ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư cổ tử cung (CTC) là một trong những bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới chiếm tỷ lệ xấp xỉ 12% các ung thư (UT) ở phụ nữ, có khoảng 371.200 trường hợp mắc mới hàng năm. Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mỗi năm trên thế giới hiện có trên 500.000 ca mắc mới ung thư cổ tử cung, trong đó có khoảng 250.000 ca tử vong. Tại Việt Nam, trung bình mỗi ngày có khoảng 14 ca mắc mới, trong đó khoảng 7 ca tử vong. UT CTC Miền Bắc đứng thứ 5 trong các ung thư của phụ nữ với 9,5 ca mắc trên 100.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh UT CTC tỷ lệ 4,8/100.000 dân mắc UT CTC, số ca tử vong do UT CTC năm 2017 là 222 người bệnh [9], [24]. Bệnh nhân ung thư cổ tử cung phải chịu nhiều hậu quả nặng nề như suy giảm sức khỏe, nguy cơ vô sinh, suy kiệt về tài chính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý và hạnh phúc gia đình. Do tỷ lệ UT CTC hàng năm vẫn gia tăng và tính chất nguy hiểm của bệnh nên UT CTC vẫn không ngừng được nghiên cứu một cách tích cực, chặt chẽ trên mọi phương diện, từ lâm sàng, sàng lọc phát hiện bệnh, sinh học phân tử, miễn dịch nội tiết đặc biệt là phương pháp điều trị [50]. Các nghiên cứu về thực hiện công tác chăm sóc điều dưỡng chưa thực sự được đánh giá nhiều.
Phẫu thuật cắt UT CTC chỉ định điều trị đối với người bệnh ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm và là một chỉ định có hiệu quả, người bệnh sau PT ung thư cổ tử cung được cải thiện chất lượng cuộc sống và thời gian sống trên 5 năm sau mổ cao [20]. Với các giai đoạn sớm khối u có kích thước nhỏ phẫu thuật triệt căn giúp cho phụ nữ trẻ bảo tồn được buồng trứng, tránh các biến chứng của xạ trị gây ra, thời gian nằm viện ngắn, đồng thời có thể xác định được sớm tình trạng di căn hạch chậu để có thể có điều trị thích hợp [16], [33], [20]. Bên cạnh đó, phẫu thuật cắt ung thư CTC cũng có thể là bước đầu trong quá trình hóa xạ trị tiếp theo. Như vậy, quá trình chuẩn bị người bệnh trước mổ và chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh sau phẫu thuật để tiếp tục điều trị và sớm trở lại cuộc sống là điều rất quan trọng, nâng cao hơn ý nghĩa của việc phẫu thuật ung thư cổ tử cung.
Tổ chức y tế thế giới đã khẳng định “Dịch vụ điều dưỡng là một trong những trụ cột của hệ thống chăm sóc y tế”. Vai trò của người điều dưỡng đã chuyển từ người chăm sóc sức khỏe thành người vừa chăm sóc và điều phối. Điều đó bắt buộc người điều dưỡng phải hiểu biết sâu về từng cá nhân con người để giải quyết các vấn đề đã Thang Long University Library 2 và đang có nguy cơ có thể xảy ra [13]. Theo dõi diễn biến sau phẫu thuật của người bệnh gồm theo dõi dấu hiệu sinh tồn sau mổ, theo dõi tình trạng sau mổ như mức độ đau, theo dõi vùng bụng, vết mổ, dẫn lưu sau mổ, sonde tiểu,… Công tác chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh sau mổ giúp người bệnh phục hồi nhanh, phát hiện biến chứng sớm và sớm làm quen với giai đoạn sống sau phẫu thuật.
Chăm sóc người bệnh phẫu thuật ung thư cổ tử cung gồm 3 giai đoạn chính tương ứng với 3 giai đoạn hồi tỉnh, trung gian tại bệnh viện và sau khi ra viện [11]. Với mong muốn hoàn thiện hoạt động chăm sóc tốt nhất cho người bệnh UT CTC trước và sau phẫu thuật ở các giai đoạn, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Kết quả chăm sóc ngƣời bệnh phẫu thuật ung thƣ cổ tử cung tại bệnh viện K năm 2021” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả diễn biến lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh ung thư cổ tử cung phẫu thuật tại khoa ngoại phụ khoa, bệnh viện K năm 2021. Phân tích kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu - sinh lý cổ tử cung Cổ tử cung (CTC) có hình nón cụt, có âm đạo bám vào chia CTC thành 2 phần: Phần trong âm đạo và phần trên âm đạo. Âm đạo bám quanh CTC theo đường chếch xuống và ra trước. Phần dưới nằm trong âm đạo là cổ ngoài.
Phần trên tiếp nối với thân tử cung bằng eo tử cung gọi là cổ trong. CTC được âm đạo bám vào thành túi cùng trước, sau và bên. Phụ nữ chưa sinh có CTC trơn láng, trong đều, mật độ chắc, lỗ ngoài tròn. Sau sinh đẻ, CTC trở nên dẹp mất độ mềm, lỗ ngoài rộng ra và không tròn đều như trước lúc chưa đẻ.
CTC được cấp máu bởi các nhánh của động mạch CTC - Âm đạo sắp xếp theo hình nan hoa. Nhánh động mạch CTC – âm đạo phải và trái ít nối tiếp với nhau nên có đường vào mạch dọc giữa CTC [38], [18], [4]. Giải phẫu cổ tử cung - Mặt ngoài CTC là biểu mô vảy không sừng hóa, thay đổi phụ thuộc vào estrogen theo từng lứa tuổi của phụ nữ: Thời kỳ sinh sản niêm mạc CTC dày, nhiều lớp, giàu glycogen, sau sinh lượng estrogen xuống dần đến cuối tháng thứ nhất với hình ảnh niêm mạc CTC còn lại từ 1 - 2 lớp tế bào mầm và mất glycogen. Tuổi dậy thì lượng estrogen tăng dần làm cho niêm mạc CTC phát triển và gần giống như phụ nữ đang hoạt động sinh dục.
- Cổ ngoài cổ tử cung: Được bao phủ bởi biểu mô vảy, lớp biểu mô này có từ 15 – 20 lớp, đi từ đáy tiến dần lên bề mặt theo thứ tự cao dần về độ trưởng thành. Đối với phụ nữ đang hoạt động tình dục CTC gồm có 5 lớp: - Lớp tế bào đáy: Gồm một hàng tế bào hình trong hay hình bầu dục nằm sát màng đáy, che phủ màng đệm, tế bào nhỏ - nhân to ưa kiềm. Trong nhân có nhiễm sắc thể rất mịn và tiểu nhân rõ. - Lớp tế bào cận đáy: Vài lớp tế bào trong hay đa diện, nhân tương đối to ưa kiềm.
Nhân tròn, bầu dục, hạt nhiễm sắc mịn, tỷ lệ nhân - bào tương gần bằng nhau. - Lớp tế bào trung gian: Được phát triển từ lớp tế bào cận đáy, tế bào dẹt, hình đa giác, bào tương lớn chưa nhiều glycogen, nhân nhỏ tròn ở trung tâm. - Lớp sừng hóa nội của Dierks: Gồm tế bào dẹp, nhân đông, thông thường lớp này mỏng khó nhìn trên tiêu bản. Thang Long University Library 4 - Lớp bề mặt: Gồm nhiều tế bào trưởng thành nhất của lớp biểu mô lát CTC.
Tế bào dẹt, nguyên sinh chất trong suốt nhuộm màu kiềm, có mức độ sừng hóa nhẹ. Khác với tế bào ở các lớp sâu, tế bào bề mặt có nhân đông và nhỏ. - Ống CTC: Được bao phủ bởi lớp tế bào tuyến gồm lớp tế bào hình trụ có nhân to nằm cực dưới tế bào, đỉnh chứa nhiều tuyến nhầy. Bên dưới lớp tế bào trụ thỉnh thoảng có tế bào nhỏ, dẹt ít bào tương gọi là tế bào dự trữ.
- Vùng chuyển tiếp giữa cổ trong và cổ ngoài cổ tử cung: Vùng này có nhiều tế bào khác nhau, thường biểu mô lát nhiều hơn hiểu mô trụ tuyến. [18], [4] Các dây chằng tử cung liên quan - Dây chằng rộng: là một nếp gấp gồm hai lá phúc mạc liên tiếp với phúc mạc ở mặt bàng quang và mặt ruột của TC bám từ hai bên tử cung và vòi trứng tới thành bên chậu hông. Đáy dây chằng rộng có động mạch tử cung và vòi trứng tới thành bên chậu hông. Đáy dây chằng rộng có động mạch tử cung và niệu quản đi qua, chỗ bắt chéo cách CTC 1,5 cm.
- Dây chằng tử cung cùng là một dải mô liên kết và cơ trơn bám từ mặt sau CTC ở gần hai bên rồi tỏa ra sau và lên trên đi hai bên trực tràng dội phúc mạc lên tạo thành nếp trực tràng - tử cung. Nếp này là giới hạn bên của túi cùng trực tràng – tử cung. Sau cùng, dây chằng tử cung – cùng bám vào mặt trước xương cùng. - Dây chằng ngang CTC (dây chằng Mackenrodt) cũng là một dải mô xơ liên kết bám từ bờ bên CTC ngay phần trên vòm âm đạo rồi đi ngang sang hai bên chậu hông ngay dưới đáy dây chằng rộng và trên hoành chậu hông.
Cấu trúc mô học CTC Cổ tử cung và phần trên âm đạo có nguồn gốc từ ống Muller, cấu trúc lớp niêm mạc cổ tử cung gồm 2 loại, che phủ mặt ngoài CTC là biểu mô vảy, che phủ ống CTC là biểu mô trụ. Ranh giới giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy quy định vị trí về mô học của cổ trong và cổ ngoài. Phần lớn các tổn thương CTC đều sinh ra từ mép ranh giới này. Vị trí ranh giới giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy thay đổi theo từng thời kỳ trong suốt cuộc đời người phụ nữ do tác động của nội tiết sinh dục.
5 Biểu mô vảy cổ ngoài CTC thay đổi phụ thuộc vào nồng độ estrogen theo lứa tuổi của người phụ nữ, các lớp biểu mô vảy chứa glycogen khi gặp iod của dung dịch lugol sẽ bắt màu [5] Biểu mô trụ cổ trong CTC bao gồm biểu mô phủ bề mặt cổ trong và các tuyến được tạo bởi các khe sâu của biểu mô bề mặt gấp lại vào dưới mô đệm. Biểu mô tuyến cổ trong CTC bao gồm một hàng tế bào trụ đơn với tế bào nhân tròn, bầu dục và bao tương chứa Mucin. Bên cạnh các tế bào chế nhầy là các tế bào trụ có lông cực nhọn. Xen kẽ và ở dưới hai loại tế bào trên là tế bào dự trữ, kích thước nhỏ, bào tương khó xác định ít biệt hóa, chúng có thể tái tạo biểu mô CTC và thể dị sản trong một số điều kiện nhất định là nguồn gốc phát sinh loạn sản.
Vùng chuyển tiếp được giới hạn bởi chỗ gặp nhau của tế bào nguồn gốc vẩy – trụ, ranh giới ngoại vi giữa biểu mô vảy dị sản và biểu mô tuyến cổ trong CTC có thể thay đổi: lúc bắt đầu tuổi dậy thì hoặc lúc mang thai CTC tăng lên về thể tích và biểu mô tuyến được lộn ra ngoài, sau khi mãn kinh với sự thu nhỏ kích thước của CTC biểu mô tuyến tụt vào trong ống CTC [30], [3] 1. Dịch tễ học và nguyên nhân ung thƣ cổ tử cung 1.