Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của tác giả nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa cá nhân Tác giả Tôn Dật Thanh, Tăng Tập Tam trong cuốn sách“Làm đồ đệ của chủ nghĩa cá nhân hay làm chiến sĩ trung thành của chủ nghĩa tập thể” [116] đã đưa ra quan niệm CNCN là gì? Nói vắn tắt là tất cả vì cá nhân, lợi ích cá nhân cao hơn hết thảy. Khi phần tử cá nhân chủ nghĩa xem xét, giải quyết vấn đề đều coi tôi là tâm O, danh lợi cá nhân là bán kính.
CNCN còn gọi là “chủ nghĩa vì tôi”, “chủ nghĩa lợi kỷ” nữa. Chỉ ra những biểu hiện của CNCN (tư tưởng cá nhân) như: giải quyết vấn đề học tập, sinh hoạt, công tác của cá nhân mình không xuất phát từ lợi ích chung của nhân dân và Tổ quốc mà xuất phát từ lợi ích cá nhân bé nhỏ, chật hẹp; có tư tưởng cá nhân trong đầu óc dễ đi theo chủ nghĩa hưởng lạc, rất thèm lối sống xa xỉ, theo đuổi mục đích hưởng thụ vật chất, mất hẳn ý chí cách mạng, không thấy được tiền đồ rộng lớn, ngày nọ ngày kia chỉ biết say sưa trong lạc thú thấp hèn và ti tiện; có tư tưởng cá nhân tư sản trong đầu óc là đi theo chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Những người mang nặng tư tưởng này thường có lối nhìn lộn ngược trong so sánh vai trò của cá nhân với vai trò của quần chúng; tư tưởng cá nhân là của giai cấp tư sản còn biểu hiện trên mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức và tập thể, cá nhân với cá nhân. Tư tưởng này thường diễn ra theo hai chiều hướng, chiều hướng xem thường tổ chức và tập thể hoặc công việc của tổ chức và tập thể tùy thuộc vào việc có lợi hay không có lợi với bản thân họ mà quyết định.
luan an 11 Trong đời sống xã hội có người thừa nhận có tư tưởng cá nhân nhưng lại không chịu khắc phục sửa chữa, còn mơ ước làm “phần tử CNCN trong xã hội xã hội chủ nghĩa”. Khẳng định tư tưởng cá nhân và tư tưởng tập thể là hai tư tưởng đối địch nhau. Chúng ta đề xướng CNTT không phải là phủ định cá tính và cá tính ủng hộ cộng tính thì cá tính mới phát triển phong phú, lành mạnh. Khắc phục tư tưởng cá nhân là một quá trình lâu dài, gian khổ.
Con đường trọng yếu để khắc phục tư tưởng CNCN là đi sâu vào quần chúng, lăn mình vào lao động, là xông vào cuộc đấu tranh nước sôi lửa bỏng, đó chính là điều kiện rèn luyện và cải tạo mình, gần gũi quần chúng. Từ đó, tác giả rút ra, “quét sạch tư tưởng CNCN của giai cấp tư sản, vun xới tư tưởng tập thể của giai cấp công nhân trong đầu óc mỗi cá nhân… là một nhiệm vụ cách mạng cực kỳ lớn lao”[116, tr. Tác giả Kiều Mạnh Sơn trong cuốn sách“Đâu là tiền đồ của chủ nghĩa cá nhân”[111] đã nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề CNCN như: Nguồn gốc nảy sinh CNCN; những biểu hiện của CNCN; tính chất nguy hại của CNCN; nếu mắc phải CNCN phải có phương hướng tu dưỡng, rèn luyện đúng đắn khắc phục CNCN, một tư tưởng cần phê phán kịch liệt dưới chế độ XHCN. Trong đó chỉ rõ: Một là, mấy loại biểu hiện chính của CNCN.
Thứ nhất, cần hiểu CNCN là gì? CNCN nói vắn tắt là “ đặt lợi ích lên hàng đầu, mọi vấn đề đều xuất phát từ cá nhân, làm việc gì, đối xử với ai đều đặt “ta” lên đầu. Thứ hai, CNCN có những biều hiện chính như: tự kiêu, tự mãn, anh hùng cá nhân; tự do chủ nghĩa vô nguyên tắc; hai thái độ khác nhau với của công và của riêng; nguồn gốc của CNCN là nhân sinh quan và đạo đức của giai cấp bóc lột; chế độ tư hữu tư liệu sản xuất là nguồn gốc của CNCN; chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa đã đưa CNCN phát triển tới cực điểm. Hai là, tính chất nguy hại của CNCN ảnh hưởng tới sự nghiệp xây dựng xã hội XHCN; CNCN làm nhụt chí khí cách mạng của con người; CNCN càng phát triển tất nhiên sẽ dẫn tới trụy lạc, hủ hóa; CNCN dễ bị bọn phản cách mạng lợi dụng; CNCN phát triển tới cực điểm, tất sẽ chống lại Đảng, chống lại nhân dân. Ba là, CNCN không có luan an 12 tiền đồ, bởi CNCN là đối tượng của cách mạng XHCN.
Đẩy lùi, xóa bỏ CNCN đó là quy luật tất nhiên của sự phát triển xã hội XHCN. Bốn là, CNTT có tiền đồ nhất, nó trái hẳn với CNCN, CNTT là tất cả vì tập thể, phục tùng lợi ích tập thể. Vì lợi ích tập thể, người ta có thể tự giác hy sinh hết thảy mọi cái của cá nhân mình; tư tưởng tập thể là nguồn sinh ra mọi phẩm chất cao quý. Năm là, gột rửa CNCN làm cho mọi người theo CNTT, cần nhận thức đúng đắn quan hệ giữa cá nhân với lợi ích tập thể; nâng cao cảnh giác, ngăn ngừa CNCN xâm nhập vào mỗi con người; đi vào lao động và đấu tranh, chịu sự giám sát của Đảng và quần chúng; nỗ lực học tập chủ nghĩa Mác - Lênin.
Các công trình nghiên cứu về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân Tác giả Xunicốp trong cuốn sách “Đạo đức của giai cấp tư sản và đạo đức chủ nghĩa cộng sản” [141] cho rằng: Đạo đức đồi bại trụy lạc của giai cấp tư sản hoàn toàn trái ngược với đạo đức cộng sản. Đạo đức cộng sản là đạo đức bình đẳng, tương trợ, chống lại mọi tư tưởng áp bức, bóc lột trong xã hội; động viên toàn thể quần chúng lao động đấu tranh lật đổ giai cấp thống trị, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cơ sở kinh tế của đạo đức cộng sản là chế độ công hữu của xã hội về tư liệu sản xuất và lao động của mỗi người đều nhằm phục vụ lợi ích chung. Đạo đức cộng sản là sự phát triển cao độ đạo đức của giai cấp vô sản.
Nó hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Phẩm chất đạo đức của giai cấp vô sản thể hiện lòng trung thành với quyền lợi của nhân dân, tinh thần đấu tranh chống bọn bóc lột của giai cấp vô sản. Tuy nhiên, giai cấp tư sản ra sức đầu độc xã hội bằng tâm lý ích kỷ, tham lam cá nhân, cổ súy tự do cá nhân, đề cao CNCN. Vì vậy, trên con đường xây dựng đạo đức cộng sản, cần cảnh giác đấu tranh, ngăn ngừa với những thứ “đạo đức” do giai cấp tư sản đề xướng.Skrưlnich trong công trình “Phong cách sống tích cực, mục đích và phương tiện giáo dục đạo đức” [110], đã bàn về mục đích, yêu cầu và phương pháp của giáo dục đạo đức cộng sản.
Theo tác giả, mục đích của giáo dục đạo đức là xây dựng phong cách sống tích cực và luan an 13 do đó, nội dung, bản chất của nó là tạo cho con người có những phẩm chất đạo đức cao đẹp, thái độ trung thực đối với việc thực hiện chức trách của mình. Vì vậy, trên quan điểm đạo đức, mỗi người chỉ huy phải nhìn thấy trong mỗi con người cấp dưới của mình những ưu điểm và thiếu sót, những mặt mạnh và yếu, dựa vào đó để xây dựng một không khí đạo đức cần thiết trong tập thể, phòng, chống CNCN. Có được không khí đó, cần nắm và hiểu các nguyên tắc đạo đức công sản, trên cơ sở đó xây dựng nên phong cách sống tích cực.Đôbrưnina trong công trình “Lối sống Xô viết, hôm nay và ngày mai” [49], đã đi sâu phân tích các vấn đề: “Hai thế giới - hai lối sống”, “Tính chất dân chủ của lối sống xã hội chủ nghĩa”, “Lao động và lối sống”, “Văn hóa và lối sống” để làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễn về lối sống XHCN; từ đó khẳng định việc xây dựng lối sống XHCN có ý nghĩa cấp bách và quan hệ chặt chẽ với các nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, xây dựng các quan hệ xã hội và xây dựng con người mới của CNCS. Đây là nội dung quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp nhằm phê phán những quan điểm, tư tưởng chống cộng và cơ hội - xét lại đang xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của các đảng cộng sản, đề cao tự do cá nhân và tôn thờ CNCN; đồng thời tuyên truyền những thành tựu của CNXH hiện thực trong nhân dân.
Tác giả Hồng Vĩ trong cuốn sách “Các biện pháp chống tham nhũng ở Trung Quốc”[134], cho rằng ở Trung Quốc từ khi cải cách, mở cửa, nạn tham nhũng đã phát triển mạnh mẽ và trở thành điểm nóng được Đảng và Nhà nước Trung Quốc hết sức quan tâm. Tác giả tập trung làm rõ bốn vấn đề: Một là, tình trạng tham nhũng ở Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa; Hai là, các dạng tham nhũng; Ba là, nguyên nhân của tình trạng tham nhũng; Bốn là, các biện pháp chống tham nhũng. Đồng thời chỉ rõ nguyên nhân nảy sinh tham nhũng ở Trung Quốc trong quá trình hiện đại hóa đó là: Thứ nhất, hiện đại hóa liên quan đến sự thay đổi giá trị quan cơ bản của xã hội. Sự xung đột giữa luan an 14 chuẩn mực cũ và mới đã tạo cơ hội cho cá nhân hoạt động theo phương thức chưa được chấp nhận theo cả hai chuẩn mực, dẫn đến hiện tượng những ham muốn cá nhân trỗi dậy; Thứ hai, hiện đại hóa đã mở ra nguồn tài chính và quyền lực mới, từ đó trợ giúp cho hành vi tham nhũng phát triển; Thứ ba, cải cách thể chế chính trị trong quá trình hiện đại hóa làm tăng thêm tính nghiêm trọng của vấn đề tham nhũng.
Quá trình chuyển đổi ở xã hội Trung Quốc từ thể chế cũ bằng thể chế mới, vòng quay và lỗ hổng trong quá trình chuyển giao là nguyên nhân tham nhũng phát triển nhiều [134, tr.309] Cuốn sách chuyên khảo “Tham nhũng và biện pháp phòng chống tham nhũng ở Trung Quốc” [109], đã nêu ba vấn đề lớn: Một là, phác họa các dạng tham nhũng hết sức đa dạng; Hai là, phân tích nguyên nhân tham nhũng, trong đó chỉ ra, nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do CNCN gây ra; Ba là, chống tham nhũng ở các địa phương, ban ngành phải được tiến hành với những giải pháp cơ bản nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi mọi biểu hiện của CNCN. Cuốn sách khẳng định tham nhũng là vấn nạn của mọi quốc gia trên thế giới. Trung Quốc trong thời kỳ mở cửa phát triển kinh tế, cùng với đó nạn tham nhũng cũng gia tăng.