CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm An toàn người bệnh (Patient safety) Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): “An toàn người bệnh (ATNB) là sự phòng ngừa các nguy hại cho NB trong quá trình chăm sóc y tế (CSYT) và giảm các nguy cơ tổn hại không cần thiết liên quan đến CSYT ở mức tổi thiểu chấp nhận được” [21, 88]. Theo Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ): “ATNB là việc ngăn ngừa các sai sót và sự cố, có liên quan đến CSYT, xảy ra cho NB” [54]. An toàn người bệnh là một chương trình có sự khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc, bởi vì nguy cơ của các sự cố y khoa (SCYK) luôn thường trực và có thể xảy ra bất cứ khi nào. Các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế phải triển khai chương trình quản lý ATNB càng sớm càng tốt và luôn duy trì, cải tiến liên tục [26].
Văn hóa an toàn (safety culture) Văn hóa an toàn (VHAT) là một phần của văn hóa tổng thể của một tổ chức. Trong nhiều thập niên qua, VHAT được coi là không thể thiếu để đảm bảo an toàn trong các tổ chức có rủi ro cao. Khái niệm VHAT không phải là duy nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà đã được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp dầu khí và năng lượng, ngành giao thông vận tải, hàng không, quân sự và trong số những ngành khác [25]. Kinh nghiệm từ ngành hàng không cho thấy rằng việc đánh giá và hiểu thái độ, niềm tin, nhận thức của công nhân hướng tới tinh thần đồng đội và văn hóa an toàn là chiến lược mạnh mẽ để xác định và sau đó cải thiện sự an toàn trong môi trường đó [30].
Có nhiều định nghĩa về văn hóa an toàn đã được công bố, một trong những định nghĩa thường được sử dụng phổ biến nhất đến từ AHRQ đó là “Văn hóa an toàn của một tổ chức là thái độ, nhận thức, năng lực, hành vi của từng người và một nhóm người, qua đó cho biết mức độ của sự cam kết, phong cách và trình độ quản lý an toàn của một tổ chức. Một tổ chức có VHAT tích cực đặc trưng bởi truyền thông của tổ chức đó được thiết lập dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, sự chia sẻ về 5 nhận thức tầm quan trọng của an toàn, và niềm tin về hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa. VHAT đòi hỏi sự hiểu biết về những giá trị, niềm tin và những qui tắc qui phạm về những điều quan trọng trong một số tổ chức và những thái độ, hành vi nào liên quan đến ATNB được khuyến khích, mong đợi và tưởng thưởng”. Sự cố y khoa (Adverse event) Theo Thông tư 43/2018/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc “Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”, sự cố y khoa được định nghĩa “ là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sức khỏe, tính mạng của người bệnh” [12].
Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố (near-miss) là tình huống đã xảy ra nhưng chưa gây hậu quả hoặc gần như xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây tổn thương đến sức khỏe của người bệnh.[12] Nguyên nhân gốc là nguyên nhân ban đầu có mối quan hệ nhân quả trực tiếp dẫn đến việc xảy ra sự cố y khoa, nguyên nhân gốc có thể khắc phục được để phòng ngừa sự cố y khoa.2 Văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện Một tổ chức được xem là có VHAT khi mỗi thành viên của tổ chức đó dù ở cương vị nào đều phải thể hiện vai trò chủ động trong phòng ngừa sai sót và vai trò của cá nhân được sự hỗ trợ của tổ chức [18]. 6 VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA BỆNH VIỆN Tổ chức và quản lý Nhóm nhân viên y tế Mỗi nhân viên y tế Môi trường làm việc/ trang thiết bị AN TOÀN NGƯỜI BỆNH Hình 1.1: Nền tảng của văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện [78] Các yếu tố cấu thành một VHATNB tại các cơ sở y tế bao gồm [18, 82]: Lãnh đạo bệnh viện xem ATNB là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động tại bệnh viện; các hoạt động trong bệnh viện được tổ chức làm việc theo đội hoặc nhóm một cách có hiệu quả; thực hành chăm sóc và điều trị người bệnh dựa trên y học chứng cớ và tuân theo phác đồ điều trị; mọi người đều có quyền nói và chỉ ra những nguy cơ, sai sót trong khoa, được tham gia sáng kiến cải tiến về ATNB và góp ý nâng cao chất lượng điều trị; bệnh viện tổ chức hiệu quả các cách thức học hỏi và rút kinh nghiệm từ các sai sót, cũng như cải tiến để khắc phục sai sót; đảm bảo công bằng, xem xét lỗi hệ thống trước khi kết luận lỗi cá nhân; đặc biệt từ cấp lãnh đạo đến cấp quản lý và nhân viên luôn lấy người bệnh làm trung tâm trong mọi hoạt động tại bệnh viện. Xây dựng VHATNB là hoạt động quan trọng sẽ làm thay đổi theo chiều hướng tích cực những suy nghĩ, thái độ, hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến ATNB [13]. Văn hóa an toàn tích cực là một thành phần thiết yếu của hệ thống an toàn người bệnh thành công và là điểm khởi đầu quan trọng cho các bệnh viện phấn đấu trở thành tổ chức học tập.
Trong một nền tảng VHAT tốt, bệnh viện có cam kết không ngừng về an toàn và không gây tổn hại. Trong số các trách nhiệm 7 quan trọng nhất của lãnh đạo bệnh viện là thành lập và duy trì VHAT tích cực trong bệnh viện của họ [41]. Những lợi ích và mục tiêu tiềm năng của việc cải thiện VHAT có thể giúp cho việc giám sát, hỗ trợ và tham gia để ra quyết định chăm sóc lâm sàng, hợp tác tôn trọng giữa các NVYT, các quy trình cho việc tiếp nhận tư vấn kịp thời và bàn giao người bệnh. Trong trường hợp có xảy ra các sự cố y khoa không mong muốn, bác sĩ lâm sàng sẽ có khả năng báo cáo sự việc mà không sợ đổ lỗi và mong đợi phản hồi mang tính xây dựng, và bài học đó sẽ giúp các hành động được thực hiện để giảm lặp lại sự cố.
Cuối cùng, thực hiện những thay đổi này cũng có thể cải thiện ATNB [30]. Văn hóa an toàn hoạt động hiệu quả khi bệnh viện thúc đẩy tạo ra chu kỳ niềm tin, báo cáo và cải thiện. Ở các bệnh viện có VHAT tốt, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tin tưởng đồng nghiệp và lãnh đạo của họ hỗ trợ họ khi họ xác định và báo cáo sự cố ATNB. Khi niềm tin được thiết lập, nhân viên có nhiều khả năng báo cáo các sự kiện liên quan đến ATNB và bệnh viện có thể sử dụng các báo cáo này để thông báo cho những nỗ lực cải tiến của họ.
Trong chu trình cải thiện niềm tin-báo cáo, các nhà lãnh đạo thúc đẩy niềm tin, cho phép nhân viên báo cáo, trong đó cho phép bệnh viện cải thiện. Nhân viên thấy rằng báo cáo của họ góp phần vào cải thiện thực tế, mà củng cố niềm tin của họ. Do đó, chu trình tin cậy-báo cáo-cải thiện củng cố chính nó [41, 77].2: Vòng tròn niềm tin - báo cáo- cải thiện 8 Văn hóa công bằng và an toàn là cần thiết để nhân viên tin tưởng rằng họ có thể báo cáo các sự cố liên quan ATNB mà không bị trừng phạt. Để thực hiện điều này, các bệnh viện nên cung cấp và khuyến khích sử dụng quy trình báo cáo được chuẩn hóa để nhân viên báo cáo sự cố y khoa.
Các nhà lãnh đạo cần khuyến khích sử dụng hệ thống báo cáo không buộc tội về quá trình sai sót. Báo cáo cho phép chủ động phòng ngừa rủi ro và giải quyết các vấn đề trước khi người bệnh bị tổn hại để giảm nguy cơ tái diễn của các vấn đề đã gây hại cho người bệnh. Một nền văn hóa công bằng có tính đến việc các cá nhân là con người, dễ sai lầm và có khả năng mắc lỗi, đồng thời hoạt động trong các hệ thống thường bị lỗi. Một nền văn hóa công bằng khiến các cá nhân phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình nhưng không trừng phạt các cá nhân đối với các vấn đề được quy cho các hệ thống hoặc quy trình thiếu sót [41].
Văn hóa an toàn tốt được chứng minh bằng hệ thống báo cáo SCYK hiệu quả và sử dụng các biện pháp đo lường để cải thiện. Khi các bệnh viện áp dụng một cách tiếp cận minh bạch, không trừng phạt đối với báo cáo về các sự cố liên quan đến ATNB hoặc các mối quan tâm khác, bệnh viện bắt đầu báo cáo tìm hiểu và học hỏi từ các sự kiện bất lợi, các điều kiện nguy hiểm [41].3 Sự cố y khoa và an toàn người bệnh Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng hàng chục triệu người bệnh trên toàn thế giới gánh chịu những tổn thương hoặc tử vong không mong muốn do SCYK. Số liệu mới nhất cho thấy sự tổn hại người bệnh đứng hàng thứ 14 nguyên nhân gây tử vong và thương tật trên toàn thế giới. Hàng năm chi phí ước tính cho các sai sót y khoa là 42 tỷ USD.
Ở các nước có thu nhập cao, cứ 10 người thì có 01 người bị tổn hại trong khi nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Sự tổn hại gây ra bởi các loại SCYK, với gần 50% sự cố có thể phòng ngừa được. Tỷ lệ SCYK xảy ra ở các nước đang phát triển là 8%, trong đó có 83% sự cố là có thể phòng ngừa được và 30% trong số đó dẫn đến tử vong. Phơi nhiễm với tia phóng xạ là một vấn đề quan tâm của sức khỏe cộng đồng và an toàn người bệnh; nhiễm khuẩn bệnh viện ảnh hưởng tới 10% số người bệnh nhập viện; và chẩn đoán chậm và không chính 9 xác là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tổn hại cho người bệnh và ảnh hưởng tới hàng triệu người bệnh.
Đầu tư cho an toàn người bệnh mang lại lợi ích tài chính đáng kể. [21] Bộ Y tế Việt Nam cũng đã nhận thấy tầm quan trọng trong công tác đảm bảo ATNB và tập trung chỉ đạo quyết liệt trong suốt 10 năm qua như: BYT đã tham mưu cho Quốc hội ban hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.