Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng chống nhiễm sán lá gan nhỏ tại Nam Định

Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng chống sán lá gan nhỏ. Phân tích các biện pháp, kết quả thực hiện và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

195
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhiễm sán lá gan nhỏ tại Việt Nam

Sán lá gan nhỏ là một trong những bệnh ký sinh trùng phổ biến tại nhiều vùng nông thôn Việt Nam. Bệnh do hai loài chính gây ra: Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini. Nhiễm sán lá gan nhỏ xảy ra khi người dân ăn cá nước ngọt chưa nấu chín kỹ chứa ấu trùng sán. Thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là một trong những địa phương có tỷ lệ nhiễm cao do tập quán ăn gỏi cá truyền thống. Nghiên cứu được tiến hành trong giai đoạn 2009-2012 nhằm đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong việc phòng chống nhiễm sán lá gan nhỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ tăng dần theo độ tuổi, cao nhất ở nhóm người trên 40 tuổi. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm thói quen ăn cá sống, thiếu kiến thức về phòng bệnh và điều kiện vệ sinh môi trường chưa đảm bảo.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh sán lá gan nhỏ

Bệnh sán lá gan nhỏ phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung Việt Nam. Tỷ lệ nhiễm bệnh khác nhau giữa các vùng địa lý, phụ thuộc vào tập quán ăn uống và điều kiện kinh tế xã hội. Tại Nam Định, nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ nhiễm từ 25-45% ở một số xã. Nhóm tuổi trung niên và cao tuổi có tỷ lệ nhiễm cao hơn nhóm trẻ. Nam giới thường nhiễm nhiều hơn nữ giới do có thói quen ăn gỏi cá thường xuyên hơn. Các yếu tố nguy cơ bao gồm nghề nghiệp nông nghiệp, thu nhập thấp và trình độ học vấn hạn chế.

1.2. Tác hại và biến chứng của nhiễm sán lá gan nhỏ

Nhiễm sán lá gan nhỏ kéo dài có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng cho sức khỏe. Sán trưởng thành ký sinh trong đường mật, gây viêm đường mật mạn tính và xơ hóa gan. Các biến chứng lâu dài bao gồm sỏi mật, áp xe gan và ung thư đường mật. Tại các vùng lưu hành cao, ung thư đường mật do sán lá gan nhỏ là nguyên nhân gây tử vong đáng kể. Bệnh ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và năng suất lao động của người dân. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là yếu tố quan trọng để giảm thiểu biến chứng.

II. Phân tích thực trạng nhiễm sán lá gan nhỏ tại Rạng Đông

Thị trấn Rạng Đông thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của sán lá gan nhỏ. Địa phương có nhiều ao hồ nuôi cá nước ngọt, nguồn thức ăn chính cho gia súc và con người. Tập quán ăn gỏi cá, cá ủ chua và các món ăn từ cá sống đã tồn tại lâu đời trong cộng đồng. Nghi cứu ban đầu ghi nhận tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ ở mức cao, đặc biệt ở nhóm người từ 30 tuổi trở lên. Chỉ số EPG (số trứng trung bình trong một gam phân) cho thấy mức độ nhiễm nặng ở một số đối tượng. Các nhóm tuổi dưới 20 có tỷ lệ nhiễm thấp hơn do ít tham gia ăn gỏi cá. Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi, phản ánh thời gian tích lũy ký sinh trùng trong cơ thể. Điều kiện vệ sinh môi trường và hệ thống xử lý chất thải còn nhiều hạn chế cũng là yếu tố thuận lợi cho bệnh lưu hành.

2.1. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ theo nhóm tuổi và giới tính

Kết quả nghiên cứu tại Rạng Đông cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ nhiễm theo nhóm tuổi và giới tính. Nhóm tuổi dưới 20 có tỷ lệ nhiễm thấp, khoảng 0-5%. Nhóm tuổi từ 20-39 tăng lên khoảng 10-25%. Nhóm tuổi từ 40-59 có tỷ lệ nhiễm cao nhất, đạt 30-45%. Nhóm trên 60 tuổi tỷ lệ nhiễm giảm nhẹ do một số người đã được điều trị. Nam giới có tỷ lệ nhiễm cao hơn nữ giới khoảng 1,5-2 lần. Sự khác biệt này phản ánh tập quán ăn uống và mức độ tiếp xúc với nguồn lây nhiễm.

2.2. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến nhiễm sán lá gan nhỏ

Nghiên cứu xác định một số yếu tố nguy cơ chính liên quan đến nhiễm sán lá gan nhỏ tại Rạng Đông. Yếu tố quan trọng nhất là thói quen ăn gỏi cá nước ngọt chưa nấu chín. Thiếu kiến thức về vòng đời ký sinh trùng và cách phòng bệnh cũng là yếu tố nguy cơ đáng kể. Điều kiện vệ sinh nguồn nước và hệ thống nhà tiêu không đảm bảo góp phần làm tăng nguy cơ lây nhiễm. Thu nhập thấp và trình độ học vấn hạn chế thường đi kèm với tập quán ăn uống không an toàn. Các hộ gia đình nuôi cá ao có tỷ lệ nhiễm cao hơn do tiếp xúc thường xuyên với nguồn nước ô nhiễm.

III. Giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống nhiễm sán lá gan nhỏ

Can thiệp cộng đồng là chiến lược hiệu quả để giảm tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ tại các vùng lưu hành. Nghiên cứu tại Rạng Đông triển khai chương trình can thiệp đa chiều bao gồm truyền thông giáo dục sức khỏe, điều trị bằng praziquantel và cải thiện vệ sinh môi trường. Hoạt động truyền thông tập trung vào nâng cao kiến thức về vòng đời sán lá gan nhỏ, cách phòng bệnh và tác hại của việc ăn cá sống. Điều trị hàng loạt bằng praziquantel được thực hiện cho người nhiễm nhằm giảm nguồn lây nhiễm trong cộng đồng. Cải thiện hệ thống nhà tiêu, xử lý phân trước khi thải ra môi trường được đẩy mạnh. Các cộng tác viên y tế thôn bản đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai và giám sát hoạt động can thiệp. Kết quả đánh giá sau can thiệp cho thấy tỷ lệ nhiễm giảm đáng kể, chứng minh hiệu quả của phương pháp can thiệp cộng đồng toàn diện.

3.1. Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng chống sán lá gan nhỏ

Truyền thông giáo dục sức khỏe là thành phần cốt lõi của chương trình can thiệp. Các hình thức truyền thông đa dạng bao gồm phát tờ rơi, áp phích, loa phát thanh và họp nhóm. Nội dung truyền thông tập trung giải thích vòng đời sán lá gan nhỏ, cách lây nhiễm và biện pháp phòng bệnh. Hướng dẫn cách nấu cá an toàn, không ăn gỏi cá hoặc cá chưa chín kỹ. Các buổi tập huấn được tổ chức cho cộng tác viên y tế thôn bản để họ có kiến thức truyền đạt cho người dân. Truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình có hiệu quả cao trong việc thay đổi hành vi.

3.2. Điều trị bằng praziquantel và cải thiện vệ sinh môi trường

Điều trị bằng praziquantel là biện pháp y tế quan trọng trong chương trình can thiệp. Praziquantel có hiệu quả cao trong việc tiêu diệt sán trưởng thành trong đường mật. Liều lượng điều trị được tính toán theo cân nặng, thường là 40mg/kg chia 2 lần trong ngày. Sau điều trị, xét nghiệm phân được thực hiện để đánh giá hiệu quả. Song song với điều trị, cải thiện vệ sinh môi trường được triển khai. Các hộ gia đình được hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh. Hệ thống xử lý chất thải được cải thiện để cắt đứt vòng lây nhiễm từ phân người sang môi trường nước.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu can thiệp cộng đồng

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng chống nhiễm sán lá gan nhỏ tại thị trấn Rạng Đông đã đạt được kết quả tích cực. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ giảm đáng kể sau khi triển khai chương trình can thiệp toàn diện. Kiến thức và hành vi của người dân về phòng chống bệnh được cải thiện rõ rệt. Số người từ bỏ thói quen ăn gỏi cá tăng lên, tỷ lệ người dân nấu cá chín kỹ trước khi ăn tăng cao. Tỷ lệ điều trị thành công đạt trên 80% ở những người được điều trị bằng praziquantel. Kết quả nghiên cứu chứng minh can thiệp cộng đồng đa chiều là phương pháp hiệu quả để kiểm soát bệnh sán lá gan nhỏ. Mô hình này có thể áp dụng tại các địa phương khác có điều kiện tương tự. Cần tiếp tục duy trì và nhân rộng các hoạt động can thiệp để giảm thiểu gánh nặng bệnh tật do sán lá gan nhỏ gây ra.

4.1. Hiệu quả của chương trình can thiệp cộng đồng tại Rạng Đông

Kết quả đánh giá sau can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về nhiều mặt. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ giảm từ mức ban đầu xuống còn khoảng 1/3 sau 3 năm can thiệp. Kiến thức của người dân về bệnh sán lá gan nhỏ tăng từ 30% lên hơn 70%. Tỷ lệ người dân ăn gỏi cá giảm mạnh, thay vào đó là thói quen nấu cá chín kỹ. Chỉ số EPG trung bình giảm rõ rệt, cho thấy mức độ nhiễm nặng đã được kiểm soát. Các yếu tố vệ sinh môi trường cũng được cải thiện đáng kể.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra cho công tác phòng chống sán lá gan nhỏ. Cần duy trì hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe thường xuyên để củng cố hành vi phòng bệnh. Đẩy mạnh giám sát định kỳ tỷ lệ nhiễm để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Nghiên cứu thêm về hiệu quả của các biện pháp can thiệp dài hạn và tính bền vững của chương trình. Mở rộng mô hình can thiệp cộng đồng sang các xã lân cận có điều kiện tương tự. Cần có chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để duy trì chương trình lâu dài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng chống nhiễm sán lá gan nhỏ của người dân tại thị trấn rạng đông huyện nghĩa hưng tỉnh nam định năm

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sán lá gan nhỏ (SLGN) do Clonorchis sinensis (C.sinensis), là một bệnh ký sinh trùng truyền qua thực phẩm và là một trong những bệnh lây truyền từ động vật sang người phổ biến nhất. Trên thế giới, ước tính có hơn 200 triệu người có nguy cơ nhiễm C.sinensis, trên 15 triệu người đã bị nhiễm C.sinensis và 1,5-2 triệu người có biểu hiện triệu chứng hoặc biến chứng do nhiễm SLGN gây ra [96, 118, 92]. Bệnh SLGN hiện mắc chủ yếu ở các nước Châu Á và các khu vực như Triều Tiên, Trung Quốc, phía bắc Việt Nam, vùng phía đông nước Nga [110,120,121]. Ngoài ra, người di cư hay khách du lịch đến từ các vùng dịch tễ SLGN sẽ làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh đến các nước khác [120].

Người và động vật bị nhiễm C. sinensis do ăn phải cá sống hoặc nấu chưa chín có chứa ấu trùng SLGN [96]. sinensiscó mối liên quan chặt chẽ với ung thư biểu mô đường mật trong gan (Cholangiocarcinoma), xơ gan và các bệnh về gan mật khác[148, 126,129]. Ước tính có khoảng 5000 trường hợp ung thư biểu mô đường mật trong gan do nhiễm C.

sinensis có thể xẩy ra hàng năm trong thập niên tới tại khu vực Đông Nam Á [118]. sinensis được xếp vào nhóm I tác nhân sinh học gây ung thư bởi Cơ quan nghiên cứu về ung thư quốc tế (IARC) thuộc Tổ chức Y tế thế giới(WHO) [75]. Do vậy, nhiễm SLGN là một vấn đề y tế cộng cộng nghiêm trọng đáng quan tâm trong các vùng dịch tễ bệnh SLGN. Các triệu chứng lâm sàng của người nhiễm SLGN được phát hiện tại cộng đồng thường không rõ đối với những người có cường độ nhiễm SLGN thấp, chủ yếu là triệu chứng rối loạn tiêu hoá [35].

Phương pháp xét nghiệm phân tìm trứng SLGN là đáng tin cậy để chẩn đoán nhiễm SLGN [94]. Tuy nhiên, trứng của C. Sinensis dễ dàng bị nhầm lẫn với trứng của sán khác như Opisthorchiidae, Lecithodendriidae hoặc Heterophyidae) [1, 96]. Do vậy, phương pháp xác định loài bằng sinh học phân tử là cần thiết giúp cho việc sử dụng đúng thuốc điều trị và triển khai các hoạt động can thiệp phòng, chống SLGN có hiệu quả trong cộng đồng.

Ở Việt Nam, hiện có trên 7 triệu người có nguy cơ cao nhiễm SLGN trong đó khoảng 1 triệu người nhiễm SLGN [30]. Bệnh SLGN là bệnh lưu hành địa phương có liên quan đến thói quen ăn gỏi cá và được phân bố ở ít nhất tại 32 tỉnh, thành 2 phốtrong cả nước, trong đó tỉ lệ bệnh SLGN lưu hành cao ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Phú Yên, Bình Định [7, 24, 61]. Truyền thông, giáo dục sức khỏe (TTGDSK) phòng, chống các bệnh xã hội, bệnh lưu hành địa phươnglà một trong những biện pháp được WHO khuyến cáo và đã mang lại hiệu quả như chương trình phòng, chống bệnh sốt rét, sốt xuất huyết Dengue, chương trình phòng,chống bệnh tiêu chảy trẻ em. Việc sử dụng thuốc điều trị SLGN bằng praziquantel là bước tiến quan trọng trong phòng, chống bệnh SLGN ở Việt Nam [4,62].

Các hoạt động phòng, chống SLGN ở Việt Nam đã triển khai ở một số địa phương bằng điều trị praziquantel cho những người nhiễm SLGN, biện pháp này, tuy có làm giảm tỉ lệ nhiễm SLGN nhưng đến nay nhiễm SLGN vẫn còn là vấn đề sức khỏe của cộng đồng ở những địa phương có tập quán ăn gỏi cá do nhiều nguyên nhân trong đó có nhận thức và thực hành phòng, chống SLGN của người dân trong cộng đồng còn thấp [16], nguồn nhân lực và vật lực cho phòng, chống SLGN nhiều nơi chưa được đầu tư như ở thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Do vậy, làm thế nào để phòng, chống SLGN có hiệu quả trong khi nguồn nhân lực và vật lực cho triển khai các hoạt động phòng, chống SLGN chưa có, đây là câu hỏi cần được giải quyết. Để trả lời cho câu hỏi trên, trong nghiên cứu này chúng tôi đã triển khai mô hình các hoạt động can thiệp cộng đồng phòng, chống SLGN bằng TTGDSK thông qua việc lồng ghép nội dung phòng, chống SLGN vào chương trình an toàn thực phẩm và lồng ghép vào hoạt động của các tổ chức đoàn thể trên địa bàn nhằm xã hội hoá công tác phòng, chống SLGN, tăng cường vai trò chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong việc phối hợp cùng với ngành y tế truyền thông nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành phòng, chống SLGN nhằm giảm tỉ lệ nhiễm SLGN trong cộng đồng, góp phần giảm tải cho y tế tuyến trên trong việc điều trị các bệnh lý do nhiễm SLGN gây ra. Thị trấn Rạng Đông là một thị trấn ven biển thuộc huyện Nghĩa Hưng nằm trong vùng lưu hành bệnh SLGN của tỉnh Nam Định [46, 47] có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi cho việc lưu hành bệnh SLGN, người dân địa phương có tập quán ăn gỏi cá, điều kiện sinh hoạt, canh tác còn lạc hậu và hiện tại chưa có nghiên 3 cứu can thiệp nào về phòng, chống SLGN cho người dân địa phương.

Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng, chống nhiễm sán lá gan nhỏ của người dân tại thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định năm 2009 - 2012”nhằm tìm ra giải pháp can thiệp phòng, chống SLGN có hiệu quả cho cộng đồng. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỉ lệ nhiễm và loài sán lá gan nhỏ ở người và ở cá nước ngọt nuôi tại thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống nhiễm sán lá gan nhỏ và một số yếu tố liên quan đến nhiễm sán lá gan nhỏ của người dân tại thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng, chống nhiễm sán lá gan nhỏ ở người dân tại thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2009-2012. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử bệnh sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis (C.sinensis) được Mc.Conell tìm ra đầu tiên năm 1875, trên tử thi người Trung Quốc ở Calcutta, Ấn Độ [5]. Năm 1907 và năm 1912, Loss và Kobayashi dựa vào hình thái học của loài sán này, thống nhất lấy tên là Clonorchis sinensis.

Năm 1910, Kobayashi đã xác định được vật chủ trung gian thứ hai của C.sinensis là họ cá chép Cyprinidae và năm 1918 Muto xác định được vật chủ trung gian thứ nhất là ốc nước ngọt, những khám phá này đã làm sáng tỏ vòng đời của C. Năm 1927 Faust và Khaw đã nghiên cứu sinh thái và dịch tễ học của C.sinensis ở Trung Quốc. Từ đó nhiều nhà khoa học nghiên cứu dịch tễ, bệnh học, chẩn đoán, điều trị và phân bố càng ngày càng sâu và rộng về SLGN [29, 61]. Tại Việt Nam, C.sinensis ở người được Grall phát hiện và thông báo năm 1887.

Theo nghiên cứu của Rim năm 1982, bệnh SLGN lưu hành cao ở vùng đồng bằng Bắc bộ như các tỉnh, thành phố gồm Hải Phòng, Hà Nội có nơi tỉ lệ nhiễm tới 70% [5, 79]. Theo điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, từ năm 1976 đến năm 2012, ít nhất có 32 tỉnh, thành phố có bệnh SLGN lưu hành với tỉ lệ rất khác nhau, có nơi tỉ lệ nhiễm trên 30% như các tỉnh Nam Định, Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội), Thanh Hoá, Phú Yên, Bình Định và lưu hành trên toàn tỉnh như ở Hoà Bình [36, 11, 29, 61]. Đặc điểm phân bố SLGN ở Việt Nam có tính khu vực: các tỉnh miền Bắc nhiễm chủ yếu là C.sinensis, các tỉnh miền trung Tây Nguyên, Nam bộ nhiễm Opisthorchis viverrini (O. Đặc điểm ký sinh trùng học của sán lá gan nhỏ 1.

Hình thể sán lá gan nhỏ Sán lá gan nhỏ C. sinensis có hình lá, thân dẹt, màu đỏ nhạt, phần đầu hình ăng ten, phần cuối có hình tròn dài 10-20 mm, rộng 2-4 mm với lớp kitin phẳng. Tuy nhiên, kích thước SLGN thay đổi theo lứa tuổi, theo loài của vật chủ, theo số lượng của ký sinh trùng trong vật chủ và theo vị trí ký sinh của nó trong những ống mật lớn hay nhỏ. Ống tiêu hoá chạy dọc hai bên thân và là ống tắc, không nối thông với nhau.

SLGN 6 không có hậu môn vì dinh dưỡng của sán chủ yếu là hình thức thẩm thấu các chất dinh dưỡng qua bề mặt của sán. Vì vậy, trên thân sán có rất nhiều tuyến dinh dưỡng. Sán trưởng thành sống trong đường dẫn mật của người và những động vật ăn cá [72]. Trứng của SLGN màu vàng sáng, kích thước 27 - 35m x 12-19m.

Hình dạng giống hạt vừng, vỏ có các mảnh bám nhỏ, có nắp ở cực nhỏ, giữa nắp và phần còn lại của trứng có “vai” rất rõ, có mấu nhọn ở cực lớn [6]. Trứng của SLGN rất giống nhau giữa các loài và đặc biệt khá giống với trứng sán lá ruột nhỏ họ Heterophyidae cả về hình dạng và kích thước [29, 115]. Chu kỳ phát triển của sán lá gan nhỏ Sán lá gan nhỏ trưởng thành ký sinh trong các ống dẫn mật nhỏ trong gan. Tại đây sán đẻ trứng, trứng theo đường dẫn mật xuống ruột rồi theo phân ra ngoài cơ thể, chỉ khi ở trong môi trường nước thì phôi bên trong trứng mới phát triển thành ấu trùng lông (Miracidia) [104, 135].

Trứng có chứa phôi này sẽ được các loài ốc thích hợp ăn vào khi đó ấu trùng lông mới tiếp tục phát triển các giai đoạn tiếp theo trong cơ thể ốc [72]. Có hơn 100 loài ốc là vật chủ thích hợp của ấu trùng SLGN bao gồm những ốc thuộc giống Bythinia, Melania v. Khi vào ốc, ấu trùng lông sẽ sống ở vùng ruột và gan, tuỵ, sau 21-30 ngày chúng sẽ trải qua các giai đoạn phát triển Sporocyst, Rediae và cuối cùng sẽ trở thành những ấu trùng đuôi (Cercaria), ấu trùng đuôi thoát ra khỏi ốc và bơi tự do trong nước một thời gian ngắn, sau đó sẽ chui vào trong cơ, thịt, dưới lớp vảy của các loài cá nước ngọt để tiếp tục chu trình phát triển của mình [72]. Nếu người ăn phải cá có chứa ấu trùng nang chưa nấu chín, khi đến tá tràng ấu trùng thoát ra khỏi nang và di chuyển hướng về đường mật [78], sau 15 giờ ấu trùng sẽ di chuyển tới ống mật và tại đây sau khoảng 26 ngày sẽ phát triển thành sán trưởng thành có khả năng gây bệnh cho người [72].

Chu kỳ phát triển của sán lá gan nhỏ (nguồn CDC) 1. Xác định thành phần loài sán lá gan nhỏ 1. Xác định loài sán lá gan nhỏ bằng hình thái học Hình thái học là phương pháp sử dụng rộng rãi trong giám định và phân loại ký sinh trùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ