Chương I TỎNG QUAN CAY KÝ SINH 1.1 CAY MOC KÝ NGO HUNG Cây Mộc ky ngũ hùng còn gọi là chùm gửi hoa năm cánh. Tên khoa học: Dendrophthoe pentandra (L.) Miq, họ chùm gửi (Loranthaceae).1 Mô tả thực vật [1] Cây bán ký sinh, có nhánh to, hình trụ, sù sì. Lá so le, có khi gan như đối, phiến đa dạng, đầu tù hay nhọn, gốc tù, không lông, dày như da, dài 9cm, rộng 3-6cm. Hoa xếp thành từng bông ngắn, đơn độc hay từng đôi một ở nách lá.
Lá bắc khá to, lõm thành hình vỏ ốc, đài hình chuông, tràng cánh hợp có màu, hơi thắt ở giữa, năm thùy cong ra ngoài khi hoa nở, năm nhị đính trước có cánh hoa, chỉ nhị dẹt, có lông, bầu hạ và vòi năm góc. Quả hình trứng, đôi khi dai đến cm và được bao bởi các thùy của đài.3 Cấu tạo cây Mộc ký ngũ hùng 1.2 Phân bế [1], [2] Trên thế giới, cây Mộc ký ngũ hùng được tìm thấy ở Án Độ, Lào, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Philippin. Ở Việt Nam, cây Mộc ky ngũ hùng moc chủ yếu ở vùng miền Nam, phân bố từ Hà Tây đến Khánh Hòa, Ninh Thuận, Lâm Déng, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tp.HCM, Tây Ninh, Kiên Giang.3 Nghiên cứu về dược tính Cây chùm gửi là một loại thực vật bán ký sinh trên một hay một vài loại cây khác nhau ở những vùng ôn đới và nhiệt đới. Viide ti T Từ nhiều thé kỷ trước, chùm gửi được dùng dé chữa tai biến mạch máu.
đau dau và một số bệnh khác. Ngoài ra chùm gửi còn được sử dụng rộng rãi ở Châu Âudé chữa bệnh ung thư. [22] Cách dùng phê biến: lá non, trái (chiết xuất) có thể ăn trực tiếp. Ở Châu Âu người ta dùng chùm gửi làm thuốc chích.
Chùm gửi có khả năng gây độc tính tế bào ung thư và tăng cường hệ thống miễn dịch. [22] Theo bài viết “Các cây thuốc được ding trong Trung tâm nghiên cứu phát triển Hoàng gia Kungkrabaen, tỉnh Chanthaburi” của Wongsatit Chuakul và cộng sự, toàn bộ cây Mộc ký ngũ hùng Dendrophthoe pentandra (L.) Mia, sống ký sinh trên cây gòn Ceiba pentandra (L., được giã nát với nước vo gạo dùng để trị bệnh tiêu chảy. Nước sắc từ toàn bộ cây Mộc ký ngũ hùng Dendrophthoe pentandra (L.) Miq, sống ký sinh trên cây xoài Mangifera indica L. ding để trị bệnh đái tháo đường.
[16] Theo báo cáo “Nghiên cứu tác dụng của viên nén độc hoạt tang ký sinh trên bệnh nhân thoái hóa khớp gối” của BS. Đỗ Tan Khoa, bệnh viện Y học cổ truyền Tp.HCM, dùng bài thuốc cổ Độc hoạt tang ký sinh dạng viên nến có tác dụng giảm đau và cải thiện chức năng vận động khớp, khảo sát trên 63 bệnh nhân (11 nam, 52 nữ) trong đó có 81,39% giảm đau và 91,9% cải thiện vận động (gap gối). [18] Trong “Những bài thuốc ký sinh cây dâu” của được sĩ Đỗ Huy Bích, cây chùm gửi ký sinh trên cây dâu được nhân thấy có vị đắng, tính bình, không độc, có tác dụng bỏ gan, thận, lợi khí huyết, mạnh gân xương, an thai và lợi sữa. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau: trị đau xóc hông hai bên, đại tiện ra máu, lưng gối đau, tăng huyết áp, chân tay tê bại, tắc tia sữa, đau bụng.
động thai, ho ra máu, đau lưng và suy nhược thần kinh. [18] Tuy nhiên vẫn có nhiều tác dụng ngoài ý muốn: ăn chùm gửi bị nôn, tai biến mạch máu não, nhịp tìm giảm và có thể gây tử vong. Chùm gửi ở Mỹ không an toàn khi dùng làm thuốc, dùng dạng chích có thể gây ngứa và nổi mẫn đỏ trên vùng được chích. [22] Hiện nay chùm gửi vẫn chưa được chứng minh là an toàn và hiệu quả trong việc chữa trị.3 Nghiên cứu về hóa học [9] Năm 2006, nhóm tác giả người Indonesia Nina Artani, Yelli Ma’arifa và Muhammad Hanafi đã cô lập được quercitrin và quercetin từ cao ethanol của cây Mộc ký ngũ hùng Dendrophthoe pentandra (L., ky sinh trên cây khế Averrhoa carambola, Bee ie) Quercitrin (quercetin-3-rhamnoside) Quercetin 1.2 MOT SO LOAI THUỘC CHI DENDRAPHTHOE KHÁC O VIỆT NAM 1.
Cây bán ky sinh, vỏ xám xám, bì khẩu tròn nhỏ. Lá mọc xen hay gần như đối, phiến xoan gân chánh ngay hay cong, gân phụ 3-4 cặp, lông hình sao xám, cuống từ 1-1,5cem. Chùm 2-4cm, đài 4-5mm, có lông, vành 3-4cm, rời nhau 1,5cm, chỉ tiểu nhụy không lông. Phi quả 5-6mm, đầu có vết bao hoa còn lại.
[2] Được tìm thấy ở Thủ Đức. Thành phổ Hồ Chí Minh.) Dans được sử dụng trong dân gian để điều trị mụn nhọt, hen suyén, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn tâm than, tổn thương vận động (mat cảm giác), bệnh vẻ da, vết thương, bệnh lao, ngăn ngửa sỏi thận, bệnh về bàng quang, xuất huyết, trừ giun sán, lọc máu. [12], [14] Có tác dụng gây mê, gây ngủ, lợi tiểu. Dịch trích ethanol 70% có khả năng chống oxi hóa tốt, chống bệnh máu nhiễm mỡ và đái tháo đường (tốt hơn dịch trích của ether dầu hỏa và ethyl acetate).
( 14] Dịch trích methanol 70% có khả năng ngăn cản quá trình sản xuất tinh trùng ở chuột đực. [11] Thanh phần hóa học có trong cây Dendrophthoe falcata (L.: quercetin, kempferol, các rutin tannin, -sitosterol, B-amyrin, oleanolic acid, chlorophyll và các hợp chat phenolic. Trong vỏ cây có catechin và leucocyanidin. [13] Boonsong và cộng sự đã cô lập được 3 glycoside tim là stospeside, odorosideF va neritaloside từ lá của Dendrophthoe falcata (L., ký sinh trên cây trúc đào Nerium oleander (L.
[ 15] Anjeneyulu va cộng sự đã cô lập được oleanolic acid, acetate va methyl ester acetate của nó, J-sitosterol và stigmasterol từ cành của Dendrophthoe falcata (L. ký sinh trên cây xoài Magifera indica L. [15] Indrani và cộng sự cô lập được (+)-catechin, leucocyanidin, gallic acid, chebulinic acid từ lá và vỏ cây của Dendrophthoe falcata (L. ký sinh trên Terminalia tomentora.
[15] Khi so sánh rất nhiều cây chủ khác nhau, Nair và cộng sự tổng kết Dendrophthoe falcata (L. chứa kaempferol, quercetin, myrecitin và các hợp chất glycoside của chúng. [15] Uppuluri Venkata Mallavadhani và cộng sự cô lập được 9 hợp chất triterpene từ cao n-hexane (1-9), 3 hợp chất phenolic metabolic (10-12) từ cao methanol từ trái của Dendrophthoe falcata (L. ký sinh trên Shorea robusta (Sal tree).
Trong các hợp chat triterpene có 3 chất mới (1-3): [15] (1 ):30-Acetoxy- I-(2-hydroxy-2-propoxy)- | Ia-hydroxy-olean- I2-ene (2): 3B-Acetoxy-1 la-ethoxy-1 B-hydroxyolean-12-ene XVEH I LÀN TissŠ H21 Le Học (3): 38-Acetoxy-1-hydroxy- Ì 1 a-methox yolean-12-ene (4): 3B-Acetoxy-1B,11a-dihydroxyolean-|2-ene (5): 3B-Acetoxy-18, | 1a-dihydroxy-urs-12-ene (6): 3-Acetoxy-urs- |2-ene-Ì l~one (7): 3B-Acetoxy-lup-20(29)-ene (8): 30-Nor-lup-30-acetoxy-20-one (9): (20S)-3B-Acetoxy-lupan-29-oic (10): Kaempferol-3-O-a-L-rhamnopyranoside (11): Quercetin-3-O-a-L-rhamnopyranoside (12): Gallic acid Pry Ay (1) Ry: C(CH,),OH; Rạ: H (5) (2) Ri: H; Rp: Et (3) Ri: H; R;: Me (4) R,,R;: H (6) (7) R: C(=CH;)CH; H H (8) R: COCH; (9) R: CH(CH;)COOH baw [rane 6 | pe [Heh Ode 1.2 Dendrophthoe siamensis (Kurz) Dans. Tiểu mộc, bán ky sinh, lá to. Phần non có lông dày hình sao sét. Lá mọc đối, có phiến xoan rộng thon, dài 4-7,5cm, đáy tròn, hoi löm, chót nhọn, có lông mặt đưới, gân phụ không rõ.
Hiện nay chưa tìm thấy tài liệu nghiên cứu về nơi phân bó, được tính và thành phan hóa học của cây.3 Dendrophthoe varians (BL) BI. Bán ký sinh thành bụi, thân to bằng ngón tay, vỏ đen ít nứt, nhánh non không lông. Lá mọc xen, phiến xoan, đầu tròn hay tà, đáy hẹp, từ từ hẹp trên cuống, dai, không lông, cuỗng vào Icm. Phát hoa cao 2cm.
Phi quả xoan, cao lcm, nâu nâu. Hiện nay chưa tìm thấy tài liệu nghiên cứu về nơi phân bố, dược tinh và thành phan hoá học.3 CÂY XOÀI Tên khoa học: Mangifera indica L., họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) 1.1 Mô tả thực vật [2] Hình 1.5 Hoa xoài trong tự nhiên Cây to cao 15-20m. Lá nguyên, mọc so le, đơn, thuôn dài, nhẫn, bóng dài 15-30cm, rộng 5-7cm. Hoa nhỏ, mau vàng nhạt, thành chùy ở đầu cành.
Quả hạch khá to, hạch det, hình thận, cứng trên có những thớ sợi khi nay mam thì hơi mở ra. Hạt có lớp vỏ mỏng, mau nâu, không phôi nhũ, lá mim không đều.2 Phân bố [22] Xoài được trồng ở Án Độ cách đây hàng ngàn năm, ở Đông Nam A khoảng thé ky thir 4-5 trước công nguyên và khoảng thế kỷ thứ 10 thi du nhập đến Brazil, Ngày nay, xoài được xem là cây ăn quả, trồng nhiều ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, phân nửa sản lượng xoài trên thế giới có nguồn gốc từ Án Độ. Ở Việt Nam, cây xoài trồng phổ biến khắp miền Nam. Còn ở miền Bắc xoài được trồng ở Yên Châu (Sơn La).3 Nghiên cứu về được tính [19], [20] Lá xoài được dùng làm thức ăn cho dê ở Án Độ, hạch xoài cho gà ăn ở Ai Cập.
Các hợp chất như gallic acid, quercetin ở phân đoạn cao chiết ethanol từ lá xoài có tính chất ức chế hoạt động của trùng cúm. Nước sắc từ lá xoài có khả năng hạ thấp chi số đường trong máu nhờ giảm bớt sự hấp thu glucose trong ruột. Ở Cuba, vỏ cây xoài được cho vào nước sắc dùng làm thức ăn, trong mỹ phẩm và y được. Vỏ có tính chất chống oxi hoá, chống co thắt, kích thích sản xuất tế bào bạch huyết, ngăn cản trùng Candida albicans bám dính.
Được chế thành thuốc xức, chứa polyphenol, có tính chất chống viêm, có tên biệt được Vimang, chứa mangiferin, nó còn là một thuốc giảm đau, có tác dụng ức chế hoạt động của đại thực bào, được dùng trong những liệu pháp miễn dịch bệnh học cho nên được đề nghị dùng làm thuốc bổ dưỡng và chống lão hoá. Nhờ những tính chất chống oxi hoá mà phần chiết từ xoài làm giảm số neuron bị tiêu hủy và ngăn cản sự oxi hóa trong não. Cũng nhờ chứa đựng polyphenol mà phần chiết từ hạch trái xoài với ethanol có tính chất kháng vi sinh vật, đặc biệt mãnh liệt đối với những vi khuẩn gram dương hơn gram âm. Thử nghiệm trên chuột cho thấy một phần chiết chứa đựng 2,6% mangiferin có tác dụng gia tăng kháng thẻ thể dịch và cản trở loại tăng cảm ứng nên có thể dùng làm thuốc với những tính chất kích thích miễn dịch.
Ñ\ t! i my Ant Tine Ở Trung Hoa, hạch xoài có chứa nhiều lipid, được dé nghị dùng làm thế bơ trái ca cao còn vỏ trái xoài dùng làm gidm giàu sinh tố. Trong thí nghiệm chống khối u với những tế bào Raji mang bộ gen độc trùng Epstein Barr, vỏ trái xoài có khả năng tiêu hủy những kháng nguyên. Nhựa cây xoài có tính chất chống nấm, khử trùng, có hiệu lực đối với Escherichia coli, Bacillus cereus và những loại Penicillum. Quả có vị ngọt, chua, tính bình có tác dụng lý khí kiện tỳ, trị ho.
Hột có vị ngọt, đắng, tính bình có tác dụng hành khí giảm đau. Trái xoài xanh cũng được nhiều người thưởng thức với muối.