Chương 1 đã được trình bày ở trên, Chương 2 sẽ giới thiệu các nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, cụ thể là sở hữu nhà nước, sở hữu của cổ đông chiến lược nước ngoài và hiệu quả của ngân hàng; thiết lập mô hình kinh tế lượng. Chương 3 tác giả mô tả các biến trong mô hình. Chương 4 gồm 2 phần: (i) kết quả ước lượng và kiểm định các giả thiết về đa cộng tuyến, phương sai thay đổi; (ii) phân tích kết quả và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Cuối cùng, Chương 5 tác giả tóm tắt các kết luận chính của nghiên cứu và đưa ra các gợi ý chính sách nhằm hướng các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn.
5 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG 2.1 Cơ sở lý thuyết về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Trên thế giới có nhiều quan điểm lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm khác nhau về cấu trúc sở hữu cũng như tương quan giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Theo Gursoy và Aydogan (2002), trích trong Kiruri (2013), về lý thuyết khái niệm cấu trúc sở hữu có thể hiểu theo 2 khía cạnh: mức độ tập trung sở hữu và loại hình sở hữu. Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng cũng nghiên cứu theo 2 hướng: (i) mối quan hệ giữa mức độ tập trung sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Gedajlovic và Shapiro, 1998, trích trong Kobeissi, 2010); (ii) mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và loại hình cổ đông sở hữu ngân hàng: nhà nước, nước ngoài, tư nhân. Tuy nhiên, mối quan hệ này ở mỗi nước khác nhau là khác nhau, có thể có hoặc không có ý nghĩa thống kê.
Trong giới hạn về nội dung của luận văn, tác giả chỉ hướng đến mối quan hệ giữa loại hình cổ đông sở hữu ngân hàng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.1 Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Lý thuyết về sở hữu nhà nước trong ngân hàng được chia thành 2 quan điểm đối lập. Quan điểm ủng hộ cho rằng: ở các quốc gia có môi trường thể chế yếu kém, ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có thể phân bổ nguồn vốn tốt hơn cho những khoản đầu tư có hiệu suất cao (Gerschenkron, 1962, trích trong Micco, 2006); những e ngại với hình thức sở hữu tư nhân tập trung quá mức vào lĩnh vực ngân hàng sẽ làm cho nhiều bộ phận trong xã hội hạn chế tiếp cận được nguồn vốn tín dụng và ngân hàng tư nhân có nguy cơ lâm vào khủng hoảng nhiều hơn (WorldBank, 2001). Ngược lại, theo Jensen và Meckling (1976), trích trong Kobeissi (2010) cho rằng các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước không hoạt động hiệu quả do thiếu cơ chế giám sát thị trường vốn; do đó các nhà quản lý trong các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước sẽ theo đuổi các lợi ích riêng và làm gia tăng các chi phí doanh nghiệp. Đồng thời theo Lang và So (2002), trích trong Kobeissi (2010) thì các nhà quản lý trong các ngân hàng tư nhân chịu áp lực cao hơn từ cơ chế giám sát, các biện pháp trừng phạt khi hoạt động không hiệu quả.
6 Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước ở các nước đang phát triển/nước chuyển đổi có hiệu quả hoạt động thấp hơn so với các loại hình ngân hàng khác, cụ thể: (i) Nghiên cứu của Micco và đ.g (2004) với dữ liệu của 119 quốc gia trên thế giới giai đoạn 1995 – 2002 cho thấy tại các nước đang phát triển, ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có lợi nhuận thấp hơn so với ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân và ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài. (ii) Nghiên cứu của Berger và đ.g (2005) tại các ngân hàng Argentina trong thập niên 1990 cho thấy các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có hiệu quả thấp hơn trong dài hạn so với các ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân và các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài, đặc biệt các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có tỷ lệ nợ xấu ở mức rất cao so với các ngân hàng tư nhân và ngân hàng nước ngoài; (iii) Nghiên cứu của Cornett và đ.g (2008) đối với các ngân hàng tại 16 nước Đông Á giai đoạn 1989 – 2000 cho thấy các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có lợi nhuận thấp hơn, vốn cấp 1 thấp hơn và rủi ro tín dụng cao hơn so với các ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân.2 Mối quan hệ giữa sở hữu của cổ đông chiến lược nước ngoài và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Theo Bonin và đ.g (2004), về lý thuyết có 3 quan điểm khác nhau giải thích mối tương quan tích cực giữa các ngân hàng có cổ đông chiến lược nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Thứ nhất, cổ đông chiến lược nước ngoài chỉ đầu tư vào danh mục các ngân hàng có hiệu quả cao và có triển vọng đem lại lợi nhuận cao cho danh mục đầu tư của họ. Thứ hai, sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài vào ngân hàng không những giúp cải thiện cấu trúc quản trị nội bộ và hoạt động kinh doanh ngân hàng mà còn chuyển giao: công nghệ, quản lý rủi ro,… giúp gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Thứ ba, khi một cổ đông chiến lược nước ngoài tham gia đầu tư vào một ngân hàng sẽ tạo một tín hiệu tích cực đối với ngân hàng. Tuy nhiên, quan điểm của Buch (2003), trích trong Berger (2005) ngược lại, cổ đông chiến lược nước ngoài hay các ngân hàng nước ngoài hoạt động trong môi trường trong nước cũng phải chịu bất lợi về hoạt động quản lý từ xa, những khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, khả năng tiếp cận và xử lý các thông tin mềm địa phương hoặc sự tham gia của các cổ đông chiến lược nước ngoài bị giới hạn 7 về tỷ lệ sở hữu vốn và mức độ kiểm soát, tham gia quản trị ngân hàng dẫn đến khả năng động lực chuyển giao công nghệ và quản trị. Đến thời điểm hiện tại, các nghiên cứu trước chủ yếu nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngân hàng nước ngoài và hiệu quả của ngân hàng hơn là mối quan hệ giữa ngân hàng có cổ đông chiến lược nước ngoài và hiệu quả của ngân hàng. Một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã chứng minh các ngân hàng có cổ đông chiến lược nước ngoài có hiệu quả cao hơn so với các ngân hàng khác, cụ thể: (i) Nghiên cứu của Bonin và đ.g (2004) về tác động của các ngân hàng nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở 11 nước chuyển đổi Châu Âu giai đoạn 1996 – 2000 cho thấy các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài hoạt động có hiệu quả hơn so với các ngân hàng khác, đặc biệt trong trường hợp nếu có một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.
Đồng thời, với sự tham gia của nhà đầu tư quốc tế sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. (ii) Nghiên cứu của Berger và đ.g (2006) đối với 38 NHTM Trung Quốc giai đoạn 1994 – 2003 cho thấy sự tham gia của các cổ đông nước ngoài vào ngân hàng nhà nước và ngân hàng tư nhân có hiệu quả cao hơn so với ngân hàng không có nhà đầu tư nước ngoài.2 Mô hình thực nghiệm 2.1 Mô hình tổng quát Theo Aburime (2005), trích trong Ongore và Kusa (2013), các yếu tố tác động đến hiệu quả của một ngân hàng có thể được phân thành: yếu tố đặc thù của ngân hàng (yếu tố bên trong) và các yếu tố vĩ mô (yếu tố bên ngoài) tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau, nhà nghiên cứu có thể lựa chọn các biến phù hợp để đưa vào mô hình. Trên cơ sở các nghiên cứu trước, tác giả xây dựng mô hình kinh tế lượng tổng quát như sau: Efficiencyi = α + βOwnership Variablei + γControl Variablei + δMacro Variablei + εi (2.1) Trong đó: Efficiencyi : các biến đại diện hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Các nhà nghiên cứu thường sử dụng 2 phương pháp để đo lường hiệu quả hoạt động trong ngân hàng. Thứ nhất, sử dụng phương pháp tham số/phi tham số để ước lượng biên lợi nhuận – chi phí thông qua 8 mô hình DEA (Data Envelope Analysis) hoặc SFA (Stochastic Frontier Analysis). Thứ hai, sử dụng các chỉ số tài chính về hiệu quả hoạt động như: ROA (Return on Assets), ROE (Return on Equity), NIM (Net interest margin), NPL (Non-performing loans)… là các chỉ số đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ownership Variablei : các biến đại diện cấu trúc sở hữu của ngân hàng.
Cấu trúc sở hữu có thể phân chia theo tỷ lệ hoặc loại hình cổ đông sở hữu: tổ chức (cổ đông nhà nước, cổ đông tư nhân, cổ đông nước ngoài/chiến lược nước ngoài) hoặc sở hữu gia đình,…; quá trình thay đổi cấu trúc sở hữu (thâu tóm, sáp nhập,…). Control Variablei : các biến đại diện cho các đặc tính/đặc thù của mỗi ngân hàng. Một số biến chỉ đặc tính của ngân hàng gồm: quy mô (tổng tài sản), niêm yết trên thị trường chứng khoán, chỉ số quản trị tài sản ngân hàng (tỷ lệ cho vay/tổng tài sản), chỉ số quản trị nợ (tỷ lệ tiền gửi/tổng tài sản), chỉ số đại diện hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng (tỷ lệ chi phí phi tín dụng/tổng tài sản),… Macro Variablei : các biến đại diện cho đặc thù kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia/ mốc thời gian. Một số yếu tố vĩ mô gồm: tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất thực, tỷ lệ thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế, bất ổn chính trị, năm/quốc gia ảnh hưởng… Biến này thường được sử dụng khi bộ dữ liệu gồm các ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trong một khoảng thời gian.2 Triển khai mô hình kinh tế lượng Đề tài nghiên cứu về cấu trúc sở hữu của ngân hàng với đối tượng nghiên cứu cụ thể là tương quan giữa sở hữu nhà nước, sở hữu của cổ đông chiến lược nước ngoài và hiệu quả hoạt động của ngân hàng giai đoạn 2009 – 2012.
Do đó tác giả xây dựng mô hình kinh tế lượng trên cơ sở triển khai mô hình tổng quát 2.