Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây Cát sâm (Millettia speciosa Champ., tên đồng danh: Callerya speciosa (Champ.) Schot, Nanhaia speciosa (Champ.) J. Compton & Schrire), thuộc họ Đậu (Fabaceae), là loài thực vật phân bố tự nhiên và được trồng tại nhiều tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Bắc Giang, Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Nam. Trong y học dân gian, rễ củ Cát sâm (còn gọi là Tài lệch, Sâm nam, Sâm chuột, Sơn liên ngẫu, Ngưu đại lực, Đại lực thự, Sâm chèo mèo) được sử dụng phổ biến làm vị thuốc bổ, chữa suy nhược cơ thể, đau thắt lưng, phong thấp, viêm khớp, viêm phế quản mạn tính và viêm gan. Nhằm đóng góp thêm cơ sở khoa học về thành phần hóa học cho việc khai thác và chuẩn hóa nguồn dược liệu này, khóa luận tốt nghiệp ngành Dược học của tác giả Phạm Phương Thảo tập trung nghiên cứu thành phần hóa học của phân đoạn dịch chiết ethylacetat từ rễ củ Cát sâm.
Khóa luận xác định 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Phân lập được một số hợp chất trong phân đoạn dịch chiết ethylacetat từ rễ củ cây Cát sâm.
- Xác định được cấu trúc các hợp chất đã phân lập.
Đối tượng nghiên cứu là mẫu rễ củ cây Cát sâm (Millettia speciosa Champ.) thu hái tại tỉnh Tuyên Quang vào tháng 01 năm 2022. Mẫu được giám định danh pháp thực vật và lưu giữ tại Bộ môn Dược liệu - Dược học cổ truyền, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu thực nghiệm được triển khai từ năm 2022 đến tháng 05 năm 2023 tại Trường Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Viện Hóa học, Viện Hóa sinh biển (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu dựa trên cơ sở phân loại thực vật học của hệ thống APG IV (Angiosperm Phylogeny Group IV, 2016) và hệ thống của Armen Takhtajan (1997), xếp chi Millettia vào phân họ Đậu (Faboideae), họ Đậu (Fabaceae), bộ Đậu (Fabales). Các nghiên cứu hóa thực vật và dược lý học quốc tế đã chứng minh chi Millettia và loài M. speciosa chứa nhiều nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học cao như flavonoid, isoflavonoid, triterpenoid, chalcon, rotenoid, phenolic glycosid và acid béo chuỗi lẻ.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm chuỗi kỹ thuật chiết xuất, phân lập và phổ nghiệm hóa học:
- Phương pháp chiết xuất và phân đoạn: Dược liệu rễ củ khô (3,5 kg) được nghiền nhỏ và chiết Soxhlet bằng dung môi nước cất (thời gian 6-8 giờ, lặp lại 3 lần). Dịch chiết sau lọc được cô quay giảm áp thành cao lỏng toàn phần, sau đó tiến hành chiết phân bố lỏng - lỏng phân đoạn lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: n-hexan, ethylacetat (EtOAc) và n-butanol (n-BuOH) (mỗi dung môi chiết 1,5 lít × 3 lần, lắc phân đoạn 10 phút).
- Phương pháp sắc ký phân lập: Áp dụng sắc ký cột (Column Chromatography - CC) với chất hấp phụ là silica gel pha thường (kích thước hạt 0,063–0,200 mm và 0,040–0,063 mm), silica gel pha đảo RP-18 (kích thước hạt 0,03–0,05 mm) và gel lọc Sephadex LH-20. Sắc ký lớp mỏng (TLC) được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn silica gel 60 F254 và silica gel 60 RP-18 F254s (Merck) để kiểm tra độ tinh khiết và theo dõi phân đoạn; vết chất được phát hiện dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm, 365 nm hoặc phun dung dịch H2SO4 10%/ethanol và vanilin-acid sulfuric 1%, sau đó hơ nóng.
- Phương pháp xác định cấu trúc: Đo điểm nóng chảy trên máy SMP10 BioCote; đo phổ khối lượng ion hóa phun bụi điện tử (ESI-MS) trên thiết bị Agilent 1100 LC/MSD và phổ khối va chạm điện tử (EI-MS, 70 eV); đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR ở tần số 500 MHz, 13C-NMR và DEPT ở tần số 125 MHz) trên máy Bruker AVANCE 500 MHz tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Dữ liệu phổ được giải mã và đối chiếu với các tài liệu công bố chuẩn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương này trình bày tổng quan hệ thống về đặc điểm thực vật học, phân loại, phân bố, thành phần hóa thực vật và tác dụng dược lý của chi Millettia cũng như loài Millettia speciosa Champ.:
- Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái họ Fabaceae và chi Millettia: Chi Millettia bao gồm hơn 200 loài thân gỗ, bụi hoặc dây leo phân bố rộng tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Úc. Tại Việt Nam, họ Đậu có khoảng 134 chi với hơn 630 loài, trong đó 51 loài được sử dụng làm thuốc. Phân họ Faboideae có đặc điểm hoa tràng hình bướm, tiền khai cờ, bộ nhị 10 (thường dính thành 2 bó kiểu 9+1 hoặc dính liền). Rễ có nốt sần chứa vi khuẩn cộng sinh cố định đạm.
- Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của chi Millettia: Các nhóm hợp chất chuyển hóa thứ cấp chính gồm flavonoid, isoflavonoid, rotenoid, pterocarpan, chalcon, saponin triterpen và alkaloid. Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra chi Millettia có các hoạt tính sinh học đa dạng: kháng khuẩn, chống co thắt cơ trơn, hoạt tính giống estrogen, độc tế bào đối với tế bào ung thư (như dòng tế bào HT-29 của M. caerulea), chống sốt rét, chống oxy hóa, chống loét dạ dày, ức chế men cholinesterase (tiềm năng trong điều trị Alzheimer) và ức chế enzym α-glucosidase, α-amylase (hỗ trợ điều trị đái tháo đường).
- Tổng quan về cây Cát sâm (Millettia speciosa): Tác giả mô tả chi tiết hình thái cây, hoa, quả dẹt chứa 1-10 hạt hình thấu kính, rễ củ nạc hình trụ khi cắt có vân ruột như nan hoa bánh xe. Vi phẫu rễ củ có lớp bần 4-8 hàng tế bào chữ nhật, mô cứng chứa tinh thể calci oxalat hình thoi, mô mềm libe và tia ruột 3-4 hàng tế bào xuyên tâm.
- Tổng hợp các công bố hóa học và y học cổ truyền về Cát sâm: Trích dẫn các nghiên cứu của Ping Ding và cộng sự (2014) phân lập 13 hợp chất; Nguyễn Ngọc Tuấn và cộng sự (2022) phân lập 10 hợp chất (6 triterpenoid, 2 flavonoid, 2 phenol); Nasiruddin và cộng sự (2022) nhận diện 57 hợp chất bằng GC-MS; Zhang M. và cộng sự (2021) xác định 86 hợp chất qua HPLC. Về mặt y học cổ truyền, Cát sâm có vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và tỳ; chủ trị sinh tân chỉ khát, nhuận phế, bổ khí, tiêu đờm, được dùng trong các bài thuốc bổ hư nhược, trị ho nhiệt, sốt khát nước, bí tiểu tiện, giải cảm nắng và thủy đậu.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn nguyên liệu thực vật, danh mục hóa chất, dung môi tinh khiết, trang thiết bị kỹ thuật và quy trình thực nghiệm:
- Xử lý nguyên liệu: 3,5 kg rễ củ Cát sâm tươi thu tại Tuyên Quang được rửa sạch, thái phiến, sấy khô ở nhiệt độ dưới 50 °C, nghiền nhỏ và bảo quản.
- Chiết xuất phân đoạn: Dược liệu bột được chiết Soxhlet bằng nước cất trong 6-8 giờ (3 lần), lọc bông, thu dịch và cô quay chân không thu cao lỏng toàn phần. Cao lỏng được lắc chiết phân bố lần lượt với n-hexan, EtOAc và n-BuOH (1,5 L × 3 lần mỗi dung môi), sau đó cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm, thu được 18 g cắn n-hexan, 92 g cắn EtOAc và 26 g cắn n-BuOH.
- Quy trình phân lập từ cắn EtOAc: Từ 80 g cắn EtOAc, tiến hành chạy sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi rửa giải n-hexan : CH2Cl2 gradient (từ tỷ lệ 75:25 đến 15:85, v/v), thu được 5 phân đoạn lớn ký hiệu từ D1 đến D5.
- Từ phân đoạn D2 (khối lượng 15 g), tiến hành chạy cột Sephadex LH-20 với hệ dung môi CHCl3 : MeOH (19:1 và 9:1, v/v; tổng thể tích 2,5 L), thu được 3 phân đoạn phụ D2.1, D2.2 và D2.3.
- Phân đoạn D2.1 được tinh chế tiếp qua cột silica gel với hệ rửa giải chloroform : methanol (5:2, v/v), thu được hợp chất ký hiệu CS5 (19 mg).
- Phân đoạn D2.2 được tách trên cột silica gel với hệ dung môi ethylacetat : dicloromethan (5:1, v/v), thu được hợp chất ký hiệu CS6 (30 mg).
- Phân đoạn D2.3 được tách trên cột silica gel với hệ dung môi n-hexan : ethylacetat (3:2, v/v), thu được hợp chất ký hiệu CS7 (23 mg).
- Phương pháp xác định cấu trúc: Kết hợp đo nhiệt độ nóng chảy, sắc ký lớp mỏng, phổ ESI-MS, EI-MS và các phổ 1H-NMR, 13C-NMR, DEPT.
Chương 3: Kết quả
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm chiết xuất, khối lượng các phân đoạn và các thông số phổ nghiệm xác định cấu trúc của 3 hợp chất tinh khiết:
| Ký hiệu mẫu |
Tên hợp chất xác định |
Danh pháp hóa học / Công thức phân tử |
Khối lượng phân lập |
Dạng cảm quan & Điểm nóng chảy ($t_{nc}$) |
Dữ liệu phổ khối lượng (MS) |
| CS5 |
Rutin |
Quercetin-3-O-[α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranoside] ($\text{C}{27}\text{H}{30}\text{O}_{16}$) |
19 mg |
Bột màu vàng, $t_{nc} = 214 \div 216\text{ }^\circ\text{C}$ |
Đối chiếu phổ chuẩn NMR trong $\text{DMSO-}d_6$ |
| CS6 |
Acid margaric |
Acid heptadecanoic ($\text{C}{17}\text{H}{34}\text{O}_2$, $M = 270\text{ đvC}$) |
30 mg |
Tinh thể màu trắng ngà, $t_{nc} = 60 \div 63\text{ }^\circ\text{C}$, $R_f = 0,66$ |
ESI-MS: $m/z\text{ }271,1\text{ }[M+\text{H}]^+$ |
| CS7 |
Acid ursolic |
Acid 3β-hydroxyurs-12-en-28-oic ($\text{C}{30}\text{H}{48}\text{O}_3$, $M = 456\text{ đvC}$) |
23 mg |
Chất rắn màu trắng, $t_{nc} = 290 \div 292\text{ }^\circ\text{C}$, $R_f = 0,50$ |
EI-MS (70 eV): $m/z\text{ }456,1\text{ }[M]^+$, 248,1 (100%), 203,1 |
Chi tiết biện luận cấu trúc từng hợp chất:
- Hợp chất CS5 (Rutin): Phổ 1H-NMR (DMSO-$d_6$, 500 MHz) chỉ ra tín hiệu singlet tại $\delta_\text{H}\text{ }12,58\text{ ppm}$ của nhóm 5-OH liên kết hydro với carbonyl tại C-4; các proton nhân thơm vòng A và B gồm $\text{H}-6\text{ }(\delta_\text{H}\text{ }6,19\text{ ppm},\text{ }d,\text{ }J=1,8\text{ Hz})$, $\text{H}-8\text{ }(\delta_\text{H}\text{ }6,39\text{ ppm},\text{ }d,\text{ }J=2,2\text{ Hz})$, $\text{H}-2'\text{ }(\delta_\text{H}\text{ }7,54\text{ ppm},\text{ }d,\text{ }J=1,8\text{ Hz})$, $\text{H}-5'\text{ }(\delta_\text{H}\text{ }6,87\text{ ppm},\text{ }d,\text{ }J=8,0\text{ Hz})$, $\text{H}-6'\text{ }(\delta_\text{H}\text{ }7,54\text{ ppm},\text{ }dd,\text{ }J=8,0;\text{ }2,0\text{ Hz})$. Hai proton anomeric xuất hiện ở $\delta_\text{H}\text{ }5,31\text{ ppm}\text{ }(d,\text{ }J=7,8\text{ Hz},\text{ glc-H}-1'')$ và $\delta_\text{H}\text{ }4,49\text{ ppm}\text{ }(d,\text{ }J=1,8\text{ Hz},\text{ rham-H}-1''')$, cùng nhóm methyl của rhamnose tại $\delta_\text{H}\text{ }1,03\text{ ppm}\text{ }(d,\text{ }J=6,0\text{ Hz})$. Phổ 13C-NMR và DEPT cho thấy đủ 27 tín hiệu carbon (15 carbon khung quercetin và 12 carbon của hai phân tử đường glucose và rhamnose).
- Hợp chất CS6 (Acid margaric): Phổ ESI-MS có pic ion phân tử $m/z\text{ }271,1\text{ }[M+\text{H}]^+$, phù hợp với công thức phân tử $\text{C}{17}\text{H}{34}\text{O}2$. Phổ 1H-NMR $(\text{CDCl}3)$ thể hiện nhóm methylen kế cận nhóm carboxyl tại $\delta\text{H}\text{ }2,33\text{ ppm}\text{ }(2\text{H},\text{ }t,\text{ }J=7,5\text{ Hz},\text{ H}-2)$, nhóm methylen tại C-3 ở $\delta\text{H}\text{ }1,64\text{ ppm}$, dải tín hiệu tích phân 26 proton của 13 nhóm methylen mạch dài trong khoảng $\delta_\text{H}\text{ }1,26 \div 1,32\text{ ppm}$ và 1 nhóm methyl tận cùng tại $\delta_\text{H}\text{ }0,87\text{ ppm}\text{ }(3\text{H},\text{ }t,\text{ }J=7,0\text{ Hz})$. Phổ 13C-NMR cho tín hiệu nhóm carboxyl tại $\delta_\text{C}\text{ }179,1\text{ ppm}\text{ (C}-1)$, $\text{C}-2\text{ }(\delta_\text{C}\text{ }33,9\text{ ppm})$ và $\text{C}-17\text{ }(\delta_\text{C}\text{ }14,2\text{ ppm})$.
- Hợp chất CS7 (Acid ursolic): Phổ EI-MS cho pic ion phân tử $m/z\text{ }456,1\text{ }[M]^+$ và các mảnh ion đặc trưng phân cắt retro Diels-Alder của khung triterpen urs-12-en ở $m/z\text{ }248,1\text{ }(100%)$ và $203,1\text{ }(45%)$. Phổ 1H-NMR và 13C-NMR chỉ ra tín hiệu proton hydroxymetin tại $\delta_\text{H}\text{ }3,18\text{ ppm}\text{ }(t,\text{ }J=16,5\text{ Hz},\text{ H}-3)$ tương ứng $\delta_\text{C}\text{ }78,6\text{ ppm}\text{ (C}-3)$, proton olefin tại $\delta_\text{H}\text{ }5,21\text{ ppm}\text{ (H}-12)$ tương ứng liên kết đôi $\text{C}-12\text{ }(\delta_\text{C}\text{ }125,1\text{ ppm})$ và $\text{C}-13\text{ }(\delta_\text{C}\text{ }138,1\text{ ppm})$, carbon carboxyl tại $\delta_\text{C}\text{ }180,6\text{ ppm}\text{ (C}-28)$, cùng 7 nhóm methyl đặc trưng của khung ursan.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả phân tích, so sánh các phát hiện thực nghiệm với y văn đã công bố:
- Đánh giá quy trình thực nghiệm: Phương pháp ngâm chiết Soxhlet kết hợp chiết phân bố lỏng - lỏng và sắc ký cột silica gel, gel Sephadex LH-20 là quy trình kinh điển, dễ thực hiện, chi phí hợp lý và hiệu quả cao để phân lập các hợp chất tự nhiên ở quy mô phòng thí nghiệm.
- Hoạt tính và ý nghĩa sinh học của Rutin: Rutin là một flavonol glycosid tự nhiên phân bố ở nhiều loài thực vật. Tác giả tổng hợp các bằng chứng dược lý cho thấy rutin có khả năng bảo vệ thần kinh thông qua ức chế các cytokin tiền viêm (giảm TNF-α và IL-1β trong tế bào vi tế bào đệm), hỗ trợ điều trị sa sút trí tuệ Alzheimer, chống co giật, giảm tổn thương viêm khớp dạng thấp do ức chế sản sinh gốc oxy hóa, chống nấm Candida albicans, lợi tiểu thông qua giải phóng nitric oxid làm tăng giãn mạch thận và ức chế sự phát triển của dòng tế bào ung thư nguyên bào thần kinh LAN-5.
- Vai trò chuyển hóa của Acid margaric (Acid heptadecanoic): Là một acid béo bão hòa chuỗi lẻ (Odd-Chain Saturated Fatty Acid - OCS-FA, C17:0), acid margaric đóng vai trò là cơ chất sinh tổng hợp glycosphingolipid ở não và tham gia phản ứng anaplerotic bổ sung chất trung gian cho chu trình acid citric (CAC) bằng cách chuyển hóa thành propionyl-CoA rồi thành succinyl-CoA. Mức nồng độ acid heptadecanoic huyết tương cao có mối tương quan nghịch với nguy cơ mắc đái tháo đường tuýp 2 (giảm khoảng 30%), là dấu ấn sinh học chuyển hóa quan trọng.
- Tiềm năng điều trị của Acid ursolic: Triterpenoid năm vòng loại ursan này thể hiện tác dụng kháng viêm, chống oxy hóa, kháng virus và chống khối u trên nhiều dòng ung thư (nội mạc tử cung, tụy, phổi, tuyến tiền liệt, buồng trứng, bàng quang, dạ dày, gan). Tuy nhiên, theo hệ thống phân loại sinh dược học (BCS), acid ursolic thuộc nhóm IV (độ tan kém và tính thấm màng sinh học hạn chế), dẫn đến sinh khả dụng đường uống thấp, đòi hỏi các định hướng công nghệ nano hóa hoặc biến đổi cấu trúc để tối ưu hóa hiệu quả điều trị.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả định lượng cụ thể:
- Từ 3,5 kg dược liệu rễ củ Cát sâm khô, chiết xuất và thu được 92 g cắn dịch chiết phân đoạn ethylacetat.
- Từ 80 g cắn ethylacetat qua hệ thống sắc ký cột silica gel và Sephadex LH-20, đã phân lập thành công 03 hợp chất tinh khiết gồm: CS5 (19 mg Rutin), CS6 (30 mg Acid margaric) và CS7 (23 mg Acid ursolic).
- Xác định đầy đủ và chính xác cấu trúc hóa học của 03 hợp chất bằng tổ hợp dữ liệu nhiệt độ nóng chảy, sắc ký lớp mỏng, phổ khối lượng (ESI-MS, EI-MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân đa chiều (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT).
Đóng góp khoa học của khóa luận:
- Bổ sung dữ liệu thực nghiệm chi tiết về thành phần hóa học phân đoạn ethylacetat của mẫu Cát sâm thu hái tại Tuyên Quang, góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu hóa thực vật cho nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam.
- Khẳng định sự hiện diện đồng thời của nhóm flavonoid glycosid (rutin), acid béo chuỗi lẻ (acid margaric) và triterpenoid pentacyclic (acid ursolic) trong rễ củ Cát sâm, lý giải cho các tác dụng bồi bổ, chống viêm và bảo vệ cơ thể theo kinh nghiệm y học cổ truyền.
Các kiến nghị do tác giả đề xuất:
- Tiếp tục triển khai nghiên cứu hóa thực vật và phân lập các hợp chất từ các phân đoạn dịch chiết còn lại của rễ củ Cát sâm như phân đoạn n-hexan, n-butanol và phân đoạn nước.
- Tiến hành các thử nghiệm đánh giá hoạt tính sinh học in vitro và in vivo trên các hợp chất tinh khiết đã phân lập để xác định rõ hơn các hợp chất tiềm năng làm thuốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu được tác giả nêu ra:
- Nghiên cứu chỉ tập trung phân lập hóa học trên một phần phân đoạn dịch chiết ethylacetat (80 g trên tổng số 92 g cắn thu được và khu trú vào phân đoạn D2), chưa khảo sát toàn diện các phân đoạn D1, D3, D4, D5 cũng như các phân đoạn dung môi khác (n-hexan, n-butanol, cắn nước).
- Đề tài mới dừng lại ở bước phân lập và xác định cấu trúc hóa học, chưa trực tiếp thực hiện các thử nghiệm sinh học in vitro hoặc in vivo đối với 3 hợp chất phân lập được do giới hạn khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học.
- Chưa giải quyết vấn đề độ tan và sinh khả dụng thấp của acid ursolic (thuộc nhóm IV hệ thống BCS) bằng các giải pháp công nghệ bào chế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng chiết xuất và phân lập hoạt chất trên các phân đoạn dịch chiết n-hexan, n-butanol và phân đoạn nước.
- Thiết kế các thử nghiệm sàng lọc tác dụng sinh học thực nghiệm (chống viêm, chống oxy hóa, ức chế enzyme α-glucosidase, độc tế bào ung thư) cho các hợp chất phân lập từ Cát sâm.
- Nghiên cứu các hệ phân phối thuốc kích thước nano hoặc dẫn xuất hóa học nhằm cải thiện độ tan và sinh khả dụng của acid ursolic chiết xuất từ dược liệu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc các chuyên ngành Dược học, Dược liệu học, Hóa dược, Hóa hợp chất thiên nhiên và Công nghệ thực phẩm.
- Những người thực hiện đề tài nghiên cứu về chiết xuất, phân lập và chuẩn hóa hoạt chất từ các loài thuộc chi Millettia hoặc họ Đậu (Fabaceae).
- Các nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản:
- Quy trình chiết phân đoạn liên tục và quy trình phân tách sắc ký cột silica gel kết hợp Sephadex LH-20 từ cắn ethylacetat.
- Bộ số liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR, 13C-NMR và DEPT chi tiết của rutin, acid margaric và acid ursolic kèm bảng đối chiếu với tài liệu quốc tế.
- Tổng quan tài liệu về thành phần hóa học và dược lý học thực nghiệm của Cát sâm.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu rễ củ Cát sâm dùng trong nghiên cứu được thu hái ở đâu, thời gian nào và khối lượng ban đầu là bao nhiêu?
Mẫu rễ củ Cát sâm (Millettia speciosa Champ.) được thu hái tại tỉnh Tuyên Quang vào tháng 01 năm 2022. Khối lượng dược liệu khô sau khi thái phiến và sấy là 3,5 kg.
2. Khối lượng cắn thu được từ quá trình chiết phân bố lỏng - lỏng cao toàn phần là bao nhiêu?
Từ 3,5 kg dược liệu chiết Soxhlet bằng nước cất, sau khi lắc phân đoạn lỏng - lỏng thu được: 18 g cắn n-hexan, 92 g cắn ethylacetat (EtOAc) và 26 g cắn n-butanol (n-BuOH).
3. Tác giả đã phân lập được những hợp chất nào từ phân đoạn ethylacetat và khối lượng từng chất là bao nhiêu?
Từ 80 g cắn ethylacetat (qua phân đoạn D2 và các cột sắc ký tiếp theo), tác giả phân lập được 03 hợp chất:
- Hợp chất CS5: Rutin (khối lượng 19 mg).
- Hợp chất CS6: Acid margaric / acid heptadecanoic (khối lượng 30 mg).
- Hợp chất CS7: Acid ursolic / acid 3β-hydroxyurs-12-en-28-oic (khối lượng 23 mg).
4. Dữ liệu phổ nào được sử dụng để xác định hợp chất CS6 là acid margaric?
Hợp chất CS6 (tinh thể trắng ngà, $t_{nc} = 60 \div 63\text{ }^\circ\text{C}$, $R_f = 0,66$) được xác định cấu trúc qua: phổ ESI-MS cho pic ion phân tử $m/z\text{ }271,1\text{ }[M+\text{H}]^+$ tương ứng $\text{C}{17}\text{H}{34}\text{O}2$; phổ 1H-NMR ($\text{CDCl}3$) có tín hiệu $\delta\text{H}\text{ }2,33\text{ ppm}$ ($\text{H}-2$), $\delta\text{H}\text{ }1,64\text{ ppm}$ ($\text{H}-3$), dải 26 proton methylen ở $\delta_\text{H}\text{ }1,26 \div 1,32\text{ ppm}$ ($\text{H}-4 \rightarrow \text{H}-16$), 1 nhóm methyl tại $\delta_\text{H}\text{ }0,87\text{ ppm}$ ($\text{H}-17$); phổ 13C-NMR có tín hiệu carbonyl tại $\delta_\text{C}\text{ }179,1\text{ ppm}$ ($\text{C}-1$).
5. Theo phân loại sinh dược học (BCS), acid ursolic thuộc nhóm nào và gây ra hạn chế gì trong ứng dụng điều trị?
Acid ursolic thuộc nhóm IV trong Hệ thống Phân loại Sinh dược học (BCS). Hạn chế chính của hợp chất này là độ tan trong nước rất thấp và khó thấm qua màng sinh học đường tiêu hóa, dẫn đến sinh khả dụng đường uống kém khi ứng dụng làm thuốc.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Phương Thảo đã hoàn thành đầy đủ hai mục tiêu nghiên cứu đề ra thông qua việc chiết xuất và phân lập thành công 03 hợp chất tinh khiết từ phân đoạn ethylacetat của rễ củ Cát sâm (Millettia speciosa Champ.) thu hái tại Tuyên Quang. Cấu trúc hóa học của các hợp chất được xác định rõ ràng là Rutin (19 mg), Acid margaric (30 mg) và Acid ursolic (23 mg) dựa trên các phương pháp phổ nghiệm hiện đại gồm ESI-MS, EI-MS, 1H-NMR, 13C-NMR và DEPT. Kết quả nghiên cứu cung cấp dẫn liệu khoa học thực nghiệm có giá trị về thành phần hóa học của cây Cát sâm Việt Nam, đồng thời đặt tiền đề cho các định hướng nghiên cứu sâu hơn về tác dụng sinh học và công nghệ bào chế các hợp chất tự nhiên từ nguồn dược liệu này.