Chương 1: Tổng qua về để tài nghiên cứu Chương 2: Co sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận va ham ý quản trị. TOM TAT CHUONG 1 Trong chuong 1, tac gia đã trình bày bức tranh tông quan vẻ dé tai nghiên cứu, xây dựng: Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và rút ra được ý nghĩa của đề tài và khái quát cấu. Đó là cơ sở để hoàn chỉnh cấu trúc và mô hình nghiên cứu, là tiề để đi sâu vào nghiên cứu trong các chương tiếp theo.
12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU. Khái niệm về Cán bộ, Nhân viên trong quân đội nhân dân Việt nam. Để góp phần xây dựng quân đội nhân dân việt nam "Cách mạng, chính quy, tinh nhu và hiện đại". Ngay từ khi ra đời, Quân đội được xem là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.Quân đội Nhân dân xuất thât từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh "vì độc lập tự do của.
'Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”' Để xây dựng được một đội quân tỉnh nhuệ, quan điểm quân sự của Dang, nha nước ta lấy con người làm nhân tố trung tâm. Mà đội ngũ đông đão và được xem là trung tâm ấy chính là người Cán bộ, người Nhân viên trong Quân đội. “Theo luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam thì Cán bộ quân đội được hiểu đó là: Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam là Cán bộ quân đội được nhà nước. phong quân hàm cấp Tướng.
cấp tá, cắp úy với các nghành : Tham mưu- chỉ huy, Sĩ quan chính trị, Sĩ quan hậu cẩn và tài chính, Sĩ quan kỹ thuật, Sĩ quan quân y và thú y, Sĩ quan quân pháp, Sĩ quan hành chính. Đội ngũ Sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam có hai ngạch đó là ngạch tại ngũ và ngạch dự bị. 'Nhân viên trong Quân đội được hiểu đó là đội ngũ Quân Nhân chuyên nghiệp, công nhân viên và Hạ sĩ quan, binh sĩ. Quy chế về Quân nhân chuyên nghiệp được quy định lần đầu vào năm 1982 và sửa đổi bổ sung vào năm 1992.
Năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 18/2007/NĐ-CP về Quân nhân chuyên nghiệp. trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân nhân chuyên nghiệp là quân nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định cần cho công tác chỉ huy chiến đấu và xây dựng Quân đội, do đó làm công tác chuyên môn nghiệp vụ dài hạn trong quân đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Quan nhan chuyên nghiệp không làm công tác chỉ huy, quản lý.
Chức vụ của Quân. 13 nhân chuyên nghiệp được xác định theo trình độ đảo tạo (Sơ cắp, Trung cấp, Cao cấp) và hệ số lương. Cấp hàm thấp nhất của quân nhân chuyên nghiệp là Thiếu úy và cao nhất là Thuong ta. “rong Quân đội, công nhân viên chức quốc phỏng là tên gọi chung (không có.
cấp bậc, quân hàm) của hai diện quản lý gồm: Đối với diện Cán bộ Quản lý gọi là công chức quốc phòng. Đối với diện Quân lực quản lý gọi là công nhân quốc phòng. Chức vụ của Công nhân viên chức quốc phòng thường được gọi là Nhân viên hoặc Thợ Kỹ thuật đầu ngành. Theo Nghị định 54/CP ngày 07 tháng 8 năm 1995 của Chính phủ vẻ việc Ban hành Điều lệ Hạ sĩ quan, Binh sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hạ sĩ quan- Bình sĩ có hai ngạch là tại ngũ và dự bị. Đối với dự bị thì có hai hạng: Một và hai. Chức vụ Chiến sĩ thường là Binh nhất, Binh nhì Chức vụ Phó Tiểu đội trưởng thường là Bình nhất, Hạ sĩ Chức vụ Tiểu đội trưởng thường là Hạ sĩ, Trung sĩ Chức vụ Phó Trung đội trưởng thường là Trung sĩ, Thượng sĩ Nhu vay người Cán bộ trong quân đội là người giữ vai trò hoạch định, xây dựng chiến lược, kế hoạch, xác định các mục tiêu triển khai các giải pháp. Những gì liên quan đến chủ trương, chiến lược, tô chức nhân sự, tổ chức lực lượng thì người cán bộ giữ vai trò quyết định.
Nên Bác Hồ khẳng định " Cán bộ là gốc của mọi công. việc, công việc thành hay bại tốt hay xấu đều xuất phát từ Cán bộ”. Nhân viên là người sẽ lĩnh hội, tiếp thu các chủ trương đường lố và các giải pháp đó và bằng trí tuệ, kiến thức và kỹ năng, sức lực của mình để tiến hành tổ chức thực hiện các chỉ tiêu đã hoạch định và các kế hoạch đã xây dựng. Tuy nhiên giữa cán bộ và nhân viên có mối quan hệ hết sức khăng khít như " Răng với môi-Môi hở thì răng lạnh”.
Ngoài quan hệ là người chỉ huy lãnh đạo và 14 người phục tùng chỉ huy lãnh đạo thi ho là đồng chí, đồng đội, tỉnh như thủ túc. Do đó để phát huy được sức mạnh của tập thể thì phải phát huy được sức mạnh của đội ngũ Cán bộ nhân viên trong quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đó mới tô lên nét dep của Quân đội nhân dân Việt Nam là đẹp ở sự thống nhất. Trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước, với nhiệm vụ đào tạo Phi công quân sự, Sĩ quan dù, tìm kiếm cứu nạn đường không, nhân viên chuyên môn kỹ thuật hàng không cho Quân đội nhân dân Việt nam.
Trường Sĩ quan Không quân ‘TP Nha Trang đang đầu tư xây dựng theo mô hình nhà trường thông minh, tiếp cận. cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi thì trường cũng có những khó khăn bắt câp như trang thiết bị, máy bay thế hệ cũ hay phát sinh hỏng hóc, lực lực lượng thiểu so với biên chế, nguồn Cán bộ được bồ sung. hàng năm thiếu so với lực lượng Cán bộ nghỉ hưu và thuyên chuyển.
Trong công tác xây dựng và quản lý Cán bộ, nhân viên gặp phải nhiều tinh huống rủi ro như để xây ra 06 vụ việc và xử lý kỷ luật 15 Cán bộ, nhân viên. Trong, đó cảnh cáo 8, khién trách 5. tước danh hiệu quân nhân I, giải quyết phục viên l, hy sinh 2, chết do tai nạn 1 ( Tính trong năm 2019). Trong công tác huấn luyện: Xây ra một vụ tai nạn bay cấp 1 ngày 16/9/2020.
trên máy bay IaK52 làm hy sinh 2 Phi công, một vụ uy hiếp tai nạn bay ngày 27/8/2019 trên máy bay IaK 52, , một vụ uy hiếp tai nạn bay ngày 6/8/2019 trên máy bay L39, Thống kê hỏng hóc kỹ thuật máy bay trong năm 2019: mặt đất 48 lần ( lak:42. lần, L39:6 lần, Mi8: 0 lần); : Trên không 7 lần ( lak: 3 lần, L39:3 lần, Mi8: 1 lần). “Trước thực trạng trên phần nảo tác động ít nhiều đến tâm lý, ý chí và quyết tâm trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ của Cán bộ, Giảng viên trường Sĩ quan Không quân. Do đó việc nâng cao động lực làm việc cho Cán bộ, Giảng viên là hết sức cần thiết.
Co’ sé ly thuyết về tạo động lực làm việc Theo Bedeian (1993). "động lực là cố gắng để đạt mục tiêu của mỗi cá nhân". Theo Kreitner (1995), "động lực là một quá trình tâm lí mà nó định hướng các hành. vi cá nhân theo mục đích nhất định”.
Theo Higgins (1994), "động lực là lực day tir bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cẳu chưa được thỏa mãn”. Động lực làm việc của nhân viên là những yếu tố bên trong kích thích nhân viên làm việc và cho phép họ tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Động lực làm việc gắn liền với lợi ích của nhân viên và ngược lại lợi ích tạo ra động lực cho nhân viên. “Trên thực tế động lực được tạo phụ thuộc vào cơ chế chính sách cụ thể, như là một công cụ cho sự phát triển của xã hội.
Đông lực “là năng lượng làm cho bộ máy chuyển động: hay là cái thúc đẩy, làm cho phát triển " (Từ dién tiếng Việt, 1996), Theo Maier va Lawler (1973), động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân, họ đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng * Động lực Khả năng = Khả năng bằm sinh * Đảo tạo * Các nguồn lực Đông lực = Khao khát * Tự nguyện Higgins (1994), động lực là lực đầy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Như vậy, có thể hiểu động lực làm việc như sau: ~ Đông lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân nhân viên, khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. ~ Động lực làm việc là sẽ đem lại năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao trong điều kiện các nhân tố.
khác không thay đổi. Thuyét nhu céiu ctia A.Maslow(1943) Hệ thống nhu cầu của Maslow là một lý thuyết về tâm lý học được đề xuất bởi Abraham Maslow trong bài viết "A Theory of Human Motivation" năm 1943 trong Đánh giá Tâm lý hoc. Maslow sau đó đã mở rộng ý tưởng bao gồm những quan sắt của ông về sự tö mỏ bẩm sinh của con người. Các lý thuyết của ông song song với nhiều lý thuyết khác về tâm lý học phát triển của con người, một số trong đó tập trung vào việc mô tả các giai đoạn tăng trưởng ở người.
Sau đó, ông đã tạo ra một hệ thống phân loại phản ánh nhu cầu phổ biến của xã hội làm cơ sở và sau đó tiến tới những cảm xúc có được nhiều hơn. Hệ thống nhu cầu của Maslow được sử dụng dé nghiên cứu cách con người thực sự tham gia vào động lực hành vi. Maslow đã sử dụng các thuật ngữ "sinh lý", "an toàn", "thuộc về tỉnh yêu", "nhu cầu xã hôi" hoặc "lòng tự trọng" và "tự thể hiện" để mô tả mô hình mà động lực của con người thường di chuyển. Điều này có nghĩa là để động lực phát sinh ở giai đoạn tiếp theo, mỗi giai đoạn phải được thỏa mãn trong chính cá nhân họ.
Ngoài ra, lý thuyết này là. cơ sở chính đề biết nỗ lực và động lực có tương quan như thế nào khi thảo luận về: hành vi của con người. Mỗi cấp độ riêng lẻ này chứa một lượng cảm giác bên trong nhất định phải được đáp ứng để một cá nhân hoài thành hệ thống phân cấp của họ. Mục tiêu trong lý thuyết của Maslow là đạt được cấp độ hoặc giai đoạn thứ năm.