Giáo trình Điều dưỡng Cơ bản 1 Trung cấp: Lịch sử phát triển ngành Điều dưỡng

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
164
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình điều dưỡng cơ bản 1 trung cấp

Giáo trình điều dưỡng cơ bản 1 trung cấp là tài liệu đào tạo nền tảng dành cho hệ trung cấp điều dưỡng. Nội dung bao gồm lịch sử phát triển ngành điều dưỡng trên thế giới và Việt Nam, từ thời cổ đại đến hiện đại. Ngành điều dưỡng bắt nguồn từ hành động chăm sóc tự nhiên của các bà mẹ. Qua nhiều thế kỷ, nghề này trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng. Từ những nhóm phụ nữ chăm sóc người ốm tại đền miếu, đến việc hình thành các tổ chức tôn giáo chuyên lo việc nuôi dưỡng bệnh nhân. Florence Nightingale được coi là người đặt nền móng cho ngành điều dưỡng hiện đại. Bà đã thành lập trường điều dưỡng đầu tiên năm 1860 tại Anh. Giáo trình cung cấp kiến thức cơ bản về quy trình chăm sóc, kỹ thuật điều dưỡng và đạo đức nghề nghiệp.

1.1. Lịch sử phát triển ngành điều dưỡng trên thế giới

Ngành điều dưỡng thế giới có nguồn gốc từ thời cổ đại. Ban đầu, việc chăm sóc người bệnh gắn liền với tôn giáo và tín ngưỡng. Các pháp sư cầu kinh chữa bệnh, phụ nữ chăm sóc người ốm tại đền miếu. Năm 60, bà Phoebe ở Hy Lạp được tôn vinh là nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên. Thế kỷ IV, bà Phabiola tại La Mã dành nhà riêng đón người nghèo đau ốm về chăm sóc. Đến thế kỷ XVI, do thiếu hụt người chăm sóc, phụ nữ phạm tội được chọn thay thế, tạo quan niệm xấu về nghề. Florence Nightingale đã thay đổi hoàn toàn nhận thức này vào giữa thế kỷ XIX.

1.2. Lịch sử phát triển ngành điều dưỡng ở Việt Nam

Ngành điều dưỡng Việt Nam hình thành và phát triển song hành với nền y học dân tộc. Từ xa xưa, việc chăm sóc người bệnh được thực hiện bởi gia đình và cộng đồng. Thời kỳ kháng chiến, đội ngũ điều dưỡng viên đóng vai trò quan trọng trong việc cứu chữa thương bệnh binh. Hội Điều dưỡng Việt Nam được thành lập với tổ chức ba cấp: Trung ương hội, tỉnh hội và chi hội. Các chính sách phát triển nhân lực điều dưỡng liên tục được ban hành. Từ năm 2002, Bộ Y tế xây dựng hệ thống pháp quy về hành nghề điều dưỡng, nâng cao chất lượng đào tạo và thực hành.

II. Phân tích nội dung và yêu cầu đào tạo chương trình

Chương trình giáo trình điều dưỡng cơ bản 1 trung cấp được xây dựng theo chuẩn năng lực nghề nghiệp. Nội dung bao gồm các module kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu. Sinh viên phải nắm vững lý thuyết về lịch sử ngành, nguyên tắc chăm sóc và quy trình kỹ thuật. Mục tiêu đào tạo hướng đến việc chuẩn hóa năng lực điều dưỡng viên. Chương trình thay đổi từ phân công theo công việc sang phân công chăm sóc toàn diện. Sinh viên cần đạt được các kỹ năng giao tiếp, đánh giá tình trạng sức khỏe và lập kế hoạch chăm sóc. Giáo trình cũng nhấn mạnh vai trò của y đức và văn hóa nghề nghiệp. Thực hành dựa vào bằng chứng là nguyên tắc cốt lõi trong đào tạo hiện đại. Đội ngũ giảng viên phải được đào tạo bài bản để truyền đạt kiến thức hiệu quả.

2.1. Mục tiêu đào tạo và chuẩn năng lực

2.2. Các kỹ năng cốt lõi cần đạt được

III. Phương pháp học tập và thực hành điều dưỡng hiệu quả

Học tập giáo trình điều dưỡng cơ bản 1 trung cấp đòi hỏi phương pháp khoa học và hệ thống. Phương pháp học lý thuyết kết hợp thực hành là chìa khóa thành công. Sinh viên nên bắt đầu bằng việc nắm vững khái niệm cơ bản trước khi tiến đến kỹ thuật phức tạp. Việc đọc hiểu giáo trình cần đi đôi với ghi chép và tóm tắt nội dung chính. Thực hành trên mô hình giả lập giúp xây dựng sự tự tin trước khi tiếp xúc bệnh nhân thật. Học nhóm và thảo luận tình huống lâm sàng tăng cường hiểu biết sâu sắc. Thời gian thực tập tại bệnh viện là cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tế. Điều dưỡng viên cần liên tục cập nhật kiến thức mới qua nghiên cứu và đào tạo liên tục. Kỷ luật học tập và tinh thần trách nhiệm là yếu tố quyết định chất lượng nghề nghiệp.

3.1. Kỹ thuật học lý thuyết và ghi nhớ kiến thức

3.2. Thực hành kỹ năng và ứng dụng lâm sàng

IV. Kết luận và triển vọng phát triển ngành điều dưỡng

Giáo trình điều dưỡng cơ bản 1 trung cấp đóng vai trò nền tảng quan trọng trong đào tạo nhân lực y tế. Nội dung chương trình được xây dựng dựa trên lịch sử phát triển hàng thế kỷ của ngành điều dưỡng. Từ những hành động chăm sóc tự phát đến hệ thống đào tạo chuyên nghiệp, ngành đã có bước tiến vượt bậc. Florence Nightingale đã mở ra kỷ nguyên mới cho nghề điều dưỡng hiện đại. Tại Việt Nam, ngành điều dưỡng đang trên đà phát triển mạnh mẽ với nhiều chính sách hỗ trợ. Chức năng điều dưỡng đã chuyển từ phụ thuộc sang độc lập trong chăm sóc bệnh nhân. Mạng lưới điều dưỡng được tổ chức từ trung ương đến địa phương. Dịch vụ chăm sóc tại nhà và tư nhân hóa mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Tương lai ngành điều dưỡng hứa hẹn nhiều triển vọng với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nhân lực.

4.1. Cơ hội việc làm và phát triển nghề nghiệp

4.2. Hướng nâng cao trình độ và chuyên môn hóa

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN 1 – TRUNG CẤP Bài 1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM MôC TI£U Nêu được sơ lược lịch sử phát triển ngành Điều dưỡng ở Việt Nam và trên thế giới. TRÊN THẾ GIỚI - Điều dưỡng (Nursing) có nghĩa là chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguồn gốc của sự chăm sóc là từ những hành động của bà mẹ đối với con kể từ khi chúng mới lọt lòng cho đến khi trưởng thành. - Từ thời xa xưa do kém hiểu biết, con người tin vào thần linh và thượng đế. Họ cho rằng “Thần linh là đấng thiêng liêng có quyền uy”, “Thượng đế ban sự sống cho muôn loài. Khi có bệnh, họ mời các pháp sư đến cầu kinh để chữa bệnh, khi chết, họ cho rằng đó là tại số, tại thượng đế không cho sống. Từ đó hình thành nên các miếu, đền thờ và hình thành tự phát các trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng người ốm tại đây. Các pháp sư lo cầu kinh chữa bệnh, các nhóm người (phụ nữ) chuyên lo việc chăm sóc bệnh nhân. Từ đó hình thành mối liên kết giữa: Y khoa - Điều dưỡng - Tôn giáo. - Năm 60, bà Phoebe (Hy Lạp) đã chủ động đến từng nhà có người ốm để chăm sóc. Sau này bà được suy tôn là nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên trên thế giới. - Thế kỷ IV, bà Phabiola (La Mã) đã dành căn nhà sang trọng của mình để đón những người nghèo khổ đau ốm về để bà chăm sóc. - Thời kỳ chiến tranh (viễn chinh) ở Châu Âu, có nhiều bệnh viện được thành lập để chăm sóc những người hành hương bị đau ốm, từ đó nghề điều dưỡng đã tự phát hình thành và được nhiều người tôn kính. - Đến thế kỷ XVI, chế độ nhà tù ở Anh bị bãi bỏ, các tổ chức tôn giáo bị giải tán, thiếu hụt trầm trọng người chăm sóc những người ốm. Những người phụ nữ bị phạm tội thay vì đi tù họ đã được lựa chọn là những người chăm sóc người ốm. Do đó những quan niệm xấu về nghề điều dưỡng đã hình thành từ đây. - Giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, bà Floren Nightingale (1820) là phụ nữ Anh. Bà sinh ra và lớn lên trong gia đình giàu có, được học hành, biết ngoại ngữ, song bà có hoài bão và ước mơ được giúp đỡ những người nghèo. Vượt qua mọi trở ngại, phản kháng 1 của gia đình, bà đã học và làm việc tại bệnh viện Kaiser Weth (Đức) năm 1847, Pháp năm 1853. + Trong những năm 1854 - 1855 chiến tranh crime nổ ra, bà được phái sang Thổ Nhĩ Kỳ cùng 38 phụ nữ khác tham gia chăm sóc thương bệnh binh của quân đội Hoàng gia Anh. Tại đây bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh tại các cơ sở Y tế và sau 2 năm thực hiện, bà đã làm giảm tỷ lệ chết do nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2%. Bà đã làm việc cần cù chăm chỉ, đêm đêm cầm ngọn đèn đi tua, chăm sóc thương bệnh binh. Và, bà đã để lại hình tượng đẹp trong lòng các thương binh. Sau này trở về nước vì điều kiện sức khoẻ bà không thể tiếp tục làm việc, nhưng nhân dân và người lính Anh tặng thưởng bà 50. Song Bà Floren đã dùng toàn bộ số tiền trên để thành lập trường điều dưỡng đầu tiên trên thế giới (1860) với chương trình đào tạo 1 năm, đã tạo nền móng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng ở Anh và nhiều nước trên thế giới,. Bà Florence Nightingale (1820-1910) Hội Điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày sinh của bà (12/5) làm ngày điều dưỡng thế giới. Và Ngọn đèn dầu đã trở thành biểu tượng của ngành Điều dưỡng (hình 2). Hình ảnh chiếc đèn cầy Hiện nay, ngành điều dưỡng trên thế giới đã lớn mạnh, được coi trọng như các ngành khoa học khác, có nhiều trình độ và chức danh khác nhau, đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Tượng bà Florence Hình 4. Bảo tàng Florence Nightingale Nightingale tại bảo tàng tại thủ đô Luân Đôn Hội Điều dưỡng Thái Lan Các nước trên thế giới đã hình thành hai lĩnh vực: Lĩnh vực khám chữa bệnh do y, bác sĩ đảm nhiệm và lĩnh vực chăm sóc phục vụ do điều dưỡng viên đảm nhiệm. Mỗi lĩnh vực đều đòi hỏi cán bộ có trình độ ở bậc trung học, đại học, sau đại học. Ở các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc. và một số nước phát triển trong khu vực như: Thái Lan, Hàn Quốc, Malaixia.việc đào tạo điều dưỡng đã đi vào nề nếp và có hệ thống, ổn định về quy mô đào tạo, ổn định về đội ngũ cán bộ giảng dạy đảm bảo đạt chuẩn. Ở Philippin có hơn 100 trường điều dưỡng. Ở Thái Lan có 55 trường điều dưỡng, đối tượng đào tạo từ sơ cấp đến trên đại học: trợ lý điều dưỡng đào tạo 6 tháng (Nuses aide), điều dưỡng đào tạo 1 năm (pratical Nurses), điều dưỡng đào tạo 2 năm (technical Nurses), đại học (Bachelor of Nursing Science) đào tạo 4 năm, Thạc sĩ điều dưỡng khoa học (master of Nursing Science) đào tạo 2 năm và tiến sĩ điều dưỡng khoa học (PhD of Nursing Science) đào tạo 3 năm. Hội đồng quốc gia (Nursing council) cấp chứng chỉ hành nghề (Regitered Nurses). Ví dụ cụ thể tại một bệnh viện thực hành của Trường đại học Điều dưỡng Chiang Mai Thái Lan có 1673 giường bệnh thì có: 1309 có Regitered Nurses có trình độ cử nhân trở lên (gồm 2 TS, 91 ThS, 1216 cử nhân điều dưỡng), 828 điều dưỡng (paractical nurses) và 365 hộ lý (nurses aide), như vậy tổng có 2514 điều dưỡng viên trên tổng số 500 bác sĩ. Trường Sydney và trường Đại học Flinder của Nam Úc đào tạo cử nhân điều dưỡng và thạc sĩ chuyên khoa điều dưỡng về Hồi sức, sức khỏe tâm thần, Nhi. Ở Hà Lan đào tạo 5 trình độ điều dưỡng và đào tạo trên đại học: + Trình độ 4 và 5 (Level 4, 5 - Nurse): đào tạo 4 năm. + Trình độ 3 (Level 3 - Care - worker): đào tạo 3 năm + Trình độ 2 (Level 2 - Care helper): đào tạo 2 năm + Trình độ 1 (Level - Care assistannt): đào tạo 1 năm. 3 Trong các bệnh viện của Hà Lan sử dụng cả 5 loại hình đối tượng đào tạo trên và các điều dưỡng viên có tình độ trên đại học. Ở Anh còn có cả hệ thống điều dưỡng viên làm cố vấn điều dưỡng (consultant) thậm chí được quyền khám bệnh và đơn thuốc…. Số lượng điều dưỡng trên bác sĩ của các nước đạt tỷ lệ cao theo khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO) tỷ lệ này là từ 1:4 đến 1:8 (xem bảng 1) Bảng 1: So sánh tỷ lệ bác sỹ và điều dưỡng của một số nước khác Tên nước Số bác sĩ Số điều dưỡng Tỷ lệ Thái Lan 12,713 153,296 1: 12,0 Thụy Điển 21,700 228,800 1: 10,5 Canada 52,863 333,675 1: 6,3 Malaysia 7,012 32,889 1: 4,7 Hồng Kông 6,544 29,062 1: 4,4 Nhật Bản 203,797 745,291 1: 3,7 Indonesia 33,522 115,428 1: 3,5 II. Ở VIỆT NAM Vào Thời kỳ Pháp thuộc đã xây nhiều bệnh viện, trước năm 1900 ban hành chế độ học việc cho những người muốn làm việc tại các bệnh viện. Việc đào tạo là không chính quy, chỉ là cầm tay chỉ việc, họ là những người giúp việc, thạo kỹ thuật vững tay nghề, phụ giúp cho bác sĩ. - Năm 1901 người Pháp mở lớp Nam y tá đầu tiên tại bệnh viện chợ Quán nơi điều trị bệnh tâm thần và bệnh phong. - Năm 1923 mở trường đào tạo y tá tại bản xứ, chế độ chính sách không coi trọng người bản xứ, coi y tá như là người giúp việc, lương thấp. - Năm 1924 hội y tá ái hữu và nữ Hộ sinh Đông dương thành lập do ông Lâm Quang Thiêm phụ trách. - Ở miền Bắc, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 lớp y tá đầu tiên được mở, với thời gian học 6 tháng, do GS Đỗ Xuân Hợp làm hiệu trưởng, ở quân khu Việt Bắc sau đó đến liên khu III cùng mở lớp đào tạo y tá. - Trong những năm 50, do nhu cầu của cuộc chiến tranh, cục quân y mở lớp đào tạo y tá cấp tốc 3 tháng. Trong giai đoạn này, cơ sở vật chất rất nghèo nàn, thiếu thuốc men, phương tiện thô sơ, lạc hậu. Việc điều trị cho thương bệnh binh chủ yếu dựa vào chăm sóc. - Năm 1954, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình đào tạo y tá sơ cấp. 4 - Năm 1956, có trường điều dưỡng riêng với chương trình đào tạo 3 năm. - Năm 1960, một số bệnh viện và trường trung học y tế trung cấp 2 năm 6 tháng cho đối tượng tốt nghiệp lớp 7 phổ thông, tại Bệnh viện Bạch Mai và các trường trung cấp y tế khác. - Năm 1968, mở lớp đào tạo y tá 12 tháng (sơ cấp). - Năm 1970, Hội điều dưỡng miền Nam Việt Nam thành lập. - Năm 1973, mở lớp đào tạo điều dưỡng công cộng 3 năm. Sau 1975 Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân trong cả nước, nghề điều dưỡng cũng có tiếng nói chung cho cả 2 miền. Về công tác tổ chức, năm 1982, Bộ Y tế ban hành quyết định thành lập phòng điều dưỡng trong các bệnh viện có từ 150 giường bệnh trở lên. - Năm 1992 thành lập phòng điều dưỡng của bộ Y tế nằm trong vụ điều trị. - Tháng 4 - 2002, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng - hộ sinh giai đoạn 2002 - 2010. Về mặt kiện toàn tổ chức năm 2010: + Có: 01 Thạc sỹ Phạm Đức Mục, Phó Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế; 02 Phó Giám đốc bệnh viện Điều dưỡng; 01 Tiến sỹ điều dưỡng. + Đã có chương trình và đào tạo Thạc sỹ Điều dưỡng ở Việt Nam + Mỗi cơ sở y tế có một điều dưỡng trưởng là phó trưởng phòng nghiệp vụ y phụ trách công tác điều dưỡng - hộ sinh. + Bệnh viện trung ương, bệnh viện tỉnh, bệnh viện bộ ngành có phòng điều dưỡng, có một phó giám đốc bệnh viện là điều dưỡng - hộ sinh phụ trách công tác chăm sóc, mỗi khoa có một phó trưởng khoa là điều dưỡng phụ trách công tác chăm sóc. + Trung tâm y tế quận huyện, thành phố trực thuộc tỉnh có phòng điều dưỡng - hộ sinh phụ trách công tác chăm sóc. + Đảm bảo tỷ lệ 1 bác sĩ có 2,5 - 3 điều dưỡng - hộ sinh phụ trách công tác chăm sóc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ