Chương 1: Tổng quan (12 trang): phân tích đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, các vấn đề có liên quan đến đối tượng nghiên cứu, các vấn đề còn tồn tại và nội dung cần giải quyết. Chương 2: Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu (04 trang): trình bày các phương pháp chủ yếu sử dụng trong thực nghiệm, phương pháp phân tích đánh giá kết quả bằng các kỹ thuật. Chương 3: Kết quả và thảo luận (11 trang): trình bày mô hình thí nghiệm và kết quả đạt được, xử lý và phân tích số liệu đưa ra nhận xét và đánh giá về kết quả thông qua số liệu thực nghiệm (30 trang). Kết luận và Kiến nghị (01 trang).
Tài liệu tham khảo (69 tài liệu, 8 trang) và Phụ lục các phổ (15 trang). TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về chi Dâm bụt Giới: Plantae Bộ: Malvales Họ: Malvaceae Chi: Hibiscus Chi Dâm bụt (Hibiscus) thuộc họ Bông (Malvaceae) bao gồm khoảng hơn 300 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có tới 43 loài được tìm thấy ở vùng Malaysia [8]. Bân, chi Hibiscus bao gồm 21 loài đã được ghi nhận ở nước ta trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam [10].
Chi này bao gồm các loại cây thân thảo một năm hay lâu năm cũng như các loại cây bụi thân gỗ và cây thân gỗ nhỏ. Lá mọc so le, loại lá đơn hình trứng hay hình mũi mác, thông thường với mép lá dạng răng cưa hay dạng thùy. Hoa lớn, dễ thấy, hình kèn, với năm cánh hoa, có màu từ trắng tới hồng, đỏ, tía hay vàng và rộng từ 4-15 cm. Quả là loại quả nang năm thùy khô, chứa vài hạt trong mỗi thùy, được giải phóng khi quả nang tách ra khi chín [15].
Các loài thuộc chi Hibiscus phát triển mạnh và thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và tạo ra sự đa dạng của các nhóm hợp chất thiên nhiên với các hoạt tính sinh học tiềm năng [16]. Vì vậy, không khỏi ngạc nhiên khi các điều tra dược lý gần đây của chi Hibiscus chỉ ra sự hiện diện của một số loài có tác dụng sinh học như hạ huyết áp, hạ sốt, ức chế khối u, chống ứ nước, chống viêm gan, chống tiêu chảy, phòng và hỗ trợ tiểu đường, chống co giật, chất chống miễn dịch, chống giun sán, chống oxy hóa và kháng thể các tác nhân di truyền khác [17-20]. Trong số đó, đã có gần 20 loài Hibiscus đã được đánh giá hoạt tính sinh học [21]. Mở rộng nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Hibiscus đã xác định các hợp chất chính thuộc các nhóm chất như alkaloid, flavonoid, sesquiterpenoid, triterpenoid và các acid hữu cơ [22].
Tuy nhiên, ở nước ta đến nay các nghiên cứu liên quan đến thành phần hóa học cũng như đánh giá hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi này vẫn rất hạn chế. Trên thế giới, chi Hibiscus được trồng khá phổ biến làm cảnh quan, thực phẩm và làm thuốc. Lá của một số loài được dùng làm rau và sợi thân cũng được dùng làm bột giấy và giấy. Chất nhầy của cây được sử dụng làm chất làm mềm và giảm mỡ cho 4 áp xe, loét, nhiễm trùng da, sưng tấy, nhọt và quai bị.
Ở Nam, Đông Nam và Đông Á, chất nhầy được cho là có tác dụng làm mát và được sử dụng để chữa lành vết bỏng và bỏng nước, một số ít được dùng làm thuốc chữa ho, viêm phế quản, đái buốt, rong kinh [22]. Tổng quan về loài Bụp tra 1. Giới thiệu về loài Bụp tra Tên khoa học: Hibiscus tiliaceus L. Tên đồng nghĩa: Talipariti tiliaceum (L.) Fryxell Tên thường gọi: Bụp tra, Tra làm chiếu, Tra hoa vàng.
Thuộc chi: Dâm bụt - Hibiscus Họ: Bông - Malvaceae Juss 1. Đặc điểm thực vật Loài Bụp tra có tên khoa học là Hibiscus tiliaceus L. (còn có tên đồng nghĩa là Talipariti tiliaceum (L.) Fryxell), thuộc chi Dâm bụt (Hibiscus), họ Bông (Malvaceae) [23]. Có tên gọi khác ở Việt Nam như là Tra làm chiếu, Tra hoa vàng… Cây phân bố rộng rãi ở các vùng nước lợ, gần nước mặn, vùng ven biển, các khu vực rừng bán ngập mặn ở bãi bồi ven sông nước ta thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền Đông Nam bộ như Đồng Nai, Bà Rịa, Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, loài này còn khá phổ biến ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, New Guinea… [10]. Bụp tra là một loài thực vật ven biển vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Gắn liền với rừng ngập mặn, đây là loài cây sinh trưởng nhanh, có thể cao tới 20 m [24]. Là loại cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao từ 5-15 m.
Lá đơn, mọc cách, phiến lá hình tim, cỡ 5-11 × 3-8 cm, gân gốc 5-7, gân phụ 3-5 cặp, mặt dưới có lông hình sao, cuống lá dài 3-8 cm. Lá kèm hình trứng hay bầu dục thuôn, cỡ 2-3 × 1,2-1,5 cm. Hoa mọc đơn độc ở nách lá hay cụm hoa hình chùm ở đỉnh cành, cuống hoa dài 3-6 cm. Đài phụ hình chén, 10-11 thùy hình mũi giáo hay tam giác nhọn.
Đài hình chén, mép có năm thuỳ hình mũi giáo hay trứng thuôn. Cánh hoa màu vàng, gốc mặt trong màu nâu đậm, hình trứng ngược. Ống chỉ nhị dài 2,5-3 cm. Quả nang hình cầu hay cầu dẹp, cỡ 2,3-2,5 × 2,5-3 cm, có lông cứng và lông hình sao màu vàng.
Lá hình trái tim, hoa 5 hình chuông với tâm và nhụy màu hạt dẻ. Chúng có màu vàng vào buổi sáng, chuyển sang màu đỏ cam vào buổi tối và màu hoa cà vào sáng hôm sau [9]. Tác dụng dược lý Theo tác giả V. Chi, loài Bụp tra có vị ngọt, nhạt, tính hơi hàn, thân và lá có tác dụng thanh lương tiêu thũng và nhuận tràng, cành non và hoa có tác dụng giải độc sắn [12].
Trong y học dân gian Trung Quốc, loài Bụp tra có thể dùng làm thuốc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc và tán huyết tiêu sưng. Rễ của cây được sử dụng làm thuốc hạ sốt và gây nôn, trong khi phần lá và vỏ cây được sử dụng để điều trị ho và viêm phế quản [25]. Hoa của cây còn được sử dụng để điều trị nhiễm trùng tai [26] và sử dụng trong mục đích kế hoạch hóa gia đình ở các nước Châu Á và Châu Phi [27]. Ở Indonesia, lá của loài này được dùng làm thuốc nhuận tràng.
Bên cạnh đó, ở Philippines, vỏ cây còn được dùng để chữa bệnh kiết lỵ. Ở quần đảo Papua New Guinea, lá cây được sắc nước dùng để chữa đau họng, viêm phổi, ho, lao và tiêu chảy [8]. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Bụp tra 1. Các nghiên cứu trên thế giới về thành phần hóa học của loài Bụp tra Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã báo cáo các nhóm chất chính như benzaldehyde, flavonoid, terpenoid, steroid… từ các bộ phận khác nhau của loài H.
Trong số các loại hợp chất đã được công bố thì các hợp chất sesquiterpene chiếm ưu thế. Subramanian và các cộng sự đã xác định được sự có mặt của các dẫn xuất phenol của acid p-coumaric, acid fumaric, kaempferol, kaempferol-3-O-D-galactoside, quercetin và quercetin-3-O-D- galactoside từ phần quả cây [29]. Cyanidin-3-glucoside là anthocyanin chính có mặt trong hoa của loài này [30]. Rất nhiều các hợp chất khác cũng đã được xác định trong hoa của loài này là các hydrocarbon no của 15-34 carbon, methyl este của các acid béo, α-tocopherol và phytosteroid [31].
Các hợp chất sesquiterpene Từ những năm 1980, A. Sadaquat và các cộng sự đã phân lập được 15 hợp chất là các dẫn xuất sesquiterpenoid quinone trong đó có chín hợp chất phân lập từ phần thân của loài H. tiliaceus bao gồm hibiscone A-D (1–4), hibiscoquinone A-D 6 (5–8) và lapachol (9) [32]. Còn từ phần rễ của loài này, các nhà khoa học đã phân lập được sáu hợp chất khác như gossypol (10), mansonone D-F (11–13), emmotin-H (14) và phlebiarubrone (15) [32].
Cũng theo hướng nghiên cứu này, năm 2020, T. Matsumoto và các cộng sự đã phân lập 11 hợp chất trong đó có năm hợp chất terpenoid mới được đặt tên là hibiscusterpen I-V (16–20) và sáu hợp chất đã biết bao gồm hibiscone B-C (2–3), sohemigossypol-1-methyl ether (21), virginicin (22), parvifloral A (23) và syriacusin A (24) từ thân và cành của loài này [33]. Deli và nhóm nghiên cứu của mình đã phân lập được tám hợp chất cadinane sesquiterpenoid mới (25–32), trong đó có ba cặp đồng phân đối quang được đặt tên là hibisceusin A-C (25–27), hibisceusin F-H (28–30) và hibisceusin D-E (31–32) cùng với hai hợp chất isomer isohemigossypol-1-methyl ether (33–34) đã biết cũng được tìm thấy từ phần vỏ cây của loài này. Các hợp chất 25–27 đã được tinh chế thành công bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC với cột sắc ký tách đồng phân đối quang và cấu hình tuyệt đối của từng chất được xác định bằng cách so sánh phổ ECD tính toán và thực nghiệm.
Kết quả này cho phép xác định hợp chất 25a/25b, 26a/26b và 27a/27b là các cặp đồng phân đối quang của nhau và cấu trúc của các hợp chất này còn được xác định bằng phương pháp phổ X-ray [34]. Các hợp chất triterpenoid Năm 2006, từ phần thân và vỏ của loài H. Lyia và các cộng sự đã công bố một friedelane triterpenoid mới là acid 27-oic-3-oxo-28-friedelanoic (35) và tám triterpenoid đã biết trong đó có năm hợp chất là dẫn xuất của khung friedelane bao gồm 3α-hydroxy friedelane-2-one (36), 4α-hydroxyfriedelane-3-one (37), friedelin (38), epi-friedelanol (39) và pachysandiol A (40) [35]. Năm 2008, nhóm nghiên cứu của C.
Feng từ cặn chiết EtOAc từ lá loài này đã phân lập được bốn hợp chất triterpenoid đã biết là 38, 12-oleanen-3β-ol (41), 3β- hydroxy-12-oleanen-28-oic acid (42) và 20(29)-lupen-3β,28-diol (43) [36]. Đến năm 2011, mười hợp chất từ vỏ và thân của loài H. Zhao và nhóm 8 nghiên cứu đã xác định, trong đó có ba hợp chất triterpenoid đó là glutinol (44), germanicol (45) và lupeol (46) [37]. Các hợp chất steroid Trong cùng báo cáo năm 2008, nhóm nghiên cứu của C.
Feng từ cặn chiết EtOAc từ lá loài này đã phân lập được bốn hợp chất, trong đó có ba hợp chất mới có bộ khung nigrum hiếm là (20E)-22-hydroxynigrum-20-en-3-one) (47), 21β- hydroxynigrum-22(29)-en-3-one) (48) và 21α-hydroxynigrum-22(29)-en-3-one) (49) và một hợp chất đã biết là cucurbita-5,23-dien-3β,25-diol (50). Đây cũng là lần đầu tiên các hợp chất có bộ khung nigrum này được phân lập được từ các loài thực vật ngập mặn [36]. Năm 2008, từ túi mật hoa của loài H. tiliaceus được thu thập ở đảo Hải Nam, C.
Feng và các cộng sự đã phân lập được ba hợp chất cholesteroid bao gồm cholesteroid (51), 7α-hydroxycholesteroid (52) và 7β-hydroxycholesteroid (53) [38]. Năm 2011, các hợp chất steroid bao gồm stigmasteroid (54), stigmast-4-en-3-one (55), stigmast-4,22-dien-3-one (56), ergosta-4,6,8,22-tetraen-3-one (57), β- sitosteroid (58) đã được nhóm nghiên cứu của Z.