ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa con người đã sử dụng thực vật làm thuốc, đến nay xã hội loài người càng phát triển càng có nhu cầu sử dụng dược liệu thiên nhiên bởi nhiều đặc điểm ưu việt. Các hợp chất thiên nhiên có nhiều ưu điểm như cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học đa dạng, dễ được hấp thụ và chuyển hóa trong cơ thể cũng như độc tính thấp dễ dàng phân hủy. Do đó, các hợp chất thiên nhiên nhận được quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước với mục đích phát triển thành các dược phẩm chữa bệnh cho người. Việt Nam có hệ thực vật vô cùng đa dạng với trên 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch và khoảng 5.000 loài được sử dụng trong y học dân tộc để điều trị nhiều nhóm bệnh khác nhau.
Các bài thuốc trong y học cổ truyền có thể được dùng dưới dạng độc vị hay phối hợp nhiều vị. Ngoài giá trị chữa bệnh của hàng trăm loại thuốc đã được chứng minh thì rất nhiều bài thuốc đã được hiện đại hóa. Như một số loại thuốc đã được chiết xuất từ dược liệu của nước ta như rutin, palmatin, D- strophantin, berberin, L-tetrahydropalmatin, artermisinin, các sản phẩm từ tinh dầu,… có mặt rộng rãi trong nước và xuất khẩu. Xu hướng đi sâu nghiên cứu y học dân tộc và tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc từ dược liệu ngày càng được thế giới chú trọng.
Ung thư là căn bệnh phổ biến và nỗi lo sức khỏe của các nước phát triển cũng như đang phát triển. Theo số liệu thống kê của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IACR, thuộc WHO) vừa công bố về tình hình ung thư hiệu chỉnh theo độ tuổi của 185 quốc gia, vùng lãnh thổ năm 2020 thì so với năm 2018, thế giới ghi nhận thêm hơn 2 triệu ca mắc mới ung thư, lên gần 19,3 triệu ca và số ca tử vong tăng từ 9,6 triệu ca (2018) lên 9,96 triệu ca (2020). Nhằm mục tiêu giảm số ca tử vong do ung thư thì đa dạng các nguồn gốc các loại thuốc điều trị ung thư là một hướng nghiên cứu. Các nghiên cứu gần đây từ năm 1986-2006 cho thấy 63% các hợp chất bắt nguồn từ tự nhiên làm các thuốc như Taxol, vinblastine, vincristine, dẫn chất camptothecin, etoposide được phát triển từ epipodophyllotoxin là các thuốc điều trị ung thư trên thế giới.
Một số các hợp chất chống ung thư tự nhiên hứa hẹn khác như flavopiridol, roscovitine, combretastatin A-4, axit betulinic (43) đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và tiền lâm sàng [1,2]. 2 Chi Barringtonia đã và đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới. Các hoạt tính nổi bật như gây độc TBUT [1-3], ức chế enzym α-glucosidase [4], kháng vi sinh vật [5-9]. Tuy vậy, ở nước ta có rất ít các công bố khoa học được ghi nhận về TPHH và hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Barringtonia.
Hiện mới có 1 nghiên cứu sơ bộ về cây Chiếc đỏ - Barringtonia acutangula và tách được 03 hợp chất khung flavan-3-ol [10]. Từ cơ sở trên, tác giả lựa chọn tiến hành đề tài luận án “Nghiên cứu thành phần hóa học, hoạt tính gây độc tế bào và kháng viêm của hai loài Barringtonia acutangula (chiếc đỏ) và Barringtonia racemosa (chiếc chùm) thuộc chi Barringtonia họ Lecythidaceae (họ Lộc vừng)” nhằm phân lập được các hợp chất có hoạt tính gây độc tế bào và hoạt tính kháng viêm từ loài Chiếc đỏ - B. acutangula và Chiếc chùm - B. racemosa thu thập ở Việt Nam.
Mục tiêu của luận án: - Xác định được TPHH của loài Chiếc đỏ B. acutangula và Chiếc chùm B. racemosa thu thập ở Việt Nam. - Đánh giá được hoạt tính gây độc TBUT và kháng viêm của các hợp chất thu được từ hai loài nghiên cứu để tìm kiếm các hoạt chất làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
Nội dung chính của luận án: - Phân lập các hợp chất từ loài Chiếc đỏ B. acutangula và Chiếc chùm B. racemosa thu thập ở Việt Nam sử dụng các phương pháp sắc ký. - Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất thu được sử dụng các phương pháp phổ.
- Đánh giá hoạt tính gây độc TBUT và kháng viêm của các hợp chất thu được. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về chi Barringtonia ở Việt Nam 1. Đặc điểm phân loại học Chi Lộc vừng Barringtonia J.
(1776) là một trong khoảng 20 chi của họ Lộc vừng Lecythidaceae A. Trên thế giới chi Lộc vừng có khoảng 56 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới từ Đông Châu Phi tới Australia, chủ yếu ở Châu Á. Ở Việt Nam có khoảng 14 loài [11, 12] (Bảng 1. Các loài thuộc chi Lộc vừng ở Việt Nam STT Tên khoa học Tên Tiếng Việt 1 Barringtonia acutangula (L.
Chiếc đỏ 2 Barringtonia acutangula subsp. Chiếc khế 3 Barringtonia cf. ex Craib Chàm bia 4 Barringtonia angusta Kurz. Vừng 5 Barringtonia asiatica (L.) Kurz Chiếc châu á 6 Barringtonia coccinea (Lour.
Chiếc 7 Barringtonia conoidea Griff. Chiếc chùy 8 Barringtonia eberhardtii Gagnep. Chiếc eberhardt 9 Barringtonia edaphocarpa Gagnep. Chiếc 10 Barringtonia macrocarpa Hassk.
Chiếc trái to 11 Barringtonia macrostachya (Jack) Kurz Chiếc chùm to 12 Barringtonia micrantha Gagnep. Chiếc hoa nhỏ 13 Barringtonia musiformis King Chiếc cau 14 Barringtonia pauciflora King Chiếc ít hoa 15 Barringtonia racemosa (L. Chiếc chùm (1) Chiếc đỏ B. Mô tả hình thái: Cây thân gỗ, cao đến 15 m, phân cành nhiều, tán lá tự nhiên thường có hình cầu hoặc hình trứng; loài mọc ở miền bắc thường rụng lá vào mùa đông, búp và lá non thường có màu đỏ.
Lá đơn, mọc cách, thường tập trung ở đỉnh cành; cuống lá dài 5-10 mm, phiến lá hình trứng ngược hoặc hình bầu dục, dài đến 20 cm, mép có răng cưa mịn, gân bên 8-10 đôi. Cụm hoa chùm, thòng, mọc ở đầu cành, dài 30-110 cm, mang hoa dọc theo trục phát hoa. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 4, cuống 4 hoa hơi phình to ở giáp đế hoa, dài 3-5 mm, lá bắc dạng vẩy, cỡ 2 mm, có lông ở mép, sớm rụng; đài dính nhau phía dưới thành ống, dài 2-2,5 mm, đường kính 3-3,5 mm; thùy đài 4, hình bầu dục, dài 2,5-3 mm, bìa có nhiều lông; cánh hoa 4, đều, rời, màu trắng pha hồng nhạt ở giữa, màu xanh ở đỉnh, hình bầu dục, đỉnh cong, dài 1-1,2 cm; nhị nhiều, xếp thành 3 vòng, không đều, dính nhau ở phía dưới thành ống, dài 3-4 mm, phía trên rời dạng sợi màu đỏ, 2 vòng ngoài chỉ nhị dài 1,7-2,5 cm, vòng thứ 3 nhị lép không có bao phấn, chỉ nhị dài 4-5 mm, bầu dưới, 2-3 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính trung trụ; vòi nhụy dạng sợi, dài 2,4-2,5 cm. Quả hình bầu dục, có 8 khía dọc, dài 2,5-3 cm, rộng 2-2,5 cm, màu xanh, mang đài tồn tại ở đỉnh.
Sinh học, sinh thái: Loài mọc ở ven kênh rạch, cửa sông hoặc nơi trũng thấp nước lợ đến ven suối trong rừng nhiệt đới thường xanh; được trồng làm cảnh, bóng mát tại các cơ quan, đường phố, khu dân cư, gia đình. Loài ra hoa hầu như quanh năm, quả tập trung nhiều khoảng tháng 8-10. Phân bố: Gặp phổ biến ở các tỉnh từ đồng bằng, trung du đến các tỉnh miền núi từ phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên đến các tỉnh Nam Bộ. Còn có ở Mianma, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Australia [12].
Mô tả hình thái: Đại mộc nhỏ, cao 3-5 m. Lá có phiến dày, dai, không lông, dài 15-20 cm, gân phụ 10 cặp, bìa có răng mịn, cuống 8-15 mm. Chùm thòng ở ngọn, dài 30-50 cm, hoa đỏ, rộng vào 1,5 cm, cánh hoa dính nhau ở đáy, cao 1 cm, quấn ra. Trái cao 3 cm, có 8 cạnh tròn, cao, hột 1.
Phân bố: Dựa rạch, Hà Sơn Bình đến Bình Dương [13]. Mô tả hình thái: Đại mộc nhỏ, nhánh không lông. Lá chụm ở chót nhánh, phiến dài 20 cm, bầu dục thon, đáy từ từ hẹp, bìa có răng nhỏ, uốn xuống, gân phụ 9-10 cặp, cuống 7 mm. Chùm thòng dài 30-35 cm, cánh hoa dài 8-10 mm, tiểu nhụy nhiều, dài 1,2 cm.
Trái to bằng ngón tay út. Phân bố: Phú Quốc [13]. Mô tả hình thái: Đại mộc. Lá có phiến to đến 30(65) x 9-10(15) cm, thon ngược, đáy từ từ hẹp thành cuống ngắn, bìa có răng nằm.
Chùm thòng, dài đến 1 m, 5 hoa cách nhau, lá đài 4, dài 1 cm, cánh hoa to 3x3,5 cm, tiểu nhụy nhiều, noãn sào 4 buồng. Trái dài 5,5-6,5 cm, có 4 cánh dọc thấp. Phân bố: Phú Quốc [13]. Mô tả hình thái: Đại mộc cao đến 15 m.
Lá có phiến to, xoan rộng, đầu tròn có khi lõm, không lông, dai, bìa nguyên, cuống vắng. Chùm ngắn ở ngọn, hoa to, lá đài 2, xanh, cánh hoa 4, trắng, dài đến 7 cm, tiểu nhụy nhiều. Trái to hơn 7 cm, có 4 cạnh, hột 1. Phân bố: Dựa biển: Nha Trang, Côn Đảo [13].
Mô tả hình thái: Đại mộc nhỏ, có nhiều nhánh mang lá, nhánh già có vỏ xám đen. Lá tương đối nhỏ 10 x 4 cm, xoan ngược đáy nhọn, bìa có răng nằm cuống dài 2- 3 cm. Chùm hoa dài 30 cm, thòng, cọng hoa như chỉ, dài 3 mm, nụ hoa xoan 6 x 4 mm; lá đài không lông, vành đỏ, tiểu nhị nhiều [13]. Phân bố: Đà Nẵng.
Mô tả hình thái: Đại mộc nhỏ, nhánh không lông. Lá có phiến xoan thon ngược, bìa có răng tà, láng, không lông, cuống ngắn. Chùm ngắn, mang 7-8 hoa, đài có 8 sóng, cánh hoa ngắn, tiểu nhụy nhiều, noãn sào 3-4 buồng. Trái có 8 cánh ngắn ở đáy, hột 1 [13].
Phân bố: Dựa rạch, Lái Thiêu, Biên Hòa. Mô tả hình thái: Đại mộc, nhánh non tía, có cạnh. Lá nhỏ so với các loài khác (dạng lá Dung), 8-12 x 3-4,5 cm, gắn gần nhau ở ngọn nhánh, gân phụ 5-9 cặp, bìa có răng nằm, cuống 1-1,3 cm. Phát hoa đỏ, dài 40-60 cm, mang hoa nhỏ, cọng dài 5-12 mm, lá đài 2 mm, cánh hoa 4, dài 5 mm, tiểu nhụy nhiều, chỉ dính nhau ở đáy, noãn sào 2 buồng [13].
Phân bố: Rừng Trường Sơn. (9) Chiếc Barringtonia edaphocarpa Gagnep. Phân bố: Sơn La. (10) Chiếc trái to B.
6 Mô tả hình thái: Đại mộc cao 10 m, nhánh mảnh, không lông. Lá to, phiến, 20- 24 x 9-10 cm, thon ngược hình muỗng, rộng ở ½ trên, đáy hẹp, tròn trên cuống, oliu xám, cuống dài vào 1 cm, tròn. Phát hoa dài 40-50 cm, thòng, nụ 15 mm, hoa trắng, cánh hoa tròn, to 15 mm, tiểu nhụy nhiều, chỉ dính nhau ở đáy, noãn sào có 4 cạnh cao như cánh. Phân bố: Trên vùng có đá vôi Sông Đà [13].
(11) Chiếc chùm to B. Mô tả hình thái: Đại mộc 5-7 m.