Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Tiến tập trung giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) trong đội ngũ cán bộ hậu cần (CBHC) ở cấp trung đoàn thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN). Dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, nghiên cứu làm rõ các biểu hiện, tác hại, đánh giá thực trạng và xác lập các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn CNCN ở đơn vị cơ sở quân đội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hệ thống quan điểm xây dựng Đảng và rèn luyện đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định CNCN là căn bệnh "mẹ", sinh ra hàng trăm căn bệnh nguy hiểm khác, làm tổn hại đến sự nghiệp cách mạng và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng xu thế toàn cầu hóa mang lại những biến chuyển tích cực, song mặt trái của cơ chế kinh tế đã tạo điều kiện cho lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất nảy sinh trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trong cơ cấu tổ chức của QĐNDVN, cấp trung đoàn là đơn vị cơ sở, cấp chiến thuật cơ bản. Công tác hậu cần cấp trung đoàn là nền tảng hợp thành của công tác hậu cần cấp chiến dịch và chiến lược, trong đó CBHC là lực lượng trực tiếp chỉ đạo, tạo nguồn, quản lý, phân bổ tài chính, vật tư, trang bị. Đặc thù công việc thường xuyên tiếp xúc với tài sản, tiền tệ và các đối tác kinh tế bên ngoài khiến CBHC cấp trung đoàn dễ chịu tác động từ các cám dỗ vật chất. Thực tế cho thấy, một bộ phận CBHC cấp trung đoàn vẫn bộc lộ hạn chế: thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng, vi phạm nguyên tắc và Điều lệ Công tác hậu cần, bớt xén tiêu chuẩn của bộ đội, tham mưu vụ lợi.

Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận CNCN hoặc đạo đức cách mạng ở quy mô chung, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống và toàn diện về phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn dưới góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN, đề xuất các yêu cầu và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong giai đoạn hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 4 nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, khái quát kết quả chủ yếu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết.
  2. Luận giải một số vấn đề lý luận về CNCN và phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN.
  3. Đánh giá thực trạng phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân và những vấn đề đặt ra.
  4. Đề xuất các yêu cầu và giải pháp chủ yếu phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận về CNCN và hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục biểu hiện CNCN trong đội ngũ CBHC cấp trung đoàn.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế tại các trung đoàn bộ binh đủ quân, làm nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu (có biên chế đầy đủ CBHC) thuộc các đơn vị phía Bắc, gồm: Sư đoàn 3 (Quân khu 1), Sư đoàn 316 (Quân khu 2), Sư đoàn 395 (Quân khu 3), Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1), Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2); đồng thời khảo sát học viên đào tạo CBHC cấp trung, sư đoàn tại Học viện Hậu cần.
  • Phạm vi thời gian: Nguồn dữ liệu, tài liệu và kết quả khảo sát thực tế giới hạn chủ yếu từ năm 2011 đến thời điểm thực hiện luận án.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài nghiên cứu qua các nhóm nội dung chính:

Các hướng nghiên cứu của tác giả nước ngoài

  • Nghiên cứu về bản chất và biểu hiện của CNCN: Tác giả Tôn Dật Thanh và Tăng Tập Tam trong công trình "Làm đồ đệ của chủ nghĩa cá nhân hay làm chiến sĩ trung thành của chủ nghĩa tập thể" (1975) đã chỉ ra bản chất của CNCN là việc đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, coi bản thân là trung tâm để phân xét các mối quan hệ xã hội, đối lập với chủ nghĩa tập thể. Kiều Mạnh Sơn trong tác phẩm "Đâu là tiền đồ của chủ nghĩa cá nhân" (1974) phân tích nguồn gốc kinh tế - xã hội của CNCN từ chế độ tư hữu tư liệu sản xuất và khẳng định tính tất yếu của việc xóa bỏ CNCN trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
  • Nghiên cứu về giáo dục đạo đức và phòng, chống tiêu cực: Xunicốp trong tác phẩm "Đạo đức của giai cấp tư sản và đạo đức chủ nghĩa cộng sản" (1974) phân tích sự xung đột giữa chuẩn mực đạo đức cộng sản với lối sống vụ lợi tư sản. Skrưlnich trong công trình "Phong cách sống tích cực, mục đích và phương tiện giáo dục đạo đức" (1982) đề xuất các phương thức giáo dục đạo đức cộng sản cho quân nhân. Đôbrưnina với "Lối sống Xô viết, hôm nay và ngày mai" (1983) làm rõ tính cấp bách của việc xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa.
  • Nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng: Tác giả Hồng Vĩ trong "Các biện pháp chống tham nhũng ở Trung Quốc" (2000) cùng công trình chuyên khảo "Tham nhũng và biện pháp phòng chống tham nhũng ở Trung Quốc" (1998) tập trung phân tích nguồn gốc tham nhũng phát sinh từ các lỗ hổng chuyển đổi thể chế kinh tế và xác định bốn nguyên tắc cơ bản trong kiểm soát tham nhũng gắn với sự lãnh đạo của Đảng và cơ chế pháp chế hóa.

Các hướng nghiên cứu của tác giả trong nước

  • Nghiên cứu về CNCN và phòng, chống suy thoái chính trị, đạo đức: Tác giả Phạm Ngọc Anh (2009) tiếp cận phòng, chống CNCN dưới góc nhìn văn hóa xây dựng Đảng. Nguyễn Thị Hồng Hoa (2010) và Phạm Thị Thúy Vân (2014) hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về chống CNCN gắn với công tác cán bộ và phòng, chống tham nhũng. Các công trình của Nguyễn Ngọc Hà (2013), Nguyễn Bá Dương (2017), Vũ Văn Phúc và Ngô Văn Thạo (2017), Phan Xuân Sơn và Phạm Thế Lực (2014), cùng nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự (2017) đã nhận diện các nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", chỉ rõ căn nguyên bắt nguồn từ CNCN.
  • Nghiên cứu trong môi trường Quân đội nhân dân Việt Nam: Bài nói chuyện lịch sử của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào ngày 12/5/1957 và ngày 19/6/1959 vạch rõ biểu hiện công thần, kèn cựa địa vị của CNCN trong cán bộ quân đội. Vũ Công Toàn (2017) nghiên cứu ảnh hưởng của CNCN trong cán bộ doanh nghiệp quân đội. Các tác giả Phạm Văn Vinh (2007), Đặng Nam Điền (2008), Nguyễn Tiến Bình (1993), Phạm Văn Nhuận (2010), Đặng Sỹ Lộc (2014), Đặng Đức Thắng (2008), Lê Văn Làm (2005), Vũ Văn Thường (2013), Phạm Xuân Hảo (2010), Vũ Đình Đắc (2013) nghiên cứu việc rèn luyện đạo đức cách mạng và xây dựng lối sống quân nhân.
  • Nghiên cứu trực tiếp về cán bộ hậu cần quân đội: Hà Nguyên Cát (1997) xác định đặc thù đạo đức cách mạng của CBHC thể hiện tập trung ở đức "liêm", đức "kiệm" và sự tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật nghiệp vụ. Trần Như Chủ (1996) phân tích các chuẩn mực đạo đức CBHC và xác lập ba nhóm giải pháp xây dựng môi trường đạo đức. Nguyễn Ngọc Ba (2016) nghiên cứu tác động của chủ nghĩa thực dụng đến nhân cách người CBHC trong điều kiện mới.
Hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Trọng tâm nội dung đã công bố
Lý luận chung về CNCN (quốc tế) Tôn Dật Thanh, Kiều Mạnh Sơn, Xunicốp Phân tích nguồn gốc tư hữu, bản chất đối lập giữa CNCN và chủ nghĩa tập thể.
Phòng, chống tham nhũng, lối sống Hồng Vĩ, Skrưlnich, Đôbrưnina Kinh nghiệm pháp chế hóa, giáo dục phong cách sống tích cực trong tập thể.
CNCN và suy thoái đạo đức (Việt Nam) Nguyễn Bá Dương, Vũ Văn Phúc, Phạm Thị Thúy Vân Nhận diện 27 biểu hiện suy thoái theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.
CNCN trong quân đội Nguyễn Chí Thanh, Vũ Công Toàn Phê phán tư tưởng công thần, kèn cựa địa vị, tác động tiêu cực đến doanh nghiệp quân đội.
Đạo đức nghề nghiệp cán bộ hậu cần Hà Nguyên Cát, Trần Như Chủ, Nguyễn Ngọc Ba Chuẩn mực "liêm, kiệm", tác động của kinh tế thị trường và chủ nghĩa thực dụng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua việc tổng quan, tác giả xác định các công trình đã công bố chưa nghiên cứu một cách chuyên biệt, đồng bộ về phòng, chống CNCN trong đối tượng CBHC ở cấp trung đoàn bộ binh. Đây là cấp trực tiếp thực thi việc quản lý, phân bổ tài chính, vật tư, dễ nảy sinh tiêu cực trong cơ chế thị trường. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, xây dựng hệ thống giải pháp gắn với tính chất cơ sở chiến thuật của đơn vị quân đội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Nền tảng lý luận của luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, bồi dưỡng nhân tố con người, nâng cao đạo đức cách mạng và quét sạch CNCN. Bên cạnh đó, luận án vận dụng các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII), các nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác cán bộ quân đội và ngành Hậu cần giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo.

Hệ thống khung khái niệm công cụ bao gồm: khái niệm "cá nhân", "chủ nghĩa cá nhân", "cán bộ hậu cần", "cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn QĐNDVN". Khái niệm trung tâm của công trình là: "Chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn QĐNDVN" và "Phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn QĐNDVN".

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa điều kiện kinh tế - xã hội với ý thức đạo đức. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Phương pháp định tính và lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tư liệu văn kiện; phương pháp lôgíc kết hợp lịch sử; phương pháp hệ thống - cấu trúc; phương pháp so sánh đối chiếu.
  • Phương pháp thực tiễn: Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi; thống kê xử lý số liệu khảo sát; phương pháp chuyên gia nhằm tham vấn ý kiến cán bộ chỉ huy, quản lý và giảng viên chuyên ngành.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, hướng dẫn của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, bao gồm Quyết định số 0908/2001/QĐ-TM ngày 09/5/2001 của Bộ Tổng Tham mưu về tổ chức biên chế trung đoàn bộ binh thời bình; Điều lệ Công tác hậu cần QĐNDVN; Chỉ thị số 214-CT/BQP ngày 14/3/1995 về phong trào thi đua "Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy".
  • Báo cáo sơ kết, tổng kết công tác đảng, công tác chính trị, công tác hậu cần của Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và các đơn vị quân đội.
  • Số liệu điều tra xã hội học do tác giả trực tiếp thực hiện từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu tại 5 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 3, 316, 395, 312, 325) và Học viện Hậu cần.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này đánh giá các công trình khoa học trong và ngoài nước theo ba hướng tiếp cận: nghiên cứu lý luận về CNCN; nghiên cứu về phòng, chống CNCN trong quân đội; và nghiên cứu về đạo đức của CBHC. Tác giả khái quát bốn kết quả đạt được từ các nghiên cứu tiền nhiệm, đồng thời xác lập bốn vấn đề mà luận án tập trung giải quyết:

  • Phân tích nguồn gốc, bản chất, biểu hiện của CNCN trong CBHC cấp trung đoàn từ góc độ lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Xây dựng hệ thống khái niệm công cụ và làm rõ quan niệm trung tâm về phòng, chống CNCN trong CBHC cấp trung đoàn.
  • Khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng phòng, chống CNCN tại các đơn vị trung đoàn bộ binh đủ quân từ năm 2011 đến nay.
  • Xác định yêu cầu và đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. CNCN được xác định là việc tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên, lên trước và đối lập với lợi ích tập thể. Tác giả đưa ra định nghĩa về CBHC ở cấp trung đoàn: là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên, được bổ nhiệm chức danh chỉ huy cơ quan hậu cần (chủ nhiệm, phó chủ nhiệm) hoặc trợ lý hậu cần theo Quyết định số 0908/2001/QĐ-TM, chịu trách nhiệm bảo đảm vật chất cho trung đoàn.

Luận án phân tích ba đặc điểm riêng biệt của CBHC cấp trung đoàn tác động đến nguy cơ phát sinh CNCN:

  1. Nguồn đào tạo chủ yếu từ Học viện Hậu cần (hoặc các trường dân sự có chuyên ngành gần), có kiến thức chuyên môn sâu nhưng dễ bị chi phối bởi tư duy nghiệp vụ.
  2. Trực tiếp thực thi công tác nuôi dưỡng, bảo đảm đời sống bộ đội và cơ sở vật chất huấn luyện, dễ sa vào công việc sự vụ thuần túy, xem nhẹ công tác đảng, công tác chính trị.
  3. Thường xuyên tiếp xúc với thị trường và đối tác kinh doanh thông qua việc chuyển đổi từ phương thức bảo đảm bằng hiện vật sang kết hợp cấp phát kinh phí với khai thác tạo nguồn tại chỗ, dẫn đến nguy cơ bị chi phối bởi lợi ích vật chất cá nhân.

Từ đó, luận án nhận diện biểu hiện của CNCN trong CBHC cấp trung đoàn ở hai phương diện:

  • Tư tưởng chính trị: Phai nhạt lý tưởng, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng; coi nhẹ công tác đảng, công tác chính trị; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, a dua theo các quan điểm lệch lạc.
  • Đạo đức, lối sống: Vi phạm các chuẩn mực cần, kiệm, liêm, chính; lợi dụng chức vụ để bớt xén chế độ, tiêu chuẩn của bộ đội; thông đồng với đối tác nâng giá vật tư, tạo nguồn kém chất lượng để trục lợi cá nhân.

Chương 3: Phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra

Chương 3 phân tích thực tế triển khai công tác phòng, chống CNCN tại các đơn vị cơ sở. Thực trạng cho thấy cấp ủy, chỉ huy các trung đoàn đã quán triệt các nghị quyết của Đảng, duy trì nền nếp kiểm tra, gắn phong trào "Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy" với việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh. Đại đa số CBHC cấp trung đoàn giữ vững phẩm chất, bảo đảm tốt chế độ, tiêu chuẩn cho bộ đội.

Tuy nhiên, luận án chỉ rõ các hạn chế còn tồn tại: một bộ phận CBHC thiếu ý thức tự rèn luyện, còn biểu hiện quan liêu, thực dụng, tùy tiện trong chấp hành nguyên tắc tài chính và Điều lệ Công tác hậu cần. Nguyên nhân khách quan xuất phát từ mặt trái kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo và âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân chủ yếu, bắt nguồn từ sự buông lỏng tự phê bình và phê bình của cá nhân cán bộ, sự thiếu kiên quyết trong kiểm tra, giám sát của một số tổ chức đảng và cơ quan quản lý cấp cơ sở.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp chủ yếu phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở thực trạng, luận án xác định các yêu cầu cơ bản và đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp chủ yếu:

  1. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với ngành Hậu cần quân đội.
  2. Nâng cao vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và năng lực quản lý của người chỉ huy trung đoàn đối với công tác bảo đảm hậu cần và đội ngũ CBHC.
  3. Hoàn thiện cơ chế quản lý, quy chế công khai, minh bạch trong tạo nguồn, mua sắm vật tư, thanh quyết toán kinh phí, khắc phục triệt để các kẽ hở quản lý dễ phát sinh tiêu cực.
  4. Phát huy tính tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn của từng CBHC cấp trung đoàn; xây dựng phong cách làm việc sâu sát, khoa học, vì bộ đội.
  5. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chuyên ngành hậu cần và kỷ luật quân đội; xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật và quy định của ngành.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án của tác giả Nguyễn Trọng Tiến mang lại những đóng góp cụ thể về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  • Về lý luận: Luận án bổ sung và làm rõ hệ thống khái niệm công cụ, xây dựng định nghĩa khoa học về "Chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn QĐNDVN" dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. Công trình làm sáng tỏ ba đặc điểm đặc thù của CBHC cấp cơ sở trong bối cảnh thay đổi phương thức bảo đảm hậu cần từ hiện vật sang kết hợp ngân sách kinh phí với khai thác thị trường tại chỗ.
  • Về thực tiễn: Công trình cung cấp bức tranh thực trạng về công tác phòng, chống CNCN tại các trung đoàn bộ binh đủ quân thuộc miền Bắc từ năm 2011 đến nay. Các dữ liệu khảo sát làm rõ thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề nảy sinh trong quản lý cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở cấp chiến thuật.
  • Về giải pháp: Luận án xác lập hệ thống năm nhóm giải pháp đồng bộ, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính - hậu cần, phát huy tính tự tu dưỡng của cán bộ và siết chặt kiểm tra, giám sát.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế của luận án giới hạn tại các trung đoàn bộ binh đủ quân đóng quân ở địa bàn miền Bắc (thuộc Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân đoàn 1, Quân đoàn 2) và Học viện Hậu cần. Luận án chưa khảo sát các trung đoàn thuộc các quân chủng khác (Hải quân, Phòng không - Không quân) hoặc các đơn vị đóng quân tại miền Trung, miền Nam. Khung thời gian dữ liệu giới hạn từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành luận án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát thực tế đến các loại hình đơn vị chuyên môn kỹ thuật, quân chủng Hải quân, Phòng không - Không quân và các đơn vị trên toàn quân. Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát nội bộ và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý vật tư, tài chính hậu cần nhằm hạn chế nguy cơ tiêu cực, vụ lợi.

Giá trị tham khảo

Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và lãnh đạo đơn vị: Đảng ủy, chỉ huy các trung đoàn bộ binh và cơ quan hậu cần các cấp có thể vận dụng hệ thống giải pháp của luận án để hoàn thiện quy chế làm việc, quản lý vật tư, tài chính và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tiêu cực trong đơn vị.
  • Cơ sở đào tạo quân đội: Học viện Hậu cần, Học viện Chính trị và các trường sĩ quan có thể sử dụng nội dung luận án làm tài liệu phục vụ giảng dạy các chuyên đề về Chủ nghĩa xã hội khoa học, Đạo đức học quân sự và Công tác đảng - công tác chính trị trong bảo đảm hậu cần.
  • Người nghiên cứu khoa học: Cung cấp khung lý thuyết và phương pháp khảo sát thực tế cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, rèn luyện đạo đức công vụ và phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đội ngũ cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam gồm những chức danh cụ thể nào?

Theo quan niệm của tác giả và căn cứ vào Quyết định số 0908/2001/QĐ-TM ngày 09/5/2001 của Bộ Tổng Tham mưu, CBHC ở cấp trung đoàn gồm các sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên, được bổ nhiệm là người chỉ huy cơ quan hậu cần (chủ nhiệm và phó chủ nhiệm hậu cần trung đoàn) và các trợ lý hậu cần tại ban hậu cần trung đoàn cũng như tại các tiểu đoàn trực thuộc.

2. Yếu tố đặc thù nào khiến cán bộ hậu cần cấp trung đoàn dễ bị tác động bởi chủ nghĩa cá nhân?

Văn bản chỉ rõ hai yếu tố đặc thù chính: Thứ nhất, phương thức bảo đảm hậu cần chuyển từ cấp phát hiện vật sang kết hợp cấp phát ngân sách (tiền mặt) để khai thác tại chỗ. Thứ hai, CBHC cấp trung đoàn thường xuyên tiếp xúc với thị trường, thực hiện việc đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán lương thực, thực phẩm, thuốc men và vật tư, tạo ra môi trường chịu nhiều áp lực từ cám dỗ vật chất và lợi ích cá nhân.

3. Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần cấp trung đoàn về mặt tư tưởng chính trị được luận án chỉ ra là gì?

Về tư tưởng chính trị, CNCN biểu hiện ở sự phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng; suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng; có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; xem nhẹ công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ hậu cần; thiếu ý thức tổ chức kỷ luật và vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

4. Dữ liệu khảo sát thực tế của luận án được thu thập tại những cơ quan, đơn vị nào và trong khoảng thời gian nào?

Số liệu khảo sát được tác giả thu thập chủ yếu từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành luận án, tại các trung đoàn bộ binh đủ quân thuộc: Sư đoàn 3 (Quân khu 1), Sư đoàn 316 (Quân khu 2), Sư đoàn 395 (Quân khu 3), Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1), Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) và lớp học viên đào tạo CBHC cấp trung, sư đoàn tại Học viện Hậu cần.

5. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng cốt lõi nào của người cán bộ hậu cần được luận án nhấn mạnh?

Luận án kế thừa quan điểm từ các công trình trước (tiêu biểu như nghiên cứu của Hà Nguyên Cát và Trần Như Chủ), nhấn mạnh phẩm chất "Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư", trong đó đặc thù của người cán bộ hậu cần thể hiện tập trung nổi bật ở đức "Liêm" và đức "Kiệm", gắn liền với kỷ luật nghiệp vụ hậu cần và tinh thần phục vụ bộ đội.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Tiến là công trình nghiên cứu hệ thống về vấn đề phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ hậu cần cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. Bằng việc phân tích sâu sắc các đặc điểm chức trách, sự thay đổi phương thức bảo đảm hậu cần trong nền kinh tế thị trường và kết quả khảo sát thực tế tại các đơn vị quân đội từ năm 2011 đến nay, luận án đã chỉ rõ thực trạng cùng căn nguyên của các hạn chế. Hệ thống các yêu cầu và năm nhóm giải pháp được đề xuất có tính khả thi, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.