Luận văn thạc sĩ: Kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng yếu tố tác hại nghề nghiệp của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên 2020

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết như sau: { "ai_description": "Tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng trong ngành điều dưỡng tại

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiến thức thái độ và thực hành dự phòng

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 283 điều dưỡng đang thực hiện chăm sóc người bệnh tại 17 khoa lâm sàng của bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên. Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp. Điều dưỡng có kiến thức đạt về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp, nhưng còn một số hạn chế về thái độ và thực hành.

1.1. Giới thiệu về điều dưỡng và tác hại nghề nghiệp

Điều dưỡng là một nghề nghiệp quan trọng trong hệ thống y tế, nhưng cũng là một nghề nghiệp có nhiều rủi ro và tác hại. Các điều dưỡng phải đối mặt với nhiều nguy cơ như tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh, chấn thương vật lý, và các vấn đề tâm lý.

1.2. Tầm quan trọng của kiến thức thái độ và thực hành dự phòng

Kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng là rất quan trọng để giảm thiểu các rủi ro và tác hại nghề nghiệp. Điều dưỡng cần có kiến thức và kỹ năng để nhận biết và phòng ngừa các nguy cơ, cũng như có thái độ tích cực và thực hành an toàn.

II. Phân tích vấn đề kiến thức thái độ và thực hành dự phòng

Về kiến thức, Có 74,9% điều dưỡng có kiến thức đạt về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp. Trong đó điều dưỡng có kiến thức đạt mức trung bình chỉ chiếm 68,5% và tốt có 6,4%. Đa số điều dưỡng đã có thái độ tích cực về dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế về thực hành dự phòng.

2.1. Thực trạng kiến thức của điều dưỡng

Kiến thức của điều dưỡng về các yếu tố tác hại nghề nghiệp còn hạn chế. Chỉ có 74,9% điều dưỡng có kiến thức đạt về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp.

2.2. Thái độ và thực hành dự phòng của điều dưỡng

Đa số điều dưỡng đã có thái độ tích cực về dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế về thực hành dự phòng, chỉ có 60,8% điều dưỡng thực hành sử dụng các phương tiện phòng hộ cá nhân.

III. Giải pháp phương pháp cải thiện kiến thức thái độ và thực hành dự phòng

Để cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng của điều dưỡng, cần tăng cường đào tạo và huấn luyện về các yếu tố tác hại nghề nghiệp. Cũng như cần có các chính sách và chương trình hỗ trợ để giúp điều dưỡng có thể thực hành an toàn.

3.1. Tăng cường đào tạo và huấn luyện

Cần tăng cường đào tạo và huấn luyện về các yếu tố tác hại nghề nghiệp để giúp điều dưỡng có kiến thức và kỹ năng cần thiết để phòng ngừa các rủi ro.

3.2. Chính sách và chương trình hỗ trợ

Cần có các chính sách và chương trình hỗ trợ để giúp điều dưỡng có thể thực hành an toàn, bao gồm cung cấp các phương tiện phòng hộ cá nhân và hỗ trợ tâm lý.

IV. Kết luận và ứng dụng

Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2020 còn hạn chế. Để cải thiện tình hình này, cần tăng cường đào tạo và huấn luyện, cũng như có các chính sách và chương trình hỗ trợ để giúp điều dưỡng có thể thực hành an toàn.

4.1. Kết luận

Kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2020 còn hạn chế.

4.2. Ứng dụng

Cần áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế để cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng của điều dưỡng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ kiến thức thái độ và thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh phú yên năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về yếu tố tác hại nghề nghiệp. Khái niệm Tất cả các yếu tố có liên quan đến nghề nghiệp nhưng là nguyên nhân tiềm ẩn làm hạn chế khả năng làm việc, gây chấn thương hoặc ảnh hưởng không có lợi cho sức khỏe người lao động thậm chí gây tử vong gọi là yếu tố tác hại nghề nghiệp [13]. Tác hại nghề nghiệp là những yếu tố trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động của công nhân gây nên những rối loạn bệnh lý hoặc các bệnh nghề nghiệp đối với những người tiếp xúc [6].

Các yếu tố tác hại nghề nghiệp rất đa dạng, có thể là vật lý , hóa học, tâm lý… Trong một môi trường lao động có thể có một hoặc nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp. Các tác nhân môi trường có thể tác động tới sức khỏe người lao động. Phân loại các yếu tố tác hại nghề nghiệp. Phân loại các yếu tố tác hại nghề nghiệp chung.

Dựa vào giáo trình đào tạo cử nhân y tế công cộng của tác giả Bùi Thanh Tâm biên soạn, Yêu tố tác hại nghề nghiệp được phân làm 4 loại như sau [13]. - Yếu tố lý học và hoá học kết hợp. Các độc chất ở nơi làm việc dưới dạng hơi, khí, bụi,dung dịch, chất rắn. Các loại bụi sản xuất như bụi vô cơ (ximăng, silic, amiăng) hay bụi hữu cơ (bông, lông gia cầm, thuốc lá).

- Yếu tố vật lý: Là điều kiện khí hậu ở nơi làm việc không thuận lợi cho sức khoẻ như: nhiệt độ không khí quá cao hoặc quá thấp, độ ẩm không khí cao, không khí kém lưu thông,cường độ bức xạ nhiệt mạnh, Tiếng ồn. Bức xạ ion hoá: Tia phóng xạ và các chất phóng [13]. - Yếu tố sinh học: Là bao gồm vi khuẩn, virut, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm mốc gây bệnh chứa trong bệnh phẩm, chất thải hoặc phân tán tại nơi làm việc [13]. 5 -Trạng thái tâm sinh lý và ecgônômi.

Liên quan đến tư thế làm việc của điều dưỡng khi thực hiện thủ thuật chăm sóc, nâng đỡ, xoay trở, vận chuyển người bệnh, ngồi quá lâu, đi lại nhiều, cúi khom, vẹo người. Giờ giấc làm việc kéo dài, ca kíp không phù hợp, strees, điều kiện làm việc khó khăn nguy hiểm. Phân loại về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp trong cơ sở chăm sóc sức khỏe. Các yếu tố tác hại nghề nghiệp rất đa dạng có thể là vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý trong một môi trường lao động có thể có một hoặc nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp…[13].

Nghề Điều dưỡng phải đối mặt với nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp, trong lúc thực hiện nhiệm vụ họ có thể tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm, bị tổn thương từ các vật sắc nhọn, hóa chất, các tư thế làm việc có thể làm đau cơ xương khớp, các độc chất, chấn thương lưng và tia bức xạ, họ cũng đối mặt với các mối nguy hiểm như căng thẳng, làm việc theo ca và bạo lực tại nơi làm việc. Đấy là những yếu tố tác hại nghề nghiệp cho thấy điều dưỡng là một nghề nguy hiểm [32],[52]. Theo nhóm tác giả Aghakhani N, Baghaei R. Alinejad V et al.

(2017), nghiên cứu trên 108 điều dưỡng tại Đại học Khoa học Y khoa Urmia cho thấy điều dưỡng đã tiếp xúc trực tiếp với nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp. Bao gồm yếu tố sinh học (máu, dịch cơ thể…), yếu tố hóa học (thuốc, chất khử trùng.) yếu tố vật lý là tiếp xúc với tia X và yếu tố công thái học (đau cơ xương khớp, đau thắt lưng do xoay trở, vận chuyển bệnh nhân [21]. Theo nhóm tác giả Emmanuel A.J(2018), những yếu tố tác hại gây nguy hiểm bao gồm vật lý, hóa học, sinh học, công thái học và rủi ro tâm lý xã hội. Nguy cơ hóa học phổ biến nhất là từ thuốc chống ung thư tiếp xúc qua da hoặc hít phải [30], [30].

Trong một nghiên cứu khác của Julia Amadhila và J Marieta (2017), cho thấy các yếu tố tác hại nghề nghiệp bao gồm vật lý, cơ học, sinh học. Mối nguy hiểm sinh học là chủ yếu vi khuẩn, vi rút, nấm và các bệnh truyền nhiễm gây ra các bệnh như HIV/AIDS, bệnh lao, viêm gan và nhiễm trùng máu khác [24]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Lê Anh Thư cho thấy nguy cơ lây 6 nhiễm của nhân viên y tế (NVYT) bắt nguồn từ các vi sinh vật (VSV) trong bệnh viện (đa dạng, dễ biến đổi) bao gồm các vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng…tồn tại trong cơ thể bệnh nhân, chất thải, phương tiện trung gian (dụng cụ y tế tái sử dụng, bàn tay NVYT), kết hợp với điều kiện đặc thù như quá tải, cường độ làm việc cao, trực đêm, cấp cứu … sẽ gây lây nhiễm nghề nghiệp (LNNN) và bệnh nghề nghiệp (BNN) thông qua các đường máu, hô hấp, tiếp xúc trực tiếp [14]. Các yếu tố tác hại đến sức khỏe nghề nghiệp cho nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng được Roger (2003) phân thành năm loại như sau nhóm yếu tố tác hại sinh học / truyền nhiễm, nhóm yếu tố tác hại hóa chất,cơ học,vật lý, và tâm lý xã hội [49].

Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT Về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải và nhóm tác giả Olufemi Oludare Aluko ( 2016), AnnMarie Walton và Bonnie Rogers (2017), đã phân loại cụ thể các nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp gây hại đến sức khỏe và thực hành nghề nghiệp điều dưỡng [1],[23],[50]. - Nhóm yếu tố tác hại sinh học Là máu, mô hoặc bất kỳ chất lỏng có khả năng truyền nhiễm từ cơ thể người bệnh, chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.Các tác nhân truyền nhiễm có khả năng truyền sang người khác thông qua tiếp xúc với bệnh nhân hoặc dịch cơ thể của họ (ví dụ: vi khuẩn, vi rút, nấm). - Nhóm yếu tố tác hại hóa học: + Bao gồm các loại thuốc có tính độc hại như thuốc được sử dụng trong quá trình hóa trị và phơi nhiễm latex là một trong những mối nguy hiểm nghề nghiệp đối với điều dưỡng [22]. + Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu [1].

Thuốc kháng khuẩn / thuốc kháng sinh, thuốc chống ung thư (ví dụ hóa trị liệu), chất khử trùng/khử trùng, ethylene oxide (chất khử trùng khí), chất tẩy trắng, chất tẩy rửa [45]. Yếu tố tác hại hóa học phổ biến nhất là từ thuốc chống ung thư tiếp xúc qua tiếp xúc 7 hoặc hít phải [30]. + Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị [1]. - Nhóm yếu tố tác hại cơ học: Là những tai nạn, thương tích, căng thẳng có thể gây ra (như không đủ thiết bị hoặc sàn nhà nguy hiểm).

Điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn, tiếp xúc với kim tiêm nhiễm chất dịch cơ thể có nguy cơ cao bị phơi nhiễm và lây nhiễm mầm bệnh [45]. Các chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế [1]. Nguyên nhân xảy ra phơi nhiễm từ các yếu tố tác hại nghề nghiệp điều dưỡng. Các yếu tố gây ra bệnh nghề nghiệp và thương tích trong cơ sở y tế bao gồm sơ suất và bất cẩn của nhân viên y tế, thiếu thiết bị và dụng cụ bảo vệ, số lượng nhân viên không đủ, khối lượng công việc quá mức, không tuân thủ các hướng dẫn an toàn và vệ sinh cơ bản và không đủ kiến thức vận hành thiết bị chăm sóc sức khỏe hiện đại [23].

Nghiên cứu của tác giả Sérgio Valverde Marques cho thấy trong số các nguyên nhân của những tai nạn, rủi ro xảy ra đối với điều dưỡng là thiếu chú ý (28,3%), quá tải công việc (28,3%), kích động của bệnh nhân (26,6%), kiệt sức về thể chất và tinh thần (18,3%) và thiếu thiết bị bảo vệ cá nhân (13,3%) [45]. Về nguyên nhân gây tổn thương cho điều dưỡng, bất cẩn là nguyên nhân phổ biến gây ra tổn thương chiếm 40,2%, do người bệnh giãy dụa là 15,2%. Một nguyên nhân khác là do VSN rơi vãi chiếm 22,3% và VSN lẫn vào thiết bị/dụng cụ khác 11,6% [19]. Các yếu tố khác dẫn đến những thương tích đối với điều dưỡng bao gồm quá tải công việc, không tuân thủ các biện pháp phòng ngừa chuẩn và lỗi của bệnh nhân [40].

Trong nghiên cứu của tác giả Hossein Motaarefi và các cộng sự. (2016), điều dưỡng đã báo cáo ở các khoa của họ bị thiếu nhân lực có nhiều khả năng bị chấn 8 thương hơn so với các khoa có đủ nhân viên. Thiếu đào tạo về các yếu tố rủi ro, lượng bệnh nhân đônglà nguyên nhân gây ra chấn thương, làm việc hơn 40 giờ/tuần, không đủ thời gian và không đeo găng tay khi làm việc với kim tiêm [40]. Hậu quả từ các yếu tố tác hại nghề nghiệp Yếu tố tác hại nghề nghiệp là nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến bệnh nghề nghiệp hoặc chấn thương trong lao động.

Nguy cơ lây nhiễm bệnh nghề nghiệp có nguy cơ rất cao tới 67,6% đối với nhân viên y tế [12]. Nhân viên y tế (NVYT) là những người có liên quan đến bệnh nhân và chất dịch cơ thể của họ, nguy cơ tiếp xúc với nhiễm trùng nghề nghiệp, nguy cơ mắc bệnh, khuyết tật và thậm chí tử vong sau đó. Các bác sĩ, điều dưỡng , kỹ thuật viên phòng thí nghiệm và người xử lý chất thải lâm sàng liên tục có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng máu như virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) / AIDS và viêm gan. Truyền nhiễm nghề nghiệp có thể gây lây nhiễm đường hít, tiêu hóa và bị lây nhiễm qua vết thương do kim tiêm đâm phải [48].

Nhân viên y tế nói chung điều dưỡng nói riêng dễ bị lây nhiễm Virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV), virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan C (HCV), đau lưng và cổ, căng thẳng , dị ứng với vật liệu latex, bỏng do tràn hóa chất, tiếp xúc với phóng xạ, tấn công từ bệnh nhân [23].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ