuất là phương pháp hóa học và phương pháp điện hóa,” ngoài ra còn có các phương pháp hóa học khác để tổng hợp polymer [22]. “Ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp được liệt kê dưới đây trong Bảng 1.1: So sánh các phương pháp polymer hóa Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm polymer hóa – Có thể thay đổi dạng polymer: – Khó kiểm soát tính điều hòa dạng hơi, sợi và hạt nano.
của polymer thu được Phương pháp – Khối lượng phân tử polymer thu – Khả năng oxy hóa của hóa học được khá lớn. monomer thấp hơn chất oxy – Điều kiện tổng hợp đơn giản, dễ hóa. – Chủ yếu tạo ra polymer dạng – Không tổng hợp được nếu Phương pháp màng, kiểm soát phản ứng bằng monomer có cấu trúc phức điện hóa cách thay đổi dòng điện và điện áp tạp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 – Cần có chất dẫn điện.
– Kiểm soát chính xác hơn tính điều – Khó kiểm soát hơn. hòa và độ dẫn điện. – Polymer có khối lượng phân Phương pháp – Yêu cầu monomer có thế oxy hóa tử thấp. khác cao – Không phù hợp tất cả các nhóm chức khác nhau.
Phương pháp tổng hợp polymer được lựa chọn phụ thuộc vào monomer và các đặc tính mong muốn ở polymer thu được. Những yếu tố tác động đến hiệu suất tổng hợp polymer hóa theo“phương pháp hóa học là xúc tác, dung môi và nhiệt độ phản ứng” [23]. FeCl3 được ưu tiên sử dụng hơn (NH4)S2O8 [24], dù có thế oxi“hóa khử tiêu chuẩn thấp hơn vì FeCl3 có khả năng tương thích”tốt các dung môi hữu cơ [7]. “Tỉ lệ mol giữa monomer và xúc tác sắt (III) chloride luôn là 1:4.” Phương trình hóa học của phản ứng polymer hóa như sau: Đầu tiên, sự có mặt của FeCl3 trong quá trình polymer hóa là cần thiết [25].Nếu không có sắt (III) chloride ở dạng rắn thì phản ứng polymer hóa không xảy ra.
Dựa vào phương trình hóa học, tỉ lệ số mol giữa monomer và FeCl 3 là 1:2. Tuy nhiên vì FeCl3 tan ít trong dung môi clorofom nên cần lấy dư FeCl3 so với lượng phản ứng. Sản phẩm của phản ứng tạo thành HCl, chất này làm giảm hiệu suất của phản ứng polymer hóa, tuy nhiên FeCl3 lại có khả năng kết hợp với HCl sinh ra để tạo thành phức FeCl4–. Vì vậy lấy dư FeCl3 gấp đôi so với lượng cần phản ứng.
Vai trò của sắt (III) chloride trong phản ứng polymer hóa: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trên bề mặt tinh thể, ion Fe3+ còn orbital trống, do đó có khả năng nhận thêm electron, đóng vai trò là một acid Lewis [26]. Khi phản ứng polymer hóa diễn ra, một electron trên nguyên tử lưu huỳnh của phân tử monomer sẽ kết hợp với orbital trống trên ion Fe3+ để hình thành cation gốc. Mặc dù thế oxi hóa khử của Fe3+/Fe2+ không quá cao nhưng đủ để oxi hóa monomer thiophene thành cation gốc. Cơ chế của phản ứng polymer hóa: FeCl 3 đóng vai trò là chất khơi mào cho quá trình tạo gốc, từ đó ion–gốc tạo thành phản ứng với các phân tử trung hòa để nối dài mạch polymer.
Bên cạnh đó, carbocation tạo thành có năng lượng thấp nên khá bền vững. Hai yếu tố này thuận lợi cho phản ứng polymer hóa hóa học xảy ra với khớp nối ở vị trí 2 và 5 [25]. “Tuy nhiên khi tổng hợp polymer bằng phương pháp hóa học dùng chất xúc tác FeCl3 sản phẩm thu được có cấu trúc không điều hòa, dẫn đến thay đổi tính chất của vật liệu thu được. Để định hướng tính chất điều hòa của mạch polymer, người ta thêm vào monomer các nhóm chức alkyl hoặc dị vòng ở vị trí số 3 [7].3: Cơ chế trùng hợp thiophene sử dụng xúc tác FeCl3 Dung môi trong phản ứng polymer phải đáp ứng yêu cầu: hòa tan được polymer sinh ra, nếu không thì polymer sẽ bám trên bề mặt FeCl3 và FeCl2.
Polymer sinh ra tan ít trong một số dung môi như chloroform, toluene, benzene… [27]. Vì vậy lựa chọn CHCl 3 cho phản ứng polymer hóa là phù hợp vì thỏa mãn được các yêu cầu: hòa tan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 monomer ban đầu và polymer sinh ra, không ảnh hưởng đến cấu trúc sản phẩm, rẻ tiền và dễ kiếm. Bandgap– hệ liên hợp– độ dẫn điện Hệ liên hợp của polythiophene được xác định bằng sự xen phủ của các orbital π giữa các vòng thơm đồng phẳng với nhau [7],[28]. Electron nằm ở orbital phân tử bị chiếm cao nhất (HOMO/VB) có khả năng chuyển lên orbital phân tử không bị chiếm thấp nhất (LUMO/CB).
Mức năng lượng để electron chuyển từ HOMO lên LUMO được gọi là khe dải năng lượng Eg. Với polythiophene Eg = 1,96eV được xếp vào loại chất bán dẫn [29]. Electron di chuyển tự do trong mạch liên hợp là điều kiện cần thiết để polymer dẫn điện. Để electron dịch chuyển dễ dàng trong mạch thì chất pha tạp đóng vai trò rất lớn.
Mối liên hệ giữa chất pha tạp và khả năng dịch chuyển của electron trong mạch liên hợp được trình bày dưới đây. Ở trạng thái trung hòa, khi chưa pha tạp thì polythiophene có Eg là 1,96eV. Khi thêm chất pha tạp, polythiophene mất một electron để tạo thành“một lỗ trống mang điện tích dương và một electron”riêng lẻ, anion A– đóng vai trò trung hòa điện tích. Phân tử polythiophene có một lỗ trống và một electron riêng lẻ được gọi là polaron, cặp lỗ trống và electron thường cách nhau 3–4 mắt xích thiophene [30].
Lúc này giá trị khe dải năng lượng đã được thu hẹp. Khi polythiophene mất thêm 1 electron nữa sẽ tạo thành bipolaron có 2 lỗ trống mang điện tích dương. Các phần tử này góp phần thu hẹp khe dải năng lượng, giúp electron dịch chuyển dễ dàng từ HOMO lên LUMO. Khi đó sự dẫn điện xảy ra.
“sau khi pha tạp với iodine thì giá trị khe dải năng lượng giảm xuống còn 1,63eV [30],[31],[32].” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4: Cấu trúc hóa học và khe dải năng lượng tương ứng của polythiophene trung hòa, polaron và bipolaron [33] Các polymer với cấu trúc điều hòa có các đặc tính hóa lý riêng biệt. Cấu trúc điều hòa H–T là cơ sở hình thành cấu trúc của polymer ở dạng tinh thể trong không gian ba chiều do khả năng tự sắp xếp theo lớp [34], dẫn đến tăng hiệu suất mang điện trong và ngoài chuỗi, tăng khả năng dẫn điện và các đặc tính thú vị khác của các dẫn xuất PT. Các polymer cấu trúc điều hòa làm độ dẫn điện cao hơn do vùng xen phủ của các AO–p được mở rộng, giúp cho các hạt mang điện linh động trong toàn mạch polymer. Trái lại các polymer có cấu trúc mạch bất điều hòa có độ dẫn điện giảm do các liên kết được hình thành gây ra sự xoắn trong không gian, phá vỡ sự xen phủ của các AO–p dẫn đến độ dài mạch liên hợp giảm, từ đó độ dẫn điện giảm [11],[12].
Tính chất quang điện của polythiophene và dẫn xuất Hệ liên hợp trong mạch polymer quyết định đến tính chất của nó như tính chất quang, độ dẫn điện. Chiều dài hệ liên hợp được xác định bằng số lượng các vòng đồng phẳng. Số lượng các vòng càng nhiều, hệ liên hợp càng dài, sự xen phủ của các orbital càng lớn. Khi đó khoảng cách giữa các mức năng lượng được thu hẹp lại, bước sóng hấp thụ càng dài.
Polythiophene có cấu trúc điều hòa là điều kiện thuận lợi để hình thành hệ liên hợp trong mạch polymer. Khi trên vòng thiophene có thêm các nhánh ở vị trí số 3 sẽ gây ra cấu trúc xoắn không điều hòa của mạch polymer, dẫn đến chiều dài mạch liên hợp giảm, khi đó các mức năng lượng bị gia tăng khoảng cách, bước sóng hấp thụ dịch chuyển về phía bước sóng ngắn [7]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Phổ UV – Vis cung cấp dữ kiện định tính về độ dài mạch liên hợp [32] dựa vào mức độ phân bố electron π trong mạch liên hợp. Các electron π hấp thụ năng lượng quang để thực hiện quá trình chuyển mức năng lượng π → π ∗, tương ứng với khoảng cách HOMO – LUMO.
Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cực đại hấp thụ (λmax) là khối lượng và vị trí nhóm thế được thêm vào phân tử polymer.