ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây bệnh lý khớp háng ngày càng có xu hướng gia tăng, những bệnh lý khớp háng như thoái hóa khớp háng, hoại tử vô khuẩn hay chấn thương khớp háng đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống sinh hoạt, lao động của người bệnh. Đây là phẫu thuật lớn, xâm lấn nhiều vào cả xương và tổ chức phần mềm. Vì vậy, sau phẫu thuật khớp háng bệnh nhân thường phải chịu đựng cơn đau nặng kéo dài, trong khi người bệnh cần vận động sớm để tăng cường hồi phục và phòng tránh các tai biến có nguy cơ cao như tắc mạch do huyết khối tĩnh mạch sâu… [8], [24]. Giảm đau tốt sau phẫu thuật không những đem lại cảm giác dễ chịu về thể xác cũng như tinh thần, giúp người bệnh lấy lại cân bằng tâm- sinh lý mà còn có ý nghĩa nâng cao chất lượng điều trị (chóng lành vết thương, giảm nguy cơ bội nhiễm vết thương, giảm nguy cơ tắc mạch, người bệnh hồi phục sức khỏe sớm, có thể tự chăm sóc, rút ngắn thời gian nằm viện, tránh diễn biến thành đau mạn t nh…) [7 ,[8].
Những người bệnh sau mổ thay khớp háng cần sự chăm sóc sát sao của người điều dưỡng, đặc biệt những ngày sau mổ còn ảnh hưởng của thuốc mê, thuốc tê, và chăm sóc cơ bản như thay đổi tư thế, vận chuyển bệnh nhân và tình trạng huyết động như chảy máu sau mổ, tụt huyết áp, trụy mạch sau mổ, choáng [46] [51. Trong giai đoạn này là không bao giờ được để người bệnh chưa tỉnh thuốc mê nằm một mình vì người bệnh dễ bị k ch động vật vã, người bệnh thường có nhiều dẫn lưu, có dẫn lưu rất quan trọng trong điều trị và nguy hiểm khi rút ống hay bị tuột ống [7]. Tại các bệnh viện, điều dưỡng viên (ĐDV) là lực lượng không thể thiếu trong công tác CSNB. Người điều dưỡng đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động vệ sinh cá nhân 2 ngủ, nghỉ, chăm sóc tinh thần, hỗ trợ điều trị.
Nếu hoạt động chăm sóc điều dưỡng có chất lượng tốt sẽ giảm được thời gian nằm viện của người bệnh, giảm chi ph điều trị, chất lượng điều trị được nâng cao góp phần không nhỏ tới uy tín của bệnh viện Bệnh viện đa khoa Hà Đông là một trong những bệnh viện hạng I của Sở Y tế Thành phố Hà Nội với 650 giường kế hoạch năm 2019-2020. Bệnh viện phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho hơn 2 triệu người dân vùng phía Tây Nam thành phố, hàng năm đã tiến hành phẫu thuật thay khớp háng cho khoảng 200- 300 trường hợp và trong số khoảng 70% trường hợp được giảm đau sau phẫu thuật bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng, số lượng người bệnh sử dụng dịch vụ giảm đau sau phẫu thuật ngày càng tăng [1]. Để có một cách nhìn tổng quan về công tác điều dưỡng cũng như đánh giá, rút kinh nghiệm trong thực hành chăm sóc người bệnh nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chống đau sau phẫu thuật chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Chăm sóc ngƣời bệnh phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2022” với 2 mục tiêu sau: Mục tiêu nghiên cứu 1. Mô tả đặc điểm người bệnh và kết quả chăm sóc người bệnh phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2022 2.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc thay khớp háng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu vùng háng 1. Xƣơng, khớp háng Khớp háng là khớp ổ chỏm lớn nhất của cơ thể, là nơi tiếp nối giữa đầu trên xương đùi với xương chậu.
Cấu tạo của khớp háng bao gồm các thành phần chính: Ổ cối, chỏm xương đùi, hệ thống dây chằng bao khớp và mạch máu thần kinh. Ổ cối lõm bằng 2/5 khối cầu do 3 phần của xương chậu (phần chậu, phần mu, phần ngồi) và sụn viền ổ cối tạo thành. Ổ cối hướng xuống dưới ra ngoài tạo với mặt phẳng lừm ngang một góc 45 độ và hướng ra trước một góc khoảng 15 độ. Bờ dưới ổ cối vát tạo thành khuyết ổ cối là nơi xuất phát của dây chằng tròn.
Phần tiếp xúc của ổ cối với chỏm gọi là diện nguyệt là lớp sụn bao bọc có cấu trúc đặc biệt cho phép độ chịu tải lớn, lớp sụn này dày khoảng 6% đường kính của chỏm và thường dầy nhất ở thành trên. Có một khoảng rộng của ổ cối không có sụn khớp đó là hố dây chằng tròn, đây là giới hạn cuối cùng để doa ổ cối. sụn viền ổ cối làm sâu thêm ổ cối để ôm lấy chỏm xương đùi, phần sụn viền vắt ngang qua khuyết ổ cối gọi là dây chằng ổ cối. Chỏm xƣơng đùi.
Chỏm xương đùi có hình tròn (độ 2/3 khối), ngẩng lên trên vào trong, hơi chếch ra trước ở ph a sau và ph a dưới đỉnh chỏm có một chỗ lõm gọi là hố dây chằng tròn. Chỏm xương đùi có đường kính từ 40-60mm, phần diện khớp với ổ cối được che phủ bởi một lớp sụn. Cổ xƣơng đùi. Đây là phần xương nối tiếp giữa khối mấu chuyển với chỏm xương đùi hướng chếch lên trên vào trong, đoạn cổ xương đùi dài 30-40mm, hình dẹt ph a trước sau có: 2 mặt, 2 bờ và 2 đầu: 4 Mặt trước: Phẳng, có bao khớp che phủ.
Mặt sau: Lồi chiều thẳng, lõm bề ngang, chỉ có 2/3 phía trong là liên quan đến bao khớp. Bờ trên: ngắn, nằm ngang. Bờ dưới: dài, chéo. Đầu trong: dính vào chỏm, có nhiều lỗ mạch máu.
Đầu ngoài: to, liên quan với các mấu chuyển. Giới hạn: Ph a trước: một đường gờ từ mấu chuyển lớn đến mấu chuyển bé. Phía sau: một gờ sắc và rõ rệt hơn gọi là mào liên mấu. Cổ xương đùi hoàn toàn nằm trong bao khớp trừ phần sau từ 1/3 ngoài cổ tới mấu chuyển.
Khối mấu chuyển Giới hạn: Phía trên gắn liền với khối cổ chỏm giới hạn bởi viền bao khớp. Ph a dưới tiếp với thân xương đùi (ranh giới không rõ ràng dưới mấu chuyển bé 2,5cm). Mấu chuyển lớn: có 2 mặt và 4 bờ. Mặt trong: Phần lớn dính ngay vào cổ, phía sau có hố ngón tay, trong đó có cơ bịt ngoài bám và gân chung của 3 cơ bám (2 cơ sinh đôi và cơ bịt trong).
Mặt ngoài: Lồi hình 4 cạnh, có gờ chéo để cơ mông nhỡ bám, ở trên và dưới gờ có 2 diện liên quan đến túi thanh mạc của cơ mông nhỡ và cơ mông lớn. Bờ: Trên: có diện để cơ tháp bám. Dưới: có mào để cơ rộng ngoài bám. 5 Trước: có gờ để cơ mông bé bán.
Sau: liên tiếp với mào mấu chuyển có cơ vuông đùi bám. Mấu chuyển bé Là một núm xương lồi ở ph a sau dưới cổ khớp, là nơi bám tận của cơ thắt lưng chậu. Từ đó có 3 đường toả ra, một đường đi xuống dưới gặp đường ráp để cơ lược bám hai đường khác chạy lên trên đi ra cổ khớp. Độ góc cổ xƣơng đùi Trên bình diện thẳng: Trục cổ giải phẫu hợp với trục của thân xương đùi một góc mở vào trong khoảng 1250 -1300 góc này gọi là góc cổ thân xương.
Trên bình diện nghiêng: Trục của cổ giải phẫu xương đùi hơi chếch ra trước so với trục ngang của liên lồi cầu xương đùi và tạo thành một góc khoảng 150 -200 góc này gọi là góc nghiêng. Cấu trúc xƣơng vùng cổ và mấu chuyển xƣơng đùi: Cấu trúc vùng cổ, mấu chuyển xương đùi chủ yếu là xương xốp, vách xương quanh khối mấu chuyển mỏng hơn vách của thân xương và được tăng cường bởi các bè xương. Theo Langlais tại tâm chỏm sự giao thoa của các bè xương tạo một khối cầu đường kính khoảng 2cm có độ rắn chắc >3 lần so với vùng xương ngoại vi của chỏm, ở người vận động nhiều hoặc chơi thể thao xương càng chắc [7]. Canca là mảnh xương đặc, xuất phát từ phía trong sau của thân xương đùi, từ dưới mấu chuyển nhỏ đi lên và hoà vào vỏ sau dưới của cổ xương đùi [8].
Các bè xương cũng góp phần tạo độ rắn chắc đầu trên xương đùi. Năm 1838, Ward lần đầu tiên mô tả hệ thống bè xương ở đầu trên xương đùi: có 2 hệ thống chính 6 Các bè xương chịu lực nén ép ch nh (bè xương hình quạt): Bè này đi từ bờ dưới trong nền cổ xương đùi (gọi là cung Adam) toả lên tới sụn của chỏm theo hình quạt. Các bè xương chịu lực căng giãn ch nh (bè xương hình vòm): Chạy từ vỏ ngoài xương đùi qua vùng mấu chuyển lớn dọc theo phần trên cổ phía dưới vách xương cắt vuông góc các bè xương của hệ quạt tới dưới sụn của chỏm phía trong. Ngoài 2 hệ thống chính còn có 3 nhóm hệ thống phụ: Bè căng giãn phụ: Bắt đầu từ vỏ xương đùi ph a ngoài dưới bè xương căng giãn ch nh hướng vào giữa cổ.
Bè xương nén ép phụ: Bắt đầu từ vùng vỏ xương mấu chuyển bé hướng tới mấu chuyển lớn. Bè xương khối mấu chuyển lớn: Bắt đầu ở thành xương toả lên mấu chuyển lớn. * Trong cấu trúc đó có 2 điểm yếu. Tam giác Ward: Điểm ở giữa cổ xương đùi nơi mà các bè xương chịu lực không đan qua, điểm này yếu ở mọi lứa tuổi do cấu trúc.
Liên tâm mấu chuyển: Nơi chỉ có một bè nén ép phụ, không có bè căng giãn phụ đan qua là điểm loãng xương tối đa ở người già. * Ý nghĩa về lâm sàng và điều trị. Những hiểu biết này rất quan trọng đòi hỏi các phương tiện kết xương khi đặt vào cổ chỏm phải neo được vào khối cầu xương và có thể tỳ vào Canca để đảm bảo độ vững chắc của sự kết hợp xương. Mạch máu cung cấp ch nh cho đầu trên xương đùi.
Nguồn mạch máu nuôi dưỡng: 7 Các nhánh động mạch xuất phát từ động mạch thân xương cấp máu cho vùng mấu chuyển lớn, mấu chuyển bé và nền cổ. Các nhánh của hai động mạch mũ trước và mũ sau: Động mạch mũ trước luồn dưới cơ thẳng trước qua cơ rộng ngoài vòng qua đầu trên thân xương đùi chạy ra sau nối với động mạch mũ sau. Động mạch mũ sau đi qua ngách giữa cơ đáy chậu ở ngoài, cơ lược ở trong, qua cơ bịt ở trên và cơ khép ở dưới tới cổ tiếp xương đùi chia thành 2 nhánh: nhánh lên tiếp nối với động mạch mũ trước và động mạch ngồi, nhánh xuống tiếp nối với các động mạch xiên.