Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những nghiên cứu có liên quan đến năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh Những nghiên cứu có liên quan đến năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh là nội dung thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả ở Việt Nam và thế giới. Kết quả nghiên cứu được khái quát trên các hướng chủ yếu như sau: 1. Hướng nghiên cứu về hoạt động chỉ huy và năng lực chuyên biệt của người cán bộ trong hoạt động quân sự Nghiên cứu về hoạt động chỉ huy của người cán bộ quân sự Hoàng Văn Thái (1980), Mấy vấn đề về chỉ huy và tham mưu [67], đã chỉ ra quy trình chỉ huy, tham mưu với các nội dung như: tìm hiểu nhiệm vụ; tính toán thời gian; ra lệnh dự báo cho cấp dưới; đánh giá tình hình; hạ quyết tâm; giao nhiệm vụ; lập kế hoạch tác chiến; tổ chức hiệp đồng và bảo đảm các mặt; kiểm tra đôn đốc việc thực hiện.
Tác giả khẳng định, hoạt động chỉ huy là hoạt động khó khăn, gian khổ và phức tạp, người chỉ huy giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động này. Kết quả nghiên cứu đã đề cập đến tính chất, đặc điểm của hoạt động chỉ huy, chỉ ra quy trình của hoạt động chỉ huy và nhấn mạnh vai trò của người chỉ huy. Semanxky (1981), Những vấn đề cơ bản của chỉ huy bộ đội trong chiến đấu [39], đã khẳng định hoạt động chỉ huy thực chất là hoạt động của người chỉ huy trong quản lí, duy trì và tổ chức các nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu và chiến đấu cho đơn vị thuộc quyền; chỉ ra mô hình chỉ huy gồm: người chỉ huy, phương tiện kĩ thuật chỉ huy, tổ chức sở chỉ huy và thông tin liên lạc. Đồng thời, các tác giả cho rằng, chỉ huy bộ đội là một quy trình bao gồm: thu thập và xử lí những tài liệu về tình huống khi chuẩn bị chiến đấu và trong quá trình chiến đấu; ra quyết định và lập kế hoạch tác chiến cho bộ đội; phổ biến kế hoạch chiến đấu cho cấp dưới; tổ chức và duy trì hiệp đồng; tổ chức và thực hiện các biện pháp bảo đảm chiến đấu và cảnh vệ; kiểm tra; nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm chiến đấu.
Pigeau (1996), “Nhận lệnh của C2” [92], được trình bày tại Hội thảo Quốc tế lần thứ hai về công nghệ chỉ huy tổ chức tại Vương quốc Anh. Nghiên cứu này đã đưa ra luận điểm mới và làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm chỉ huy (Command) và điều khiển (Control) tạo ra mô hình C2 (Command and Control). Đây là quan niệm có sự tương đồng như khái niệm về lãnh đạo và chỉ huy trong quân đội ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc nhận lệnh (nhận được) và thực hiện hoạt động chỉ huy luôn gắn với các điều kiện, phương tiện chỉ huy và trang bị, vũ khí hiện đại, quá trình này là biểu hiện sáng tạo, ý chí và thể hiện sự độc đáo riêng có của mỗi người chỉ huy.
Đồng thời, các tác giả đã đưa ra quan niệm chỉ huy là “biểu hiện sáng tạo của người chỉ huy và sẽ cần thiết để hoàn thành một nhiệm vụ” [92, tr. 538]; Làm rõ việc chỉ huy liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm, sáng kiến, lòng can đảm, sự tin tưởng và một số biểu hiện tâm lí khác về năng lực chỉ huy của người chỉ huy mà luận án có thể kế thừa và phát triển. Hoàng Minh Thảo (1997), Về cách dùng binh [70], tác giả cho rằng người chỉ huy là nhân tố quan trọng đến thắng lợi của đơn vị; đưa ra quan niệm chỉ huy bao gồm tổng thể các hoạt động khác nhau và là hoạt động có sự chấp hành kỉ luật nghiêm ngặt, thống nhất từ trên xuống dưới. Trong nghiên cứu cũng đề cao vai trò “mưu lược”, người chỉ huy cần có sự hiểu biết về địch, về ta, về địa hình, thời tiết từ đó tạo lập thời thế, phải tuỳ thời mà tạo thế, tác chiến chống giặc cần vận dụng linh hoạt; người chỉ huy cần “biết tổ chức thật tốt một trận chiến đấu hoàn chỉnh từ khi chuẩn bị đến lúc thu quân, biết tổ chức cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong bất kỳ thời gian, không gian nào” [70, tr.
Đây là những cơ sở lí luận để xác định đặc điểm của hoạt động chỉ huy, biểu hiện và biện pháp phát triển năng lực chỉ huy ở đề tài luận án. Nguyễn Ngọc Tỉnh và Đỗ Mộng Khương (2002), Binh thư yếu lược [73]. Các dịch giả đã hệ thống tư tưởng quân sự của Trần Quốc Tuấn trên một số luận điểm cơ bản như: Đề cao vai trò của người tướng trong xây dựng sức mạnh quân đội “muốn có binh mạnh thì phải có tướng giỏi” [73, tr. 50]; Coi việc chỉ huy binh sĩ là hoạt động cơ bản, hoạt động chủ đạo của người tướng; tướng lĩnh, người chỉ huy cần phải biết liệu việc, chia đặt quân kỳ, lâm cơ ứng 17 biến; Phải có trí tuệ, hiểu biết sâu sắc, toàn diện, đầy đủ, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, sự tinh thông về kĩ thuật, chiến thuật.
Đồng thời, theo quan niệm của Trần Quốc Tuấn việc chỉ huy binh sĩ của người tướng soái là hoạt động tổng hợp, có tính thống nhất và và đề cao tính đoàn kết, tính kỉ luật trong quân đội; sức mạnh trong chiến tranh sẽ được tạo nên bởi vua thánh minh, tướng hiền, ba quân giữ lễ, sĩ tốt vâng mệnh, kỉ luật nghiêm minh; đối với tiền tài thì phải liêm, dùng của cải thì phải tiết kiệm, đối với cấp trên thì trung thành, với binh sĩ thì cùng lo, có lòng nhân mà không bỏ nguyên tắc. Bàn về: Huấn luyện người chỉ huy, chiến sĩ và đơn vị cho các lực lượng tương lai [40], tác giả M. John (2003) cho rằng, chỉ huy đó là “chịu trách nhiệm về mọi thứ mà đơn vị làm hoặc không làm” [40, tr. 75], đề cao vai trò của người chỉ huy trong hoạt động chỉ huy cấp dưới là điều khiển, chỉ dẫn, cung cấp mục đích và tạo động lực.
Ngoài ra, tác giả cho rằng hoạt động chỉ huy của người chỉ huy là hoạt động khó khăn, phức tạp, diễn ra trên nhiều mặt và theo một quy trình bao gồm: duy trì tiêu chuẩn; đặt mục tiêu; lập kế hoạch; làm quyết định và giải quyết vấn đề; giám sát và đánh giá. Nghiên cứu về: Lãnh đạo phá hoại: Nguyên nhân, hậu quả và biện pháp đối phó [87], các A. Branch (2015) đã tập trung phân tích và nhận diện những hành vi chỉ huy được coi là phá hoại của người sĩ quan trong quân đội Mỹ. Các tác giả quan niệm, lãnh đạo, chỉ huy trong quân đội là một hoạt động phức tạp, diễn ra trong sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ phận và sự phối hợp nhịp nhàng giữa người chỉ huy với cấp dưới.
Người chỉ huy cần nắm vững và thực hiện đúng về phạm vi cương vị, chức trách, quyền hạn của mình, duy trì nghiêm kỉ luật quân sự, nếu xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc sẽ dẫn tới những hành vi chỉ huy sai lệch, được coi là hành vi “chỉ huy phá hoại”. Nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát trên 2000 khách thể về 20 loại hành vi được coi là chỉ huy phá hoại theo tần suất thực hiện hoặc đã thấy người khác thực hiện chúng. Kết quả nghiên cứu cho thấy những đặc điểm về tính đa đạng, phức tạp, căng thẳng, tính kỉ luật cao và sự hiệp đồng chặt chẽ trong hoạt động chỉ huy. Từ đó, đề ra biện pháp nhằm khắc phục những hành vi chỉ huy phá hoại.
Đây là những nội dung có thể vận dụng, kế thừa và phát triển trong nghiên cứu của đề tài luận án. 18 Như vậy, kết quả nghiên cứu về chỉ huy và hoạt động chỉ huy đã cho thấy vai trò quan trọng của người chỉ huy và hoạt động chỉ huy đối với việc xây dựng và phát huy sức mạnh của quân đội; đưa ra định nghĩa về chỉ huy; chỉ ra các mô hình, quy trình, chức năng, phương thức của hoạt động chỉ huy. Đặc biệt, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của hoạt động chỉ huy, đây là những cơ sở quan trọng để xác định và làm rõ đặc điểm hoạt động chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh hiện nay. Một số nghiên cứu về năng lực chuyên biệt của người cán bộ trong hoạt động quân sự Nguyễn Văn Túy (2000), Năng lực chuyên biệt của cán bộ bộ đội biên phòng làm công tác quản lí kiểm soát ở cửa khẩu [78].
Ở công trình này, tác giả đã chỉ ra các thành tố cấu thành năng lực và vai trò vị trí của từng thành tố trong sự phát triển năng lực quản lí kiểm soát ở cửa khẩu của cán bộ bộ đội biên phòng. Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực kiểm soát, từ đó đưa ra các biện pháp tâm lí nhằm phát triển năng lực chuyên biệt của cán bộ bộ đội biên phòng làm công tác quản lí kiểm soát ở cửa khẩu. Một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: R. Dardis (2004),“Thái độ, kiến thức, kĩ năng” - Mô hình phát triển lãnh đạo” [100], hay của J.
Doh (2003), “Lãnh đạo có thể được dạy? Những trách nhiệm từ các nhà giáo dục quản lí” [99], các tác giả đã xây dựng mô hình về người lãnh đạo, chỉ huy trong quân đội Mỹ dựa trên các thành tố Be, Know, Do (Thái độ, kiến thức, kĩ năng), được luận giải như sau: Về thái độ (Be): Liên quan đến các đặc tính, phẩm chất của người chỉ huy, là khả năng chỉ huy của cá nhân. Với “Be”, người chỉ huy cần nhận thức được giá trị của cá nhân trong tổ chức, nhấn mạnh đến đặc tính của cá nhân như: Tin tưởng vào bản thân, sứ mệnh quân sự của bạn, của đơn vị và của Quân đội Hoa Kỳ; Hiển thị lòng can đảm về thể chất và đạo đức quân nhân; Chủ động hành động; Đảm nhận mọi cơ hội; trung thực và thẳn thắn; Chịu trách nhiệm về lời nói của mình và tiếp thu phê bình mang tính xây dựng; Duy trì thái độ tinh thần tích cực trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành công 19 việc trong sự tuân thủ luật pháp, quy định và mệnh lệnh; Tiếp cận mọi vấn đề như một thách thức cần vượt qua và như một cơ hội để học hỏi và phát triển; Linh hoạt và nhanh nhẹn sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi; Sử dụng sự phán đoán của mình và không ngại đưa ra quyết định.