Khóa luận nghiên cứu thành phần hóa học của rễ cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper)

Khóa luận nghiên cứu thành phần hóa học của phân đoạn ethyl acetat từ rễ tục đoạn nhọn, cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu dược liệu.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về chi Dipsacus

1.2. Vị trí phân loại chi Dipsacus

1.3. Đặc điểm phân bố, thực vật của chi Dipsacus

1.4. Tổng quan về cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper)

1.5. Đặc điểm thực vật của cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper)

1.6. Phân bố và sinh thái của cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper)

1.7. Thành phần hóa học

1.8. Công dụng theo Y học cổ truyền

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu và thiết bị

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Trang thiết bị và dụng cụ nghiên cứu

2.4. Nội dung thực hiện

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Chiết xuất các phân đoạn chất

2.7. Khảo sát các cặn phân đoạn chất bằng sắc ký lớp mỏng TLC

2.8. Phương pháp phân lập, xác định độ tinh khiết của các hợp chất

2.9. Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Kết quả chiết xuất, phân lập một số hợp chất

3.2. Điều chế các phân đoạn chiết

3.3. Phân lập các hợp chất tinh khiết

3.4. Kết quả xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thành phần hóa học của Dipsacus asper

Cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) là một trong những loài thực vật có giá trị dược liệu cao. Nghiên cứu về thành phần hóa học của Dipsacus asper không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc hóa học mà còn mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng trong y học. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng rễ cây này chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học, từ đó khẳng định giá trị của nó trong y học cổ truyền và hiện đại.

1.1. Đặc điểm thực vật và phân bố của Dipsacus asper

Dipsacus asper là cây thảo sống nhiều năm, cao từ 1,5 đến 2 mét. Cây thường mọc ở các vùng núi cao, có thể tìm thấy ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam như Hà Giang, Lào Cai. Đặc điểm sinh thái của cây giúp nó phát triển tốt trong điều kiện khí hậu lạnh và ẩm ướt.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu thành phần hóa học

Nghiên cứu thành phần hóa học của rễ cây Tục đoạn nhọn giúp xác định các hợp chất chính như triterpenoid, iridoid và acid phenolic. Những hợp chất này có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, từ việc chống viêm đến bảo vệ gan.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu Dipsacus asper

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về công dụng của rễ cây Tục đoạn nhọn, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định chính xác thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nó. Việc thiếu thông tin và tài liệu nghiên cứu trong nước làm cho việc ứng dụng trong y học gặp khó khăn.

2.1. Thiếu hụt tài liệu nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về tác dụng dược lý của Dipsacus asper còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm cho dược liệu này.

2.2. Khó khăn trong việc chiết xuất và phân lập hợp chất

Quá trình chiết xuất và phân lập các hợp chất từ rễ cây Tục đoạn nhọn gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng của các hợp chất có trong cây. Điều này yêu cầu các phương pháp hiện đại và chính xác để đảm bảo chất lượng và hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học của Dipsacus asper

Để nghiên cứu thành phần hóa học của rễ cây Tục đoạn nhọn, các phương pháp hiện đại như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) được áp dụng. Những phương pháp này giúp xác định cấu trúc và hàm lượng của các hợp chất có trong rễ cây.

3.1. Phương pháp chiết xuất và phân lập hợp chất

Chiết xuất rễ cây Tục đoạn nhọn thường sử dụng dung môi như ethanol hoặc ethyl acetat. Sau đó, các hợp chất được phân lập bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) để xác định độ tinh khiết.

3.2. Phương pháp xác định cấu trúc hợp chất

Các hợp chất sau khi phân lập sẽ được xác định cấu trúc bằng phương pháp NMR và phổ khối (MS). Những phương pháp này giúp cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc hóa học của các hợp chất.

IV. Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của Dipsacus asper

Kết quả nghiên cứu cho thấy rễ cây Tục đoạn nhọn chứa nhiều hợp chất có giá trị như triterpenoid, iridoid và acid phenolic. Những hợp chất này đã được phân lập và xác định cấu trúc, mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng trong y học.

4.1. Các hợp chất chính được phân lập từ rễ cây

Trong nghiên cứu, đã phân lập được 22 triterpenoid và nhiều iridoid khác nhau. Những hợp chất này có tác dụng sinh học đáng kể, như chống viêm và bảo vệ tế bào.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của các hợp chất

Các hợp chất từ rễ cây Tục đoạn nhọn có thể được ứng dụng trong sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng. Điều này không chỉ giúp nâng cao giá trị kinh tế mà còn mang lại lợi ích cho sức khỏe cộng đồng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu Dipsacus asper

Nghiên cứu về thành phần hóa học của Dipsacus asper đã chỉ ra tiềm năng lớn của cây thuốc này trong y học. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để khai thác triệt để giá trị của nó. Việc xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm và phát triển sản phẩm từ Dipsacus asper là cần thiết.

5.1. Tương lai của nghiên cứu Dipsacus asper

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các sản phẩm từ Dipsacus asper, đồng thời mở rộng nghiên cứu về các hợp chất mới có trong cây.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần có sự hợp tác giữa các nhà khoa học và các cơ sở y tế để thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng Dipsacus asper trong điều trị bệnh. Việc này sẽ giúp nâng cao giá trị của cây thuốc trong y học hiện đại.

14/07/2025
Khóa luận nghiên cứu thành phần hóa học phân đoạn ethyl acetat của rễ tục đoạn nhọn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Dipsacus 1. Vị trí phân loại chi Dipsacus Theo hệ thống phân loại thực vật APG IV (Hệ thống phân loại thực vật hạt kín – Angiosperm Phylogeny Group) [3] và Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp ITIS (Integrated Taxonomic Information System) [4], chi Dipsacus thuộc: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Mangnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Bộ: Tục đoạn (Dipsacales) Họ: Tục đoạn (Dipsacaceae) Chi: Tục đoạn (Dipsacus) 1. Đặc điểm phân bố, thực vật của chi Dipsacus 1.

Đặc điểm phân bố Chi Dipsacus là một chi thực vật có hoa nằm trong họ Tục đoạn (Dipsacaceae). Theo số liệu thống kê của The Plant List, chi này bao gồm khoảng 92 loài nhưng chỉ có 28 loài được chấp nhận [5]. Các loài trong chi là thân thảo có chiều cao khoảng 1 - 2,5 mét, ra hoa hai năm một lần. Dipsacus có nguồn gốc châu Âu, và một số vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi [6].

Một số loài thuộc chi Dipsacus : Dipsacus ferox, Dipsacus fullonum, Dipsacus laciniatus, Dipsacus pilosus, Dipsacus sativus, Dipsacus strigosus, Dipsacus japonicus, v. Một số loài thuộc chi Dipsacus A. Đặc điểm thực vật Các loài Dipsacus có thể dễ dàng nhận biết được nhờ thân gai và lá của chúng. Là loài thân thảo sống nhiều năm, khi ra hoa cao tới 1 m hay hơn, có rễ mập phát triển thành củ được sử dụng làm thuốc.

Cây mọc hoang có nhiều rễ củ, cây trồng có sự chăm sóc củ to mập không phân nhánh, thân có khía dọc và có gai nhỏ thành hàng [7]. 4 Các cụm hoa có màu tím, màu hồng hay màu oải hương, cụm hoa hình đầu tròn ở chóp thân và nách lá ngọn, dài 4 – 10 cm và rộng 3 – 5 cm, cuống hoa tự dài, tổng bao lá bắc xoan có mũi nhọn, lá bắc giữa các hoa như vẩy nhọn cứng. Đài 4, tràng có ống với 4 thuỳ, nhị 4 rời đính trên tràng. Quả bế dài 15 mm.

Những bông hoa đầu tiên bắt đầu nở từ các đầu cụm hoa hình bầu dục, sau đó khô đi. Hạt nhỏ, 4 – 6 mm; cây ra hoa, quả vào tháng 8 - 10 [7]. Cây có nhiều lá không rụng mọc xung quanh gốc, có hình cái cốc uống nước. Lá mọc đối, phiến lá xẻ sâu thành 3 -7 thuỳ bầu dục hay kép, mép có răng, cuống có gai.

Nước mưa có thể tích tụ trong những "cái cốc" này, điều này có thể thực hiện chức năng ngăn ngừa côn trùng hút nhựa thân cây như rệp. Lá có hình mũi giáo, dài 20 – 40 cm và rộng 3 – 6 cm, có một hàng gai nhỏ ở đường gân giữa của mặt dưới lá. Tổng quan về cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) Tên khoa học: Dipsacus asper Wall., họ Tục đoạn (Dipsacaceae). Tên tiếng việt: Tục đoạn nhọn, Oa thái, Rô đầu, Sâm nam, Rễ kế, Đầu vù, Sơn cân thái… [8] Bộ phận dùng: Rễ Hình 1.

Hình ảnh thực tế của rễ và cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) 5 1. Đặc điểm thực vật của cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) Cây thảo, sống nhiều năm, cao 1,5 - 2 m. Thân: mọc thẳng, có các đường gờ hoặc rãnh dọc, phân nhánh ở phần ngọn, tầm 4 - 8 ngọn, có lông cứng như gai nhỏ. Lá: phiến lá hình lông chim, lá mọc đối, không cuống, có bẹ ôm thân, dài 4- 20 cm, rộng 0,5 – 0,6 cm, mép có răng cưa, những lá phía dưới chia thùy không đều, thùy tận cùng rất to, những lá phía trên nguyên, hình mác, gân lá nổi rõ ở mặt dưới.

Có lá chét, lá chét có đầu hình cầu, ngắn hơn lá bắc, có lông. Lá bắc không nhân, tuyến tính, có lông màu trắng, lá bắc hình mũi mác dài khoảng 14 – 20 mm, cuống 5 - 9 mm, mọc thành chùm và có nhiều lông [7]. Hoa: cụm hoa mọc trên một cán dài đầy lông thành đầu tròn, lá bắc có lông mi ở mép phía dưới, hoa màu trắng, dài 4 răng nhỏ gần bằng nhau, tràng 4 cánh hàn liền thành phễu ở 2/3 phía dưới; nhị 4, rời nhau, thò [9]. Đài: đài hoa 4 gân, hình đĩa, không chia hoặc chia 4 thùy.

Đài dài khoảng 1 mm [9]. Tràng: tràng hoa hơi vàng hoặc trắng, hình phễu, dài tầm 9-11mm, các thùy không bằng nhau, bên ngoài mọng nước [9]. Nhị: nhị 4; chỉ nhị hình chỉ nhẵn, bao phấn hình elip, màu tím [9]. Quả: quả bế, dài 4 - 5mm, hơi hình 4 cạnh, nhẵn, gốc bằng (cụt).

Mùa hoa quả: tháng 8 - 10. Rễ: rễ hình trụ, hơi cong queo, đầu trên to, đầu dưới thuôn nhỏ dần, dài 8 – 20 cm, rộng 0,4 – 1 cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt đến nâu xám, có nhiều nếp nhăn và rãnh dọc, có nhiều lỗ bì nằm ngang và những đoạn rễ con còn sót lại. Dễ bẻ gãy, mặt bẻ lởm chởm.

Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng, tầng sinh libe-gỗ màu nâu, bó libe-gỗ màu nâu nhạt, sắp xếp thành tia toả ra. Hình ảnh Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) Chú thích: 1.Bộ phận sinh sản 1. Phân bố và sinh thái của cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) 1. Phân bố Thế giới: Ấn Độ, D.

asper phổ biến ở các khu vực phía nam và phía bắc của Trung Quốc như các tỉnh Hồ Nam, Vân Nam, Cam Túc và Sơn Tây. Nhu cầu sử dụng ngày càng tăng đối với loài này và việc thu hoạch hàng loạt đã làm suy yếu đáng kể quần thể của loài này ở trạng thái tự nhiên D. asper được trồng trên quy mô lớn, chủ yếu ở thành phố Hefeng, tỉnh Hồ Bắc. Loài này cũng được trồng ở các thành phố khác của Trung Quốc, bao gồm các tỉnh Tây Xương, Tứ Xuyên, Tây Phong, Quý Châu, Kiến Xuyên và Vân Nam cũng như các tỉnh Giang Tây và Quảng Tây ở Trung Quốc [8].

Mọc ở bờ mương, bãi cỏ, ven rừng, ven ruộng [9] Trong nước: Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ), Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà, Mường Khương, Than Uyên), Hà Giang (Đồng Văn, Quản Bạ). Tình trạng: Mới xác định có 2 quần thể phụ ở Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, tổng diện tích ước tính không quá 500 𝑘𝑚2. Nạn phá rừng làm nương rẫy 7 trực tiếp làm thu hẹp phân bố. Thường xuyên bị khai thác.

Trữ lượng tự nhiên giảm sút mạnh [8]. Sinh thái Mùa hoa tháng 8-9, quả tháng 9-10. Hạt nhiều, phát tán xung quanh gốc cây mẹ và nảy mầm vào khoảng tháng 3-4. Cây đẻ nhánh khoẻ, tạo thành khóm lớn; những nhánh thân có hoa quả trong năm sẽ tàn lụi vào mùa đông.

Thường mọc thành đám hay rải rác, lẫn với những loài cỏ khác ở các bãi cỏ ven rừng núi đá vôi, ở nương rẫy cũ hay ven đường đi, ở độ cao từ 1350-1600 m [8]. Thành phần hóa học 1. Các nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rễ Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) có thành phần hóa học chính là triterpenoid, iridoid, acid phenolic, tinh dầu, alcaloid, lignin và acid béo [2]. Cho đến nay, có tổng cộng 22 triterpenoid đã được phân lập từ Tục đoạn nhọn.

Những hợp chất này có chung một khung cấu tạo. Năm 1987, Wei và cộng sự đã phân lập được 1 aglycone của triterpenoid là hederagenin từ Tục đoạn nhọn [11]. Từ năm 1991 đến năm 1993, lần đầu tiên 10 triterpenoid mới được phân lập từ Tục đoạn nhọn bao gồm 3-O- (4-O-acetyl) -α-L-arabinopyranosyl- hederagenin 28- O-β-D-glucopyra nosyl- (1 → 6) -β-D-glucopyranosid (2), dipsacus saponin V (3), macranthoidin A (4), dipsacus saponin IX (5), dipsacus saponin X (6), dipsacus saponin XI (7), dipsacus saponin XII (8), dipsacus saponin XIII (9). Năm 1993 nhóm tác giả Yang và cộng sự đã phân lập được hai triterpenoid mới từ Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper) là dipsacus saponin A (10) và caulosid A (11) [12].

Ngoài ra, cũng trong năm 1993, Jung và cộng sự đã phân lập được dipsacus saponin B (12), dipsacus saponin C (13) và macranthosid B (14) [13]. Ngoài ra còn nhiều hợp chất được phân lập từ Tục đoạn nhọn như α- hederin (15) (Hung và cộng sự, 2005), acid oleanolic (16) (Tian và cộng sự, 2007), dipsacus saponin VI (17) (Liu và cộng sự, 2011), dipsacus saponin J (18) 8 (Liu và cộng sự, 2011), saponin dipsacus K (19) (Liu và cộng sự, 2011), 3-O-β- D-xylopyranosyl (1 → 4) -β-D- glucopyranosyl- (1 → 4)] - [α- L- rhamnopyranosyl (1 → 3)] - β-D-glucopyranosyl (1 → 3) -α-L- rhamnopyranosyl- (1 → 2) -α-L-arabinopyranosyl-hederagenin-28-O-β-D- glucopyra -nosid (20) (Liu và cộng sự, 2011), HN saponin F (21) (Liu và cộng sự, 2011) và dipsacus saponin VII (22) (Liu và cộng sự, 2012) [14–17]. Năm 2020 Feng Li và cộng sự đã phân lập được một monoterpenoid glucoindole alcaloid mới là (3R, 5S) -5-carboxyvincosidic acid 22-loganin este, cùng với alcaloid đã biết là (3S, 5S) -5-cacboxystrictosidic acid 22-loganin este (dipsaperin) [18]. Một số triterpenoid phân lập được từ Tục đoạn nhọn Mười chín iridoid đã được phân lập từ Tục đoạn nhọn.

Năm 1990, Yuko đã phân lập được hai iridoid là swerosid (23) và loganin (26) từ Tục đoạn nhọn [19]. Cũng trong năm này Kauno và cộng sự đã phân lập được cantleyosid (30) từ Tục đoạn nhọn [20]. Năm 2006, hai iridoid là dipsanosid A (38) và dipsanosid B (39) đã được phân lập [23]. Các iridoid glycosid khác, bao gồm lisianthiosid (29), dipsanosid C (32), dipsanosid D (33), dipsanosid E (34), dipsanosid F (35), dipsanosid G (37), dipsanosid H (24), 6′-O -β-D-apiofuranosyl swerosid (25) và triplostosid A 9 (36) được phân lập liên tiếp [24].

Gần đây, hai chất iridoid mới là dipsanosid M (40) và dipsanosid N (41) được phân lập từ Tục đoạn nhọn [25]. Một số iridoid được phân lập được từ Tục đoạn nhọn Ngoài ra, sáu dẫn xuất acid caffeoylquinic từ Tục đoạn nhọn, bao gồm acid 3,4-di-O-caffeoylquinic (49), metyl 3,4-di-O-caffeoylquinat (50), 3,5-di-O- caffeoylquinic acid (51), metyl 3,5-di-O- caffeoylquinat (52), acid 4,5-di-O- caffeoylquinic (53) và metyl 4,5-di-O-caffeoylquinat (54) đã được phân lập [26]. Sau đó, acid 2,6-dihydroxycinnamic (43), acid vanillic (44), acid caffeic (45), este 2′-Ocaffeoyl-D-glucopyranosid (46) và acid 1-caffeoylquinic (48) được phân lập từ DA [24]. Ngoài ra, acid chlorogenic (47) [27], acid 5-caffeoylquinic (56) [28] và acid 4-caffeoylquinic (55) [29] cũng được được phân lập từ Tục đoạn nhọn.

Một số acid phenolic được phân lập được từ Tục đoạn nhọn Ngoài ra một số hợp chất khác cũng được phân lập từ Tục đoạn nhọn. Năm 1997, Gong và cộng sự đã phân lập được ba alcaloid từ Tục đoạn nhọn bao gồm venoterpin (57), cantleyin (58) và gentianin (59) [30]. Sáu lignin được phân lập từ Tục đoạn nhọn bao gồm dipsalignan A (60), (+) - 1-hydroxy-2,6-bis-epi- pinoresinol (61), dipsalignan B (62), dipsalignan C (63), dipsalignan D (64), và (+) - 1,5- dihydroxy- 2 (S), 6 (S) -di (4-hydroxy-3-metoxyphenyl) -3,7- dioxabicyclo [3. Trong đó các hợp chất 60, 62–64 lần đầu tiên được phân lập.

Hai acid béo là acid pentacosanoic (66) và acid dotriacontanic (67) được phân lập từ các chiết xuất ete dầu của Tục đoạn nhọn [32].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thành phần hóa học của rễ cây Tục đoạn nhọn (Dipsacus asper)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hợp chất hóa học có trong rễ cây này, một loại thảo dược nổi tiếng trong y học cổ truyền. Nghiên cứu không chỉ giúp xác định các thành phần hóa học chính mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng của chúng trong việc hỗ trợ sức khỏe, như khả năng kháng viêm và tăng cường sức đề kháng. Điều này mang lại giá trị cho những ai quan tâm đến việc sử dụng thảo dược trong điều trị và phòng ngừa bệnh tật.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các thành phần hóa học của các loại cây khác, hãy tham khảo tài liệu Luận văn tốt nghiệp khảo sát thành phần hóa học của lá sen được thu hái ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam, nơi nghiên cứu về lá sen và các ứng dụng của nó. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu thành phần hóa học hoạt tính gây độc tế bào và kháng viêm của hai loài barringtonia acutangula sẽ cung cấp thêm thông tin về hoạt tính sinh học của các loại cây khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ khảo sát thành phần hóa học vỏ thân cây đinh lăng trổ polysscias guilfoylei, một nghiên cứu khác liên quan đến thành phần hóa học của cây thuốc. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu hóa học thực vật.