Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài 1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong đời sống xã hội Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người có ý nghĩa rất quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, các quốc gia trong đó có Việt Nam đã và đang rất quan tâm đến vấn đề nhân tố con người và phát huy nhân tố con người.
Đến nay đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này. Ở Việt Nam, từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, vấn đề nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy nhân tố con người được đặc biệt quan tâm, thu hút nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đã có nhiều công trình khoa học được công bố. Trần Thị Thủy (2000) với công trình Nhân tố con người và những biện pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay [120], quan niệm “Nhân tố con người là một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa các mặt hoạt động và tổng hòa những phẩm chất, năng lực và trí tuệ, thể lực của cá nhân hay cộng đồng người tham gia vào sự biến đổi, phát triển của một quá trình xã hội nhất định với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử - xã hội, sáng tạo mọi giá trị vật chất và giá trị tinh thần, đồng thời tự hoàn thiện và làm phong phú thêm phẩm giá nhân cách của chính con người” [120, tr. Theo tác giả, để phát huy nhân tố con người cần tạo ra tiền đề vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc hình thành, phát triển, hiện thực hóa và sử dụng đúng đắn vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người hướng vào mục đích phát triển xã hội, phát triển con người.
Quá trình này có nội dung và tính quy luật của nó. Để phát huy nhân tố con người, tác giả đề xuất những biện pháp chủ yếu: kết hợp luan an 12 hài hòa giữa nhu cầu, lợi ích cá nhân với nhu cầu, lợi ích xã hội; chú trọng đổi mới những điều kiện hoạt động; nâng cao trình độ tay nghề của người lao động. Những kết quả nghiên cứu của công trình, đặc biệt về quan niệm nhân tố con người và một số giải pháp là những gợi ý giúp tác giả đề tài có thể tham khảo, kế thừa trong quá trình nghiên cứu luận án. Cũng nhấn mạnh mặt hoạt động của nhân tố con người, Nguyễn Thị Phi Yến (2001) với công trình Tìm hiểu vai trò quản lý nhà nước đối với việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế [151] đưa ra quan niệm về nhân tố con người với tư cách là đối tượng mà quản lý nhà nước cần phát huy, đó là “tổng hợp tất cả những phẩm chất, tri thức, khả năng và năng lực của con người cùng mọi hoạt động sáng tạo của họ được xã hội sử dụng vì lợi ích của sự phát triển con người cũng như hoàn thiện các điều kiện sống, điều kiện lao động, điều kiện làm việc của con người” [151, tr.
Trong hệ thống hoạt động, nhân tố con người được đặt trong sự tương tác với các yếu tố kỹ thuật và môi trường. Theo tác giả, cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đều có tác động rất lớn đến việc phát huy tính năng động của con người; có khả năng tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây trở ngại, khó khăn. Vì vậy, để phát huy nhân tố con người, các giải pháp được đưa ra là: mở rộng dân chủ trong xã hội; quan tâm đúng mức lợi ích kinh tế hợp pháp; phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao mặt bằng dân trí và xây dựng môi trường hoạt động thuận lợi cho việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế. Đây là những gợi ý hữu ích cho tác giả đề tài trong xây dựng các giải pháp của luận án.
Trần Thanh Đức (2002) với công trình Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn đề đào tạo người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay [43] khi luận giải khái niệm nhân tố con người đã cho rằng, cần phân biệt và khẳng định nhân tố “người” với các nhân tố khác như: kinh tế, kỹ thuật, chính trị - xã hội, v. trong đời sống xã hội. Từ đó, tác giả quan niệm “nhân tố con người là một nhân tố xã hội, nói lên sức mạnh luan an 13 tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với khách thể, mà trong đó hoạt động thực tiễn là quan trọng nhất, đem lại sự phát triển cho xã hội và cho chính bản thân con người” [43, tr. Xem xét nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, tác giả nhấn mạnh, đây không chỉ là một bộ phận cấu thành mà còn là nhân tố giữ vai trò trung tâm trong lực lượng sản xuất.
Chính mặt hoạt động của nhân tố con người đã tạo ra phương thức kết hợp cao nhất giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất. Do đó, nhân tố con người giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy, theo tác giả, để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất thông qua quá trình đào tạo người lao động. Trong công trình Nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay [123], Hoàng Thái Triển (2005) cho rằng, nói tới nhân tố con người thì trước hết và chủ yếu nói tới sức mạnh hoạt động thực tiễn đa dạng của họ.
Theo tác giả, nhân tố con người bao gồm các yếu tố: phẩm chất chính trị (trong xã hội có giai cấp), đạo đức, nhân cách, sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần, trình độ giáo dục - đào tạo về văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, trình độ phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi được vận dụng trong hoạt động vì sự phát triển xã hội. Do đó, phát huy nhân tố con người phụ thuộc mức độ liên kết của xã hội trên cơ sở lợi ích nhất định; phụ thuộc tính chất và trình độ phát triển của kinh tế, tính chất và trình độ phát triển của thể chế chính trị, trình độ học vấn, trình độ xã hội hóa, dân chủ hóa về thông tin, trình độ giao lưu, hội nhập quốc tế, phẩm chất và năng lực của người quản lý. Nguyễn Văn Thiện (2012) với công trình Vai trò của cán bộ chủ chốt cấp xã trong việc phát huy nhân tố con người ở nông thôn Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay [119] cho rằng, nhân tố con người phản ánh những đặc trưng bản chất nhất của con người hiện thực - với tư cách là một thực thể xã hội. Nói tới nhân tố con người là nói tới mặt chủ động, tích cực, sáng tạo của con người luan an 14 không chỉ nhận thức được hoàn cảnh cần cải tạo mà còn có năng lực cải tạo được hoàn cảnh.
Bởi theo tác giả, hoạt động thực tiễn là đặc trưng bản chất nhất của con người hiện thực với tư cách là chủ thể sáng tạo. Trên cơ sở luận giải sự cần thiết phải phát huy nhân tố con người, tác giả khẳng định, thực chất của việc phát huy nhân tố con người ở nông thôn Bắc Trung Bộ là “nhằm phát huy tính tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo của người nông dân, tham gia vào các quá trình cải biến xã hội ở nông thôn” [119, tr. Nguyễn Văn Thanh và Lê Trọng Tuyến (2011) với công trình Quan điểm của Đảng về con người và phát huy nhân tố con người trong Nghị quyết Đại hội XI [116] đã hệ thống hóa và phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội từ Đại hội VI đến Đại hội XI về con người và phát huy nhân tố con người. Các tác giả khẳng định: “Việc phát huy nhân tố con người được luận giải trên các khía cạnh: thực hiện chính sách xã hội đúng đắn; phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; phát triển giáo dục và đào tạo; thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng và phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [116, tr.
Về khía cạnh thực hiện chính sách xã hội, Đảng đã tập trung vào giải quyết vấn đề then chốt của con người hiện nay là lợi ích gắn với việc làm một cách phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho giải phóng tiềm năng sức mạnh của con người, xây dựng môi trường xã hội tốt đẹp. Trong công trình Vấn đề phát huy nhân tố con người ở Việt Nam hiện nay [89], Trịnh Xuân Ngọc (2015) cho rằng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đó là, xây dựng môi trường xã hội phù hợp, trước hết là môi trường xã hội dân chủ, công bằng, coi dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để phát triển nhanh và bền vững bởi nó phát huy tính tích cực, chủ động, giải phóng năng lực sáng tạo của con người; tạo điều kiện về vật chất; chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo để phát huy nhân tố con người. luan an 15 Đặng Văn Sánh (2017) với công trình Phát huy nhân tố con người trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước [103] đã khẳng định, để đi đến thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ này, Đảng ta đã có thành công nổi bật là, nhận thức đúng và luôn đặc biệt chú trọng xây dựng, phát huy nhân tố con người.
Điều này được biểu hiện tập trung trên các vấn đề cơ bản: đặt trọng tâm trước hết vào việc xây dựng và phát huy cao độ nhân tố chính trị - tinh thần cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; xây dựng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người với tổ chức; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa yếu tố con người và vũ khí trang bị kỹ thuật; thường xuyên bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.