Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Năng lực giữ vai trò quyết định đối với hiệu quả hoạt động thực tiễn của con người và là thành phần cơ bản cấu thành bộ mặt nhân cách. Trong hoạt động quân sự – lĩnh vực mang tính đặc thù cao liên quan trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc – người cán bộ là nhân tố quyết định sức mạnh của quân đội. Hoạt động chỉ huy bộ đội là hoạt động chủ đạo của người chỉ huy, trong đó năng lực chỉ huy giữ vị trí cốt lõi.

Binh chủng Công binh là binh chủng kĩ thuật có nhiệm vụ trung tâm gồm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực hành bảo đảm công binh, bảo đảm chiến đấu và chiến đấu bằng vũ khí công binh. Quy mô tổ chức thực hiện nhiệm vụ của bộ đội công binh cả trong thời bình và thời chiến chủ yếu diễn ra ở cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn). Do đó, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của Binh chủng phụ thuộc trực tiếp vào năng lực chỉ huy của đội ngũ cán bộ cấp phân đội.

Trước bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển của chiến tranh công nghệ cao, yêu cầu đối với cán bộ phân đội công binh ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, thực tế công tác tại các đơn vị công binh cho thấy một bộ phận cán bộ (nhất là cấp trung đội) còn bộc lộ hạn chế: thiếu kiến thức thực tế, ít kinh nghiệm, kĩ năng chỉ huy chưa đồng đều; thái độ chỉ huy có lúc thiếu quyết đoán, ngại trách nhiệm; kĩ năng xử lí tình huống chưa linh hoạt; chất lượng huấn luyện và điều chỉnh kế hoạch sẵn sàng chiến đấu có thời điểm chưa kịp thời. Trong khi đó, các công trình Tâm lí học quân sự trước đây chủ yếu nghiên cứu về năng lực chỉ huy nói chung hoặc các dạng năng lực chuyên biệt khác; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh. Đây chính là khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp tâm lí - xã hội nhằm phát triển năng lực chỉ huy cho đội ngũ này.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh.
  2. Xây dựng những vấn đề lí luận cơ bản về năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực chỉ huy và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội công binh.
  4. Đề xuất các biện pháp tâm lí - xã hội phát triển năng lực chỉ huy cho cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh.

Giả thuyết khoa học

Luận án kiểm định 3 giả thuyết khoa học:

  1. Năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh hiện nay đang ở mức độ khá. Tuy nhiên, các mặt biểu hiện của năng lực chỉ huy có mức độ khác nhau, trong đó kĩ năng chỉ huy đang ở mức độ thấp hơn các mặt còn lại.
  2. Cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh giữ chức vụ cao hơn và có số năm giữ chức vụ lâu hơn thì có năng lực chỉ huy cao hơn. Không có sự khác biệt giữa các ngạch sĩ quan về mức độ năng lực chỉ huy.
  3. Năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, xu hướng nghề nghiệp công binh có ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực chỉ huy của họ.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh.
  • Khách thể nghiên cứu: Cán bộ cấp phân đội, chiến sĩ công binh và cán bộ cấp Lữ đoàn Công binh thuộc Binh chủng Công binh. Khảo sát định lượng được thực hiện trên 568 khách thể (333 cán bộ cấp phân đội và 235 chiến sĩ công binh). Cán bộ cấp Lữ đoàn được thu thập thông tin thông qua phỏng vấn sâu.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận năng lực chỉ huy là dạng năng lực thực hiện hoạt động, biểu hiện ra bên ngoài qua 4 mặt: kiến thức chỉ huy, thái độ trong hoạt động chỉ huy, kĩ năng chỉ huy và kết quả hoạt động chỉ huy; giới hạn khảo sát trên 3 mặt hoạt động chủ đạo gồm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và thực hành bảo đảm công binh.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại 5 Lữ đoàn Công binh (Đoàn Công binh) thuộc Binh chủng Công binh, gồm 3 đơn vị ở miền Bắc, 1 đơn vị ở Bắc Trung Bộ và 1 đơn vị ở Nam Trung Bộ.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu điều tra, khảo sát thực nghiệm được thu thập và tổng hợp trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 4 hướng nghiên cứu chính và nhóm tài liệu chuyên ngành:

Hướng nghiên cứu về hoạt động chỉ huy và năng lực chuyên biệt trong hoạt động quân sự

  • Về hoạt động chỉ huy: Hoàng Văn Thái (1980) trong Mấy vấn đề về chỉ huy và tham mưu đã xác định quy trình chỉ huy gồm các bước từ tìm hiểu nhiệm vụ, tính toán thời gian, ra lệnh dự báo, đánh giá tình hình, hạ quyết tâm, giao nhiệm vụ, lập kế hoạch tác chiến, tổ chức hiệp đồng và bảo đảm, đến kiểm tra đôn đốc. Semanxky (1981) làm rõ mô hình chỉ huy gồm người chỉ huy, phương tiện kĩ thuật chỉ huy, tổ chức sở chỉ huy và thông tin liên lạc. Pigeau (1996) phân biệt khái niệm chỉ huy (Command) và điều khiển (Control) trong mô hình C2. Hoàng Minh Thảo (1997) trong Về cách dùng binh và các dịch giả Nguyễn Ngọc Tỉnh, Đỗ Mộng Khương (2002) khi dịch Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn đã nhấn mạnh vai trò cốt lõi của người chỉ huy, yêu cầu mưu lược và tính kỉ luật nghiêm minh. M. John (2003) và A. Branch (2015) phân tích quy trình chỉ huy, vai trò trách nhiệm và nhận diện 20 hành vi "chỉ huy phá hoại" qua khảo sát 2.000 khách thể trong quân đội Mỹ.
  • Về năng lực chuyên biệt: Nguyễn Văn Túy (2000) nghiên cứu năng lực chuyên biệt của cán bộ biên phòng tại cửa khẩu. R. Dardis (2004) và J. Doh (2003) xây dựng mô hình lãnh đạo Be - Know - Do (Thái độ - Kiến thức - Hành động). Phạm Xuân Nguyên (2009) nghiên cứu năng lực ra quyết định của Sư đoàn trưởng. Đặng Duy Thái (2017) nghiên cứu năng lực hiểu học viên của giảng viên đại học quân sự. Nguyễn Văn Kiên (2018) nghiên cứu năng lực thuyết phục của Chính trị viên.

Hướng nghiên cứu về biểu hiện năng lực chỉ huy

Vương Thừa Vũ (1976), Nguyễn Lương Bích (1977 khi nghiên cứu nghệ thuật quân sự Nguyễn Huệ), Lê Trọng Tấn (1979) và Ngô Minh Tuấn (2015 khi nghiên cứu tư tưởng quân sự Nguyễn Trãi) đã chỉ ra các biểu hiện của năng lực chỉ huy qua khả năng nắm quân, tổ chức nhanh, thu quân gọn, điều chỉnh lực lượng linh hoạt, bản lĩnh quyết đoán và tư tưởng nhân nghĩa. A. Uris (1994), Nguyễn Tâm Ấn (1996 khi phân tích Tôn tử Binh pháp với các yêu cầu "đạo, thiên, địa, tướng, pháp" và "lí - bị - quả - giới - ước"), Zaccaro và cộng sự (2015 khi khảo sát 640 sĩ quan Mỹ về năng lực nhận thức bậc cao) đã xác định năng lực chỉ huy thông qua kiến thức chuyên môn, kĩ năng ra quyết định, nghệ thuật điều hành và kết quả hoàn thành nhiệm vụ.

Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chỉ huy

Các nhà tâm lí học A. N. Leontiev (1989), Phạm Minh Hạc (2004), Nguyễn Quang Uẩn (2011) xác định 4 yếu tố chung chi phối năng lực: sinh học (tư chất), hoạt động, điều kiện xã hội - lịch sử và giáo dục. Trong lĩnh vực quân sự, E. Sramtrenco (1983) phân chia 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng (thuộc về người chỉ huy, phương tiện hoạt động và cấp dưới); Droz (2002) chỉ ra 5 yếu tố ảnh hưởng (cơ cấu chỉ huy, trang bị kĩ thuật, quy mô thời gian tác chiến, độ phức tạp của hoạt động, phân tuyến chiến trường); Khương Phóng Nhiên (2002) nhấn mạnh các yếu tố thông tin tác chiến, sự biến động của tình huống và đặc điểm chiến tranh công nghệ cao.

Hướng nghiên cứu về biện pháp phát triển năng lực chỉ huy

C. Clausewitz (1981) trong Bàn về chiến tranh đề xuất phát triển năng lực chỉ huy qua đào tạo, thực tiễn chiến đấu và tự rèn luyện. Michael (2004) và B. Ole (2015) đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực qua tuyển chọn, đào tạo học viện, huấn luyện tình huống khắc nghiệt và phát triển 3 mặt thành thạo (cá nhân, chuyên môn, xã hội).

Nghiên cứu về Binh chủng Công binh và khoảng trống nghiên cứu

Các tài liệu của Bộ Quốc phòng (2004) về Điều lệ công tác kĩ thuật và Điều lệ công tác tham mưu tác chiến Công binh, tài liệu Lịch sử Binh chủng Công binh (2013) cùng công trình của Phạm Danh Quý (2007) về tâm trạng bộ đội công binh rà phá bom mìn đã làm rõ tính chất nguy hiểm, phân tán, yêu cầu kĩ thuật cao của bộ đội công binh. Tổng quan cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu thực chứng và hệ thống hóa về năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh dưới góc độ Tâm lí học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận và khung phân tích

Luận án vận hành trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội của Đảng Cộng sản Việt Nam và các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Công binh. Luận án quán triệt 4 cách tiếp cận:

  • Tiếp cận hoạt động - nhân cách: Xem xét năng lực chỉ huy như một thành phần tâm lí cốt lõi trong nhân cách người chỉ huy, được hình thành, bộc lộ và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn chỉ huy phân đội.
  • Tiếp cận hệ thống: Đánh giá năng lực chỉ huy trong mối quan hệ hữu cơ giữa các thành tố kiến thức, thái độ, kĩ năng và kết quả hoạt động, đồng thời đặt trong chỉnh thể các yếu tố tác động.
  • Tiếp cận phát triển: Đánh giá năng lực chỉ huy trong sự vận động, tích lũy kinh nghiệm và biến đổi liên tục theo chức vụ, thâm niên và yêu cầu nhiệm vụ.
  • Tiếp cận Tâm lí học lãnh đạo, quản lí bộ đội: Làm sáng tỏ các hiện tượng tâm lí cá nhân, tập thể và quan hệ chỉ huy - phục tùng trong môi trường quân sự đặc thù.

Hệ thống khái niệm công cụ

  • Năng lực: Là tổ hợp các kiến thức, thái độ và kĩ năng của cá nhân được vận dụng phù hợp với yêu cầu của một hoạt động cụ thể, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả nhất định.
  • Năng lực chỉ huy: Là tổ hợp các kiến thức, thái độ và kĩ năng của người chỉ huy được vận dụng phù hợp với yêu cầu của hoạt động chỉ huy bộ đội nhằm hướng quân nhân và tập thể quân nhân thuộc quyền thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
  • Cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh: Là những sĩ quan tại ngũ theo các ngạch chỉ huy, chính trị và kĩ thuật được cấp ủy đảng có thẩm quyền điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lí, chỉ huy tại các phân đội công binh (từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn và tương đương).
  • Khung tiêu chí đánh giá: Luận án xây dựng hệ thống 60 chỉ báo đo lường biểu hiện bên ngoài của năng lực chỉ huy trên 4 mặt:
    1. Kiến thức chỉ huy: Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ công binh và kiến thức quản lí, điều hành phân đội.
    2. Thái độ trong hoạt động chỉ huy: Quyết đoán, dân chủ, nhiệt tình, trung thực, kiên nhẫn.
    3. Kĩ năng chỉ huy: Kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kĩ năng xử lí tình huống.
    4. Kết quả hoạt động chỉ huy: Mức độ hoàn thành các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và bảo đảm công binh.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án tích hợp 8 phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu (văn bản quy phạm, điều lệ, tài liệu lịch sử, công trình khoa học).
  2. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia (tham vấn các nhà khoa học tâm lí, tướng lĩnh, chỉ huy công binh).
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (công cụ thu thập dữ liệu chính gồm các thang đo Likert).
  4. Phương pháp quan sát (theo dõi hoạt động thực tế trên bãi tập, công trình, diễn tập).
  5. Phương pháp phỏng vấn sâu (thực hiện đối với cán bộ cấp Lữ đoàn để kiểm chứng định tính).
  6. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (kế hoạch huấn luyện, giáo án, sổ sách chỉ huy, biên bản nghiệm thu công trình).
  7. Phương pháp phân tích chân dung tâm lí (phân tích sâu các trường hợp điển hình ở các mức năng lực khác nhau).
  8. Phương pháp xử lí và phân tích số liệu bằng thống kê toán học qua phần mềm SPSS 20 (kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, kiểm định phân bố chuẩn, thống kê mô tả, kiểm định sai biệt T-test/ANOVA, phân tích cụm - Cluster Analysis, phân tích hồi quy tuyến tính).
Nhóm khách thể Số lượng (người) Phương pháp áp dụng Địa bàn khảo sát
Cán bộ cấp phân đội (Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn) 333 Bảng hỏi, quan sát, nghiên cứu sản phẩm, phân tích chân dung tâm lí 5 Lữ đoàn Công binh (3 miền Bắc, 1 Bắc Trung Bộ, 1 Nam Trung Bộ)
Chiến sĩ công binh 235 Bảng hỏi đánh giá chéo cán bộ 5 Lữ đoàn Công binh
Cán bộ cấp Lữ đoàn - Phỏng vấn sâu 5 Lữ đoàn Công binh
Tổng số khách thể định lượng 568 Xử lí thống kê trên phần mềm SPSS 20 Toàn diện 3 miền

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động chỉ huy, các mô hình năng lực (như Be - Know - Do), năng lực chuyên biệt và các yếu tố tác động trong môi trường quân sự. Tác giả chỉ rõ 5 vấn đề luận án tập trung giải quyết:

  1. Chứng minh tính độc lập, mới mẻ và cấp thiết của đề tài; xác lập cơ sở lí luận và thực tiễn.
  2. Tiếp cận năng lực chỉ huy dưới góc độ năng lực hành động/thực hiện hoạt động và xác lập khái niệm năng lực chỉ huy cán bộ cấp phân đội công binh.
  3. Xác định các mặt biểu hiện, xây dựng khung tiêu chí gồm 60 chỉ báo và mô hình các yếu tố ảnh hưởng.
  4. Thiết kế công cụ đo lường, kiểm định thang đo khoa học và khảo sát thực trạng trên diện rộng.
  5. Đề xuất hệ thống biện pháp tâm lí - xã hội có căn cứ thực chứng nhằm phát triển năng lực chỉ huy cho cán bộ phân đội.

Chương 2: LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CHỈ HUY CỦA CÁN BỘ CẤP PHÂN ĐỘI Ở BINH CHỦNG CÔNG BINH

Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng và chỉ ra 4 đặc điểm cốt lõi của hoạt động chỉ huy phân đội công binh:

  1. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công binh theo kế hoạch đã xác định: Nhiệm vụ mang tính chất "đi trước, về sau", bảo đảm chiến đấu và các công trình phòng thủ chiến lược, đường tuần tra biên giới, rà phá bom mìn, cứu hộ cứu nạn.
  2. Diễn ra trong điều kiện khó khăn, gian khổ, phức tạp trên nhiều mặt của nghiệp vụ công binh: Cán bộ quản lí đối tượng đa dạng (tỉ lệ quân nhân chuyên nghiệp, thợ kĩ thuật có tuổi đời, thâm niên cao hơn cán bộ), đối diện nguy cơ mất an toàn cao ("chiến đấu giữa thời bình").
  3. Gắn liền với điều kiện con người và phương tiện, trang bị kĩ thuật: Sử dụng vũ khí nổ chuyên dụng và hệ thống khí tài cơ giới nặng (máy đào hào BZM, máy rải mìn, cầu phao PMP, cầu tự hành TMM, phà tự hành GSP, PTS).
  4. Mang tính hiệp đồng chặt chẽ và tính kỉ luật nghiêm ngặt: Đòi hỏi quy chuẩn kĩ thuật tuyệt đối chính xác để bảo đảm an toàn sinh mạng và tiến độ nhiệm vụ.

Chương này cũng phân tích mô hình các yếu tố ảnh hưởng, gồm nhóm yếu tố chủ quan (tố chất chỉ huy, xu hướng nghề nghiệp, uy tín cá nhân) và nhóm yếu tố khách quan (trình độ và ý thức của cấp dưới, trang bị phương tiện khí tài, môi trường hoạt động).

Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu, chọn mẫu khảo sát 568 khách thể tại 5 Lữ đoàn và phương pháp thử nghiệm thang đo. Các thang đo đánh giá kiến thức, thái độ, kĩ năng, kết quả chỉ huy và các yếu tố ảnh hưởng đều được kiểm định độ tin cậy qua hệ số Cronbach's Alpha (Bảng 3.2), kiểm định phân bố chuẩn (Bảng 3.3) và phân tích cụm (Biểu đồ 3.1) để chia nhóm năng lực, bảo đảm tính giá trị khoa học trước khi điều tra chính thức.

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CHỈ HUY CỦA CÁN BỘ CẤP PHÂN ĐỘI Ở BINH CHỦNG CÔNG BINH

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu thập từ thực tiễn:

  • Thực trạng các mặt biểu hiện:
    • Kiến thức chỉ huy: Đánh giá qua kiến thức chuyên môn công binh (Bảng 4.1) và kiến thức quản lí điều hành (Bảng 4.2). So sánh giữa cán bộ và chiến sĩ (Bảng 4.3) cho thấy sự tương đồng ở mức đánh giá khá.
    • Thái độ trong chỉ huy: Được phân tích chi tiết qua 5 khía cạnh: quyết đoán (Bảng 4.4), dân chủ (Bảng 4.5), nhiệt tình (Bảng 4.6), trung thực (Bảng 4.7) và kiên nhẫn (Bảng 4.8). Kết quả so sánh chéo cán bộ - chiến sĩ (Bảng 4.9) khẳng định mức độ thái độ đạt điểm số cao nhất trong các thành tố.
    • Kĩ năng chỉ huy: Đánh giá qua kĩ năng xử lí thông tin (Bảng 4.10), ra quyết định (Bảng 4.11), tổ chức thực hiện nhiệm vụ (Bảng 4.12) và xử lí tình huống (Bảng 4.13). Kĩ năng chỉ huy có điểm trung bình thấp hơn so với kiến thức và thái độ, khẳng định giả thuyết nghiên cứu (1).
  • Phân hóa theo nhân khẩu học và chức vụ:
    • Mức độ năng lực chỉ huy có sự khác biệt rõ rệt theo chức vụ đảm nhiệm (Biểu đồ 4.8) và số năm giữ chức vụ (Biểu đồ 4.9).
    • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các ngạch sĩ quan (chỉ huy, chính trị, kĩ thuật) về mức độ năng lực chỉ huy chung (Biểu đồ 4.7), khẳng định giả thuyết nghiên cứu (2).
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng và mô hình hồi quy:
    • Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính (Bảng 4.14) và đánh giá chi tiết từng yếu tố: tố chất chỉ huy (Bảng 4.16), xu hướng nghề nghiệp (Bảng 4.17), uy tín cán bộ (Bảng 4.18), nhận thức kĩ năng cấp dưới (Bảng 4.19), ý thức cấp dưới (Bảng 4.20), trang bị phương tiện (Bảng 4.21).
    • Kết quả khẳng định xu hướng nghề nghiệp công binh là yếu tố có tác động mạnh nhất đến năng lực chỉ huy, chứng minh giả thuyết nghiên cứu (3).
  • Chân dung tâm lí điển hình: Khắc họa chân dung tâm lí của các nhóm cán bộ ở các mức năng lực khác nhau (nhóm năng lực cao, nhóm trung bình và nhóm còn hạn chế) qua các trường hợp cụ thể.
  • Biện pháp tâm lí - xã hội: Xây dựng hệ thống 4 nhóm biện pháp tác động đồng bộ nhằm nâng cao năng lực chỉ huy.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lí luận

  • Hệ thống hóa, làm phong phú thêm lí luận Tâm lí học và Tâm lí học quân sự về hoạt động chỉ huy, khái niệm năng lực chỉ huy và cấu trúc năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh.
  • Xác định và luận giải 4 đặc điểm tâm lí - thực tiễn đặc thù của hoạt động chỉ huy phân đội công binh.
  • Xây dựng bộ công cụ tiêu chí đánh giá gồm 60 chỉ báo định lượng tường minh đo lường năng lực chỉ huy trên 4 mặt (kiến thức, thái độ, kĩ năng, kết quả) và mô hình các yếu tố ảnh hưởng.

Đóng góp về thực tiễn

  • Phản ánh trung thực, khách quan thực trạng năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội tại 5 Lữ đoàn Công binh; xác định điểm nghẽn nằm ở khâu kĩ năng chỉ huy và xử lí tình huống thực tế.
  • Chứng minh bằng dữ liệu khoa học về quy luật biến đổi năng lực theo thời gian công tác, đưa ra mốc giới hạn bổ nhiệm cán bộ cấp phân đội hợp lí:
    • Cán bộ cấp Trung đội nên giữ chức vụ không quá 4 năm.
    • Cán bộ cấp Đại đội nên giữ chức vụ không quá 6 năm.
    • Cán bộ cấp Tiểu đoàn nên giữ chức vụ không quá 8 năm.
  • Cung cấp căn cứ khoa học cho công tác quy hoạch, điều động, luân chuyển, đào tạo và sử dụng cán bộ tại Binh chủng Công binh.

Đề xuất và kiến nghị giải pháp

Luận án đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lí - xã hội phát triển năng lực chỉ huy cho cán bộ phân đội:

  1. Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng xu hướng nghề nghiệp và động cơ phấn đấu: Tập trung củng cố tình cảm gắn bó với Binh chủng, tinh thần trách nhiệm và lòng yêu ngành, yêu nghề.
  2. Đổi mới nội dung, hình thức bồi dưỡng kiến thức và rèn luyện kĩ năng chỉ huy: Tăng cường huấn luyện thực địa, diễn tập xử lí tình huống phức tạp sát với điều kiện thực tế của bộ đội công binh.
  3. Xây dựng môi trường tâm lí - xã hội lành mạnh và nâng cao uy tín cho cán bộ: Thiết lập quan hệ chỉ huy - phục tùng dân chủ, gắn kết giữa cán bộ và chiến sĩ/quân nhân chuyên nghiệp.
  4. Tối ưu hóa công tác bố trí, sử dụng và luân chuyển cán bộ: Thực hiện việc điều động, bổ nhiệm theo đúng khung thâm niên đã được chứng minh qua thực nghiệm nhằm tránh hiện tượng chững lại hoặc suy giảm năng lực chỉ huy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu tập trung khảo sát định lượng trên mẫu 568 khách thể tại 5 Lữ đoàn Công binh trực thuộc Binh chủng; đối với cấp Lữ đoàn chỉ thực hiện phỏng vấn sâu mà chưa mở rộng điều tra bảng hỏi diện rộng do số lượng khách thể ít.
    • Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào 3 mặt hoạt động chủ đạo (huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực hành bảo đảm công binh), chưa bao quát toàn bộ các hoạt động hành chính quân sự và đời sống thường nhật khác.
    • Hướng tiếp cận tập trung vào các mặt biểu hiện ra bên ngoài (hành vi, kết quả) nhằm mục đích định lượng đo lường, chưa đi sâu giải phẫu toàn diện các cơ chế vi mô bên trong cấu trúc tư chất thần kinh của người chỉ huy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát ra các đơn vị công binh thuộc các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng trong toàn quân.
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động tâm lí trong các nhiệm vụ đặc thù mới như tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc và cứu hộ cứu nạn quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lí và lãnh đạo quân đội: Cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Binh chủng Công binh và chỉ huy các Lữ đoàn trong việc đánh giá, quy hoạch, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ cấp phân đội; đặc biệt là việc áp dụng khung thời gian giữ chức vụ tối ưu (Trung đội $\le 4$ năm, Đại đội $\le 6$ năm, Tiểu đoàn $\le 8$ năm).
  • Đối với các Học viện, Nhà trường Quân đội: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tâm lí học quân sự, Nghệ thuật quân sự và Quản lí bộ đội; giúp đổi mới chương trình đào tạo sĩ quan công binh theo hướng chuẩn hóa năng lực thực hành.
  • Đối với cán bộ cấp phân đội: Cung cấp hệ thống 60 chỉ báo giúp mỗi cán bộ tự soi chiếu, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về kiến thức, thái độ và kĩ năng để chủ động xây dựng kế hoạch tự rèn luyện.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm năng lực chỉ huy theo hướng tiếp cận nào trong Tâm lí học?

Luận án tiếp cận năng lực chỉ huy theo hướng tiếp cận hoạt động, coi năng lực là tổ hợp gồm 3 thành tố tâm lí (kiến thức, thái độ, kĩ năng) được vận dụng phù hợp vào hoạt động chỉ huy bộ đội để đạt kết quả thực tiễn. Nghiên cứu không đi sâu vào cấu trúc trừu tượng bên trong mà tập trung vào các mặt biểu hiện bên ngoài thông qua 60 chỉ báo định lượng.

2. Mẫu khách thể khảo sát thực nghiệm của luận án gồm những đối tượng nào và quy mô ra sao?

Khảo sát định lượng được thực hiện trên 568 khách thể, bao gồm 333 cán bộ cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn thuộc các ngạch chỉ huy, chính trị, kĩ thuật) và 235 chiến sĩ công binh thuộc 5 Lữ đoàn Công binh tại miền Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu cán bộ cấp Lữ đoàn để thu thập dữ liệu định tính.

3. Giả thuyết nghiên cứu về mức độ năng lực chỉ huy giữa các ngạch sĩ quan được kết luận như thế nào?

Kết quả xử lí thống kê trên phần mềm SPSS 20 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ năng lực chỉ huy chung giữa 3 ngạch sĩ quan (chỉ huy, chính trị, kĩ thuật) ở cấp phân đội khi thực hiện các nhiệm vụ chủ đạo của công binh.

4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội công binh?

Qua phân tích hồi quy tuyến tính tại Bảng 4.14, luận án khẳng định yếu tố "xu hướng nghề nghiệp công binh" của người cán bộ có tác động mạnh nhất và tỉ lệ thuận đến mức độ năng lực chỉ huy của họ so với các yếu tố về tố chất, uy tín, trang bị kĩ thuật hay trình độ của cấp dưới.

5. Luận án đề xuất thời gian giữ chức vụ tối đa cho từng cấp phân đội là bao nhiêu năm?

Căn cứ vào số liệu khảo sát thực nghiệm về sự suy giảm và bão hòa năng lực theo thâm niên giữ chức vụ, luận án kiến nghị thời gian giữ chức vụ tối ưu: cấp trung đội không quá 4 năm, cấp đại đội không quá 6 năm và cấp tiểu đoàn không quá 8 năm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Duy đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh trên cả bình diện lí luận và thực tiễn. Tác giả đã xác lập hệ thống cơ sở lí luận vững chắc, xây dựng khung tiêu chí 60 chỉ báo và thu thập dữ liệu thực chứng từ 568 khách thể tại 5 Lữ đoàn Công binh để làm rõ thực trạng 4 mặt biểu hiện cùng các yếu tố chi phối năng lực chỉ huy. Các phát hiện về quy luật thâm niên giữ chức vụ và hệ thống biện pháp tâm lí - xã hội được đề xuất có giá trị thực tiễn trực tiếp đối với công tác cán bộ và huấn luyện tại Binh chủng Công binh hiện nay.