CHƯƠNG 1- TONG QUAN TAI LIEU 1. THUC VAT HOC VE SEN 1. Chi Nelumbo va vi tri phan loai cua chi Chi Nelumbo thudc ho Sen- Nelumbonaceae trước đây được xếp cùng với họ Súng- Nymphaeaceae. Tuy nhiên, ngày nay được tách ra riêng thành họ Sen, voi mét chi duy nhat 1a Nelumbo voi hai loai Nelumbo nucifera Gaertn.
(Sen hồng, phé biến ở Việt Nam và một số nước Châu Á như Trung quốc, An do, Srilanka, Nhật Ban, Théi Lan, Uc) va Nelumbo lutea Willd (Sen trang, phé biến ở Dong Bac My Jl}, Theo hệ thống phân loại APG II năm 2003 và của Amen Takhtajan nam 2009 "41, vị trí phân loại của chỉ Welunbo được trình bày trong Bang 1. VỊ trí phân loại của chỉ Nelưmnbo Phân giới Cormobionta (Thực vật bậc cao) Ngành Magnoliophyta (Nganh Ngoc Lan) Lop Magnoliopsida (Lop Ngoc Lan) Phân lớp Ranunculidae (Phân lớp Sen) Liên bộ Proteanae Bộ Nelumbonales (Bộ Sen) Họ Nelumbonaceae Chi Nelumbo 1. Cay Sen - Nelumbo nucifera Loài Sen Nelumbo nucifera Gaertn. cé6 mot sé déng danh khdc 1a: Nelumbium nelumbo (L.) Druce, Nelumbium nuciferum Gaertn, Nelumbium speciosum Willd.
Trong tiếng Việt, Sen còn được biết với tên là Sen hồng, Liên. Trong tiếng Anh, Sen được gọi với tên thông dụng nhất là lotus nhưng còn được biết với các tên khác nhu Chinese water - lily, Indian lotus, Egypian bean."! Nelumbo nucifera Gaertn. Nelumbo lutea Willd. Hình ảnh loài Sen hồng và Sen trắng (nguồn: Wikipedia) 4 1.1 Đặc điểm hình thái Cây thân rễ mang củ mọc khá sâu trong đáy hồ, sống nhiều năm.
Thân rễ hình trụ mọc bò lan trong bùn thường gọi là ngó Sen, có ngăn ngang; thân và cuống lá có bộng to dài. Lá (liên diệp) hình tròn, hình khiên to, có cuống dài vươn lên khỏi mặt nước, cuống có thể dài 0,5 tới 1,5 hay 2 m. Phiến lá có dạng đĩa, với mép lượn sóng, màu lục hoặc xanh lục, thường có lớp sáp rộng trên bề mặt, rộng 20 — 80 cm có gai nhỏ, đính ở giữa phiến lá, mép lá uốn lượn. Hoa rất đẹp, rộng tới 20 — 30 cm, màu hồng tím, trắng có mùi thơm.
Hoa đều, lưỡng tính. Lá đài 4 - 5, cánh hoa nhiều, hướng lên và trải ra, nhị nhiều bao phấn hai ô, nứt theo kẽ đọc. Nhiều lá noãn chứa trong một để hoa loe ra thành hình nón ngược gọi là gương Sen, mỗi lá noãn có 1-2 tiểu noãn. Quả bế màu xanh hình bầu dục, rời nằm sâu trên gương Sen chứa 15 - 25 quả bế, chứa một hạt không nội nhũ.
Hạt màu trắng, dài 1,3 - 1,5 cm, phần ngoài mỏng và cứng, màu lục tía, phần giữa mềm chứa tỉnh bột màu trắng ngà và bên trong là lá mầm dầy có màu xanh sam (tâm Sen). Tâm Sen gồm rễ mầm, thân mầm, chồi mầm vả 2 lá đầu tiên; rễ mầm không rõ; thân mầm màu xanh, dài 3 - 4 mm, tiết diện bau duc, nhan bóng, 2 lá đầu tiên, 1 to, 1 nhỏ, cuống lá mầm màu xanh, hình móc câu, tiết diện đa giác, dài 1,8 - 2 cm, phiến lá mầm hai mép cuộn vào giữa tạo thành một đoạn dài 6-7 mm. Các loài trong chỉ Nelưnbo có hoa giống với các loài hoa Súng trong họ Nymphaeaceae (họ Súng). Tuy nhiên, lá của các loài Sen có thể phân biệt được với lá của các loài trong họ Súng do có hình khiên (lá tròn), trong khi đó Nymphaeaceae có vết khía hình chữ V đặc trưng từ mép lá vào tâm của lá.
Quả ở trung tâm chứa hạt của các loài cũng có đặc trưng phân biệt và được gọi là bát Sen L!Hö7IÌ, 1. Sinh thái - phân bố Trong thời kỳ cô đại, Sen đã từng là loại cây mọc phô biến dọc theo bờ sông Nile ở Ai Cập cùng với một loài hoa súng có quan hệ họ hàng gần gũi có tên gọi dài dòng là hoa Sen xanh linh thiêng sông Nile (Mymphaea caerulea). Từ Ai Cập, Sen đã được đem đến vùng lãnh thổ Assyria và sau đó được trồng rộng rãi khắp các vùng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. Hiện nay, Sen được phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Á, Úc và Châu Mỹ, hiếm hoặc đã tuyệt chủng tại Châu Phi.
Do ưa khí hậu nóng và âm của vùng nhiệt đới, nên Sen cũng được trồng nhiều ở hầu hết các nước khu vực Đông Nam Á đến Nam Á như: Campuchia, Thái Lan, Malysia, Án Độ và các tỉnh phía nam Trung Quốc P3, Ở Việt Nam, chỉ có một loài mọc hoang dại chủ yếu ở vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Đồng Tháp và An Giang. Theo nhân dân địa phương cây Sen mọc trong trạng thái tự nhiên đã có từ lâu đời. Bên cạnh quần thê hoang đại, Sen cũng là cây trồng quen thuộc ở các tỉnh đồng bằng và trung du, suốt từ Nam đến Bắc, dùng làm thuốc, thức ăn và làm cảnh. Sen được trồng nhiều nhất ở Đồng Tháp.
Mùa hoa: tháng 5 - 6, mùa quả: tháng 7 — 9 l8, 1. Đặc điểm vi học Lá: Biểu bì trên gồm một lớp tế bào hình chữ nhật nhỏ, mặt ngoài có núm lồi lên, có lỗ khí. Biểu bì dưới giống biểu bì trên, nhưng tế bào dài hơn, vách hóa mô cứng, cutin dày. Mô mềm giậu có một lớp tế bào xếp sát biéu bì trên, chạy từ phiến lá xuyên qua gân giữa.
Mô dày góc gồm nhiều tế bào đa giác gần tròn, xếp thành đám sát biểu bì đưới. Ở giữa gân có 2 bó libe gỗ to, những bó libe gỗ nhỏ xếp rải rác xung quanh. Mỗi bó libe gỗ có sợi bao bọc, gỗ phía trên, libe phía dưới, bao quanh là 1- 2 lớp tế bào hình đa giác, kích thước nhỏ, hóa mô cứng thành vòng ƑI, Bột dược liệu Bột lá Sen: có màu lục nhạt, soi kính hiển vi quan sát thấy các đặc điểm sau ll: Mảnh biểu bì trên gồm nhiều tế bào hình nhiều cạnh, kích thước không đều, màng ít ngoằn ngoèo, mang lỗ khí ở dạng biến thiên. Màng phía ngoài biểu bì có nhiều núm lồi lên.
Núm nhìn phía đưới mặt là những vòng tròn nhò, rải rác có những núm bị tách khỏi biểu bì, hình ba cạnh hay hình chuông. Mảnh biểu bì dưới gồm tế bào màng ngoằn ngoèo. Sợi màng hơi dày, khoang rộng kèm mảnh mach. Manh mach vạch, mạch xoắn, mạch mạng.
Tĩnh thé calci oxalat hình cầu gai, duong kinh 20- 36 ụm. Mô mềm chứa diệp lục. Bội tâm Sen: Bột màu vàng xanh, mảnh mô mềm chứa hat tinh bột. Hạt tinh bột hình cầu hoặc hình trứng, đường kính 4- 6 um PHT), 1.
Bộ phận dùng — thu hái và chế biến Tất cả các bộ phận dùng của cây Sen đều có giá trị sinh học cao, được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền và được đưa vào Dược điển một số nước H8! Lá Sen (Folium Nelumbims): lá bánh tẻ, thu hái vào mùa thu, bỏ cuống, phơi khô. Thân rễ (Nodus Nelumbinis rhizomatis) còn gọi là liên ngẫu hay ngó Sen, thu hái quanh năm. HOA HOC VE SEN 1. Hóa học của lá Sen Lá Sen chứa nhiều hợp chất khác nhau trong đó nhóm alkaloid và flavonoid được xem là hai thành phần chính chiếm tỉ lệ tương đối lớn và cho tác dụng sinh học chủ yếu.
Ngoài ra, các hợp chất khác như: tanin, saponin, đường khử, các acid hữu cơ (acid palmitic, acid citric, acid tartric, acid succinic, acid ascorbic,.), cdc terpen steroid (f-sitostenon, stigmasta-4,22-dien-3-on,.), các tỉnh dau trans-caryophyllen, trans-isolimonen, 4-methyl-1-isopropyl-3-cyclohexen-1-ol, camphor, 2-acetylen-1-alcohol, chat béo, sáp, chất nhày cũng được tìm thấy trong lá Sen, [7II14l4116] 1. Thành phần alkaloid Hàm lượng alkaloid toàn phần của lá Sen chiếm từ 0,77 - 0,84% tùy theo điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Có khoảng 15 alkaloid đã được xác định. Các alkaloid trong lá Sen có cấu trúc isoquinolin bao gồm các phân nhóm aporphin, proaporphin, benzylisoquinolin và bisbenzylisoquinolin.
AIkaloid khung aporphin: các alkaloid có cẫu trúc aporphin chiếm phần lớn về tỉ lệ cũng như số lượng trong alkaloid toàn phần của lá Sen. Các alkaloid đã biết thuộc nhóm này được trình bày ở Bảng 1. Các alkaloid khung aporphin có trong lá SenỨ1 I8M!9 (14), HH] CTPT Ri R2 Ra Nuciferin Ci9H21NO2 -CH3 -CH3 -CHa RO C N-nor-nuciferin CisHigNO2 -CH3;. -CH3 -H R,O Ss NNR O-nor-nuciferin CigHigNO2 -H -CH3 -CH3 H Lirinidin C¡sH¡oNO; -CH3 -H -CHa Roemerin C¡;Hi;NO2¿ -CHa- -CH3 Anonain Ci7HisNO2 -CH:- -H Dehydronuciferin Ci9Hi9NO2 -CH: : -CH; -CH3 R,O Dehydroroemerin C¡sH¡zNO¿ -CH;- -CH: Ss N R,O đì “OR; Dehydroanonain Ci7Hi3NO2 -CH- -H Alkaloidl khung proaporphin: alkaloid thuộc nhóm này chỉ có một alkaloid là pronuciferin (CisHaiNO¿).
Chất này có thể chuyển thành nuciferin trong môi trường acid.Ll 8i pronuciferin nuciferin AIkaloid khung benzylisoquinolin: alkaloid thuộc nhóm này trong lá Sen được biết với 04 alkaloid dién hinh 1A armepavin, N-norarmepavin, N-methyl coclaurin va N-methyl isococlaurin. Các alkaloid khung benzylisoquinolin có trong lá Sen 4: [831.71 CTPT Rị R¿ Rs R,O Armepavin CioH23NO2 | -CH3 -CH3 -CHạ “ No N-methyl coclaurin CisH2i1NO3 | -CH3 -H -CHạ nạo Rs N-methyl isococlaurin CisH2i1NOs -H -CH3 -CHạ O N-norarmepavin CisH2i1NO3 -CH3 -CH3 -H HO Alkaloid khung bisbenzylisoquinolin: alkaloid thuộc nhóm này trong lá Sen được biết với neferin, isoliensinin với hàm lượng thấp. Cấu trúc hai chất này được trình bày ở Bảng 1.51, Ngoài ra, trong lá Sen còn có cepharadion B và Iysicamin 1, i, Liriodenin Lysicamin Cepharadion B Tinh chat cia mét sé alkaloid chinh trong lé Sen "41.0161 Nuciferin: dạng base, là tỉnh thể hình lăng trụ không màu, tạ: 163-164 °C, góc quay cực ở 27° là +145 ° (c = 0,67 %; EtOH), phát huỳnh quang xanh lục sáng ở 245 nm. Phé UV có ba cực đại hấp thu trong dung môi EtOH lần lượt là 311 nm, 271 nm và 232 nm với giá trị loøe lần lượt là 3,83; 4,32 va 4,36.
N-nornuciferin: dạng base là một chất lỏng như dầu, dạng muối chlorid 1a tinh thé không màu, tục: 156 — 157 °C, góc quay cực ở 27 ° là +144 ° (c = 0,5 %; EtOH). Phổ UV có ba cực đại hấp thu trong dung môi EtOH lần lượt là 311 nm, 271 nm, 230 nm v6i gia tri loge 1an lượt là 3,67; 4,43 va 4,37. N-norarmepavin: kết tỉnh ở dạng muối oxalat là tỉnh thể hình kim không màu, tạc: 209 — 210 °C, ơp”= + 20 ° (c= 0,2%; MeOH). Phổ UV có ba cực đại hấp thu trong dung môi EtOH lần lượt là 254 nm, 283 nm, 227 nm.
Thành phần flavonoid Hàm lượng flavonoid toàn phần của lá Sen từ 0,67-0,89 % có khi lên đến 1,64 % tùy theo điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Có khoảng 16 flavonoid đã được xác định trong lá Sen. Flavonoid trong lá Sen thuộc các nhóm flavonol, flavon, catechin, leucoanthocyanidin, trong đó hàm lượng cao nhất được tìm thấy là quercetin 3-Ó-Ø-D-glucuronid "18 Nhóm flavonol: Chiếm tỉ lệ lớn trong các flavonoid với hàm lượng nhiều hơn của các aglycon như: myricetin, quercetin, kaempferol, isorhamnetin và các glycosid với đường glucosyl, rhamnosyl như: myricetin 3-Ó-Ø-D-glucopyranosid, quercitrin, isoquercitrin, hyperin, rutin, kaempferol 3-O0-$-D-glucosepyranosid, isorhamnetin 3-O-a-L-rhamnopyranosyl, isorhamnetin 3-Ó-Ø-D-glucopyranosid, isorhamnetin 3-O-a-D-lyxopyranosyl-O-f-D-glucopyranosid.