CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây sen Sen gọi theo tiếng địa phương là liên, ngậu Danh pháp khoa học : Nelumbo nucifera Gaertn Họ (familia) : Sen (Nelumbonaceae) Chi (genus) : Nelumbo Adans Loài (species) : Nelumbo nucifera Gaertn Mô tả cây: sen là một loại cậy mọc ở dưới nước, sống dai nhờ thân rễ. Ngó sen màu trắng, tiết diện gần tròn.
Thân rễ phình to thành củ, màu vàng nâu, hình dùi trống, gồm nhiều đoạn, thắt lại ở giữa, trong có nhiều khuyết rộng. Lá hình lọng có 2 thùy sâu đối xứng nhau, mặt trên xanh đậm, nhẵn bóng, mặt dưới xanh nhạt, nhám. Cuống lá màu xanh, hình trụ, có nhiều gai. Hoa to, màu hồng hay trắng.
Cuống hoa màu xanh, dài già chuyển sang màu nâu, có nhiều gai nhọn. Cuống lá và cuống hoa có nhiều khoang rỗng bên trong. Đế hoa rất lồi dạng hình nón ngược, mép lồi lõm, xốp, non màu vàng, già màu xanh. Quả màu xanh, nhẵn, hình bầu dục.
Hạt màu trắng 2 lá mầm dày mập màu trắng , bên trong có tâm sen màu xanh. Tâm sen gồm rễ mầm, thân mầm, chồi mầm và 2 lá đầu tiên. Hoa sen Luan van 5 Hình 1. Nhị sen Hình 1.
Quả sen Hình 1. Hạt sen Phân bố: Chi Nelumbo Adans phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Mỹ. Mùa hoa: tháng 5-6, mùa quả: tháng 7-9. Các hợp chất hóa học chính có trong lá sen Theo Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi thì trong lá sen-hà diệp có nhiều alkaloid, trong đó nuciferine là alkaloid chính [1].
Luan van 6 + nuciferine: - Công thức phân tử: C19H21O2N - Khối lượng phân tử: 295 - Tên IUPAC :(6aR)-1,2-dimethoxy-6-methyl-5,6,6a,7-tetrahydro-4H- dibenzo[de,g]quinoline - Công thức cấu tạo + N- nornuxiferin: - Công thức phân tử: C18H19O2N - Khối lượng phân tử: 281 - Công thức cấu tạo: H3C O N H H3C O + anonain - Công thức phân tử: C17H15O2N - Khối lượng phân tử: 265 -Tên IUPAC:(7ar)-6,7,7a,8-tetrahydro-5h-[1,3]benzodioxolo[6,5,4-de] benzo[g]quinoline Luan van 7 - Công thức cấu tạo: O H2C N H O + roemerine - Công thức phân tử: C18H17O2N - Khối lượng phân tử: 279 -Tên IUPAC: [7aR,(-)]-6,7,7a,8-Tetrahydro-7-methyl-5H-benzo[g]- 1,3benzodioxolo[6,5,4-de]quinoline - Công thức cấu tạo: O H2C N CH3 O + armepavin - Công thức phân tử: C19H23O3N - Khối lượng phân tử: 313 -Tên IUPAC :4-[[(1R)-1,2,3,4-Tetrahydro-6,7-dimethoxy-2-methyl-1- isoquinolinyl]methyl]phenol - Công thức cấu tạo: Luan van 8 H3C O N CH3 H3C O + N- metylcoclaurin - Công thức phân tử: C18H21O3N - Khối lượng phân tử: 299 -Tên IUPAC :(1S)-1-[(4-hydroxyphenyl)methyl]-6-methoxyl-2-methyl-3,4- dihydro-1H-isoquinolin-7-ol - Công thức cấu tạo: H3C O N CH3 H O + N-metyllizococlaurin - Công thức phân tử: C17H21O3N - Khối lượng phân tử: 287 - Công thức cấu tạo: H O N CH3 H3C O Luan van 9 + pronuxiferin - Công thức phân tử: C19H21O3N - Khối lượng phân tử: 311 - Công thức cấu tạo: H3C O N CH3 H3C O O + liriodenin - Công thức phân tử: C17H9O3N - Khối lượng phân tử: 275 - Tên IUPAC: 8H-Benzo[G]-1,3-benzodioxolo[6,5,4-de]quinolin-8-one - Công thức cấu tạo: O N O O Ngoài ra còn có một số hợp chất khác: vitamin C, axit xitric, axit tartric, axit oxalic… Luan van 10 1. Một số ứng dụng của lá sen trong y học dân gian Theo đông y lá sen có vị đắng tính bình, vào 3 kinh can, tỳ và vị. Có tác dụng thăng thanh tán ứ, thanh thử hành thủy. Dùng chữa thử thấp tiết tả, thủy chí phù thủng, lôi đầu phong, nôn ra máu, máu cam, băng trung huyết lỵ [18].
Một số bài thuốc nam có sử dụng lá sen: - Chữa mất ngủ: Lá sen loại bánh tẻ 30g rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô sắc hoặc hãm uống. - Chữa tăng huyết áp: Đẳng sâm 6g, bán hạ 10g, tuyền phúc hoa 10g, thiên ma 6g, lá sen 10g, trần bì 6g, thạch quyết minh 10g, uống ngày 1 thang chia hai lần sớm, tối. Dùng cho người cao huyết áp, mắt hoa tai ù, mơ nhiều mất ngủ. - Chữa băng huyết, chảy máu cam, tiêu chảy ra máu: Lá sen 40g để sống, rau má 12g sao vàng, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
- Chữa chảy máu não và các biến chứng kèm theo ở bệnh nhân tăng huyết áp: Lá sen 15g, cam thảo 15g, đỗ trọng 12g; sinh địa, mạch môn, tang ký sinh, bạch thược mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang. - Chữa chảy máu cam: Lá sen 15g, hoàng liên 2g, thanh hao 6g, lá tre 10g, mộc thông 10g, đan bì 10g, liên kiều 5g, hoàng cầm 3g, sơn chi 6g, rễ cỏ tranh 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Dùng cho người bị đổ máu cam, lượng nhiều, máu đỏ tươi hoặc sẫm, mũi khịt khô, miệng hôi, đại tiện táo, tiểu dắt. - Chữa máu hôi không ra hết sau khi sinh: Lá sen sao cho thơm 30g tán nhỏ, uống với nước hoặc sắc với 200ml nước còn 50ml, uống một lần trong ngày. - Chữa di tinh: Lá sen nghiền bột mịn (1kg). Uống ngày 2 lần sớm, tối với nước sôi, mỗi lần 5g.
- Chữa váng đầu: Hạch đào nhân 6g, lá sen 10g, đỗ trọng tươi 10g. Hạch đào nhân sao vàng giã nát, sắc chung với lá sen, đỗ trọng, bỏ bã lấy nước uống. Dùng cho người đầu váng, mắt hoa, tai ù, tai điếc. - Chữa tiêu chảy mãn tính: Gồm liên nhục 12 g, đẳng sâm 12g, hoàng liên 5g.
Luan van 11 Các vị sắc uống hoặc tán bột uống mỗi ngày 10g. - Chữa sốt xuất huyết: Lá sen 40g, ngó sen hoặc cỏ nhọ nồi 40g, rau má 30g, hạt mã đề 20g, sắc uống ngày một thang. Nếu xuất huyết nhiều có thể tăng liều của lá và ngó sen lên 60g. - Chữa béo phì, hạ cholesterol trong máu: Đây là công dụng mới được phát hiện của lá sen.
Trên thị trường hiện có bán nhiều loại trà giảm béo có lá sen, song có thể tự dùng bằng cách nấu lá sen tươi uống thay nước hàng ngày, mỗi ngày 1 lá. Tình hình nghiên cứu các loài sen trên thế giới và tại Việt Nam Theo nghiên cứu của Lin HY, Kuo YH, Lin YL, và Chiang W, dịch chiết từ lá sen của loài Nelumbo nucifera có khả năng chống oxy hóa. Trong đó, dịch chiết của lá sen với hệ dung môi: ethyl acetate – methanol và hệ dung môi: methanol – n-butanol có tác dụng chống oxy hóa cao hơn hệ dung môi: methanol – nước. nghiên cứu còn phân lập được bảy flavonoid bằng sắc kí cột.
Các hợp chất này được xác định là catechin, quercetin, quercetin-3-O-glucopyranoside, quercetin-3-O-glucuronide, quercetin-3-O-galactopyranoside, kaempferol-3-O-glucopyranoside và myricetin-3- Oglucopyranoside. Trong đó quercetin, quercetin-3-O-galactopyranoside và myricetin- 3-Oglucopyranoside có tác dụng ức chế mạnh quá trình oxy hóa. Kết quả cho thấy, khả năng chống oxy hóa của lá sen được giải thích bởi các flavonoid [11]. Theo nghiên cứu của Huang CF, Chen YW, Yang CY, Lin HY, Way TD, Chiang W và Liu SH, dịch chiết từ lá sen của loài Nelumbo nucifera có khả năng điều chỉnh nồng độ đường trong máu ở những con chuột bình thường và chuột mắc bệnh tiểu đường.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất catechin trong dịch chiết lá sen làm quá trình sản sinh ra insulin được nhanh hơn đồng thời làm giảm khả năng hấp thụ glucose ở chuột mắc bệnh tiểu đường. Dịch chiết của lá sen mở ra một hướng nghiên cứu cho việc kiểm soát tăng đường huyết ở người mắc bệnh tiểu đường mà không phụ thuộc vào insulin [10]. Luan van 12 Theo nghiên cứu của Ohkoshi E , Miyazaki H , K Shindo , Watanabe H , Yoshida A và Yajima H; lá của loài sen Nelumbo nucifera có tác dụng lợi tiểu và được sử dụng để điều trị bệnh béo phì. Dịch chiết từ lá sen với ethanol có tác dụng sản sinh ra lipolysis và các thụ thể beta-adrenergic , đây là các chất có tác dụng trong việc chống béo phì.
Thí nghiệm được thực hiện bằng cách bổ sung dịch chiết lá sen vào chế độ ăn uống giàu chất béo của chuột. Kết quả cho thấy trọng lượng của chuột đã giảm đi đáng kể. Bằng phương pháp sắc kí , đã xác định được các hợp chất flavonoid gồm: quercetin 3-O-alpha-arabinopyranosyl -beta-galactopyranoside, rutin ,catechin , hyperoside, isoquercitrin, quercetin và astragalin. Như vậy, tác dụng của lá sen trong việc ngăn ngừa bệnh béo phì được giải thích bởi các flavonoid khác nhau có trong lá sen có tác dung kích hoạt các beta- adrenergic và lipolysis được tham gia vào quá trình chống béo phì [12].
Theo nghiên cứu của Takefumi Sagara, Naoyoshi Nishibori, Manami Sawaguchi, Takara Hiro, Mari Itoh, Song Her và Kyoji Morita, thì các tế bào thần kinh đệm có tác dụng để duy trì tính toàn vẹn của chức năng não thông qua việc bảo vệ các tế bào thần kinh chống lại yếu tố độc hại khi sắt tích tụ trong mô não. Do đó, việc bảo vệ các tế bào thần kinh đệm có ý nghĩa đối với phòng chống bệnh thoái hóa thần kinh. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chiết xuất từ gốc sen (thân rễ của Nelumbo nucifera) với nước có tác dụng bảo vệ các tế bào thần kinh đệm chống lại các tế bào đôc hại. Điều này được giải thích bởi hợp chất polyphenolic có trong rễ sen, có tác dụng chống oxy hóa mạnh.
Trên thực tế, chiết xuất rễ sen ngăn chặn sắt gây ra quá trình oxy hóa, nhưng không làm thiếu oxy đến các tế bào [13]. Như vậy, hoạt tính dược lý của cây sen đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên các công trình về thành phần hóa học của cây sen hầu như vẫn còn rất ít. Đặc biệt ở Việt Nam sen đã được sử dụng rất nhiều trong y học Luan van 13 CHƯƠNG 2.
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Nguyên liệu, dụng cụ và hóa chất 2. Nguyên liệu Nguyên liệu được lấy ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trước đây lá sen chủ yếu dùng để gói bánh, nhưng trong những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu cho thấy lá sen còn có thể chữa nhiều chứng bệnh như: chữa mất ngủ, băng huyết, chảy máu cam… 2.
Xử lí nguyên liệu Nguyên liệu là lá sen tươi, sau khi hái về, rửa sạch phơi khô, xay thành bột. Thiết bị, dụng cụ và hóa chất. * Thiết bị, dụng cụ Các thiết bị sử dụng trong quá trình thí nghiệm gồm có: - Tủ sấy, lò nung, bếp điện, cân phân tích. - Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS ( phòng thí nghiệm khoa Hóa, trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng) - Sắc ký lỏng - khối phổ liên hợp (LC/MS) được thực hiện trên máy Xevo TQ hãng Waters, Mỹ (tại phòng nghiên cứu cấu trúc – Viện hóa học – Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội).
Hệ dung môi: methanol - nước. Tốc độ dòng: 0,25ml/phút. Nguồn ion hoá của máy phổ khối: phun mù điện tử. - Sắc ký khí- khối phổ liên hợp (GC/MS) được thực hiện trên máy Agilent 7890A/5975C (tại Trung tâm Đo lường kỹ thuật chất lượng kỹ thuật, số 2, Ngô Quyền, Quận 3, TP Đà Nẵng).