Chương 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY HOAT DONG DAY HOC O TRUONG TRUNG CAP CHUYEN NGHIEP 1. Khai quat lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Giáo dục là hoạt động đặc biệt, có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển của loài người nói chung. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, giáo dục là động lực hàng đầu đem lại cường thịnh, bền vững cho mỗi quốc gia, cho từng dân tộc.
Chính vì thế, quan tâm, đầu tư và nghiên cứu về giáo dục là nhiệm vụ, yêu cầu có tính bắt buộc, đặc biệt trong thời đại bùng nỗ khoa học công nghệ như hiện nay. Dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng trong giáo dục, là hoạt động mà hiệu quả của nó quyết định đến chất lượng và thậm chí là cả cơ cấu, sách lược, mục tiêu, biện pháp. của toàn hệ thống. Chính vì thế, ngay từ thuở bình minh văn minh nhân loại, khi nghiên cứu về giáo dục, các bậc hiền triết - các nhà giáo dục đã chú ý đến mục tiêu, nội dung và cả phương pháp dạy học.
Về nội dung giáo dục, Khổng Tử hướng đến dạy đạo đức, mong muốn truyền dạy được hệ thống luân lý, nhân bản, đạo làm người. Phuong châm giáo dục của Khổng Tử là trước hết phải học lễ - cách làm người, cách sống, sau mới học văn - các tri thức khác phục vụ cho công việc chính trị quốc gia. Không Tử luôn chủ trương dùng đức trị. “Làm chính trị (trị dân) mà dùng đức (để cảm hóa dân) thì như sao Bắc Đầu ở một nơi có định mà các ngôi sao khác hướng về cả (tức thiên ha theo về)” [39, tr.
Về phương pháp dạy học, Khổng Tử chủ yếu truyền đạy bằng cách nêu gương, thực hiện học đi đôi với hành, phát huy tính tích cực của học trò, thường xuyên thực hiện kiểm tra - ôn tập. Cùng với đó, ông còn rất chú đến việc dạy sao phủ hợp với từng đối tượng người học. Với Khổng Từ, hiệu quả của việc dạy học không nằm ở khả năng thuộc lòng hay tài tầm chương trích cú mà ở khả năng vận dụng. Ông từng nhấn mạnh: “Đọc 300 thiên kinh thi, giao cho.
việc chính trị mà làm không nên; sai đi xứ 4 phương mà không biết ứng đối, như vậy đọc nhiều để làm gì?” [39, tr. Có thể nói, nhiều những tư tưởng của Không tử: "1 trong giáo dục - dạy học vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay. Socrates (469 hoặc 470-399 TCN) là người đặc biệt chú trọng đến các phương pháp dạy học. Ông nỗi tiếng với việc dạy học bằng cách đàm luận: thầy đặt câu hỏi, trò tự tìm câu trả lời và từ đó tự tìm ra chân lý.
Khi trò hỏi lại thầy, thầy chỉ định hướng, khơi mở hoặc dùng một câu hỏi khác thay cho việc trả lời trực tiếp. Nói riêng về cách đặt câu hỏi của Socrates thì đó thực sự vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, vừa rất cụ thể, gần gũi vừa có thể nâng tầm trở thành kinh điễn, có tính chất giáo khoa. Có thể chia hệ thống câu hỏi của Socrates đối với học trò thành các nhóm: nhóm câu hỏi làm rõ khái niệm, nhóm câu hỏi điều tra các giả định, nhóm tìm hiểu lý do, nguyên nhân và bằng chứng, nhóm hướng về quan điểm và lập trường, nhóm hỏi về ý nghĩa và hậu quả, nhóm câu hỏi nghỉ vấn những câu hỏi. Ngày nay, sau gần 2500 năm, việc “học thầy Socrates về cách đặt câu hỏï” vẫn là một trong những khẩu hiệu, phương châm được nhiều nhà giáo dục phương Tây cổ xúy.Komenski (1592-1670) cho rằng, trong dạy học, có 9 nguyên tắc cần tuân thủ và thực hiện thật tốt.
Thứ nhất, tôn trọng thời gian thích hợp; thứ hai, chuẩn bị chất liệu trước khi tạo hình thức; thứ ba, chọn chủ đề thích hợp, tác động một cách thích hợp đến chủ thể để biến chủ thể trở nên thích hợp; thứ tư, di từng. bước theo một lộ trình hợp lý, có tính kế thừa giữa các nội dung học tập; thứ năm, sự phát triển phải diễn ra từ bên trong; thứ sáu, đi từ phô quát đến đặc thù; thứ bảy, không nhảy vọt nhưng bước từng bước vững chắc; thứ tám, không bỏ giữa chừng; thứ chín, loại trừ các trở ngại và nguy hại. Từ những nguyên tắc kể trên, Komenski đã vận dụng và đúc kết thành nhiều vấn đề lý luận rất sâu sắc, chặt chẽ mà lý thú về vi ệc lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học. Đối với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lê nin, sự phát triển toàn diện của con người làm mục đích chính của giáo dục - dạy học.
Trong tư tưởng của các ông (C.Ăng-ghen), giáo dục không những là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của xã hội, mà quan trọng hơn, còn là tiền đề cho sự phát triển toàn diện các năng lực của con người. Mục tiêu, đích đến của giáo dục là sự phát triển của chính bản thân con người.Mác đã chỉ rõ, nền giáo dục sau này sẽ là nền giáo dục làm cho mỗi một trẻ em, khi đến lứa tuổi nhất định, đều biết “kết hợp trí dục và thể dục với lao động chân tay và do đó, kết hợp lao động chân tay với trí dục và thê dục”, “kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục” và coi đó không phải chỉ là một phương pháp đề làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất đề “sản xuất 12 ra những con người phát triển toàn diện. Từ những nền tảng kể trên, các nhà giáo dục theo chủ nghĩa Mác-] ê nin đã phát triển một nền giáo dục mới hết sức tiến bộ, hướng tới việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, đáp ứng quy luật tắt yếu sẽ tiến lên xã hội chủ nghĩa của lịch sử nhân loài 1. Ở Việt Nam Thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lê nin, tiếp thu có chọn lọc tỉnh hoa giáo dục phương Đông và phát huy các giá trị tích cực của nền văn hóa truyền thống dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng là kim chỉ nam cho hệ thống giáo dục.
cách mạng Việt Nam. Sinh thời, Bác luôn quan tâm việc mở mang dân trí, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Người đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự hưng. thịnh của đất nước, với nhiệm vụ cực kỳ trọng đại là nâng cao dân đức, mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự phát triển, đưa nước.
nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Người chủ trương cần xây dựng một nền giáo dục dân tộc, tiên tiến và hiện đại. Người rất coi trọng vai trò của người thầy và cũng nhắn mạnh đến tài, đức của người đứng lớp: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức.
Cho nên thầy giáo, cô. giáo phải gương mẫu” [29, tr492]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội, toàn Đảng, toàn dân. Trong đó, Đảng phải lãnh đạo và trực tiếp chăm lo cho sự nghiệp giáo dục- đào tạo.
Người từng nhấn mạnh: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trong va rat can thiết” [28, tr.498] Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các hoạt động giáo dục, dạy học. Trong công trình Những vấn để cơ bản của khoa học giáo dục, tác giả Trần Kiểm đã đi sâu nghiên cứu những khái niệm, phương pháp luận, cách tiếp cận khá hiện đại về quản lý giáo dục, trong đó nhấn mạnh đến công tác quản lý nhà trường và quản lý dạy học. Với Giáo dục học đại cương II, các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức đã trình bày khá cụ thê về những vấn đề cơ bản của lý luận dạy học và lý luận giáo dục.
Ở công trình Quản lý nhà trường, tác giả Nguyễn Phúc Châu đã tập trung tìm 13 hiểu về công tác quản lý các hoạt động trong trường học như quản lý nhân sự, nội dung - chương trình dạy học, phương pháp dạy học, CSVC. Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của các tác giả Thái Duy Tuyên, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Thị Mỹ c. đã tập trung khá sâu vào vấn để quản lý trường học. Nhiều kết quả nghiên cứu trong đó có giá trị, ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn cao.
Các công trình nghiên cứu kể trên đã giải quyết được những vấn để chung nhất và thiết lập được một hệ thống cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục. Thời gian gần đây, có một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục đã nghiên cứu công tác quản lý HĐDH của hiệu trưởng trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Năm 2014, Lê Văn Dũng đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Huế. Nhìn chung, các luận văn kể trên đã có những đóng góp nhất định về việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và xây dựng, đề xuất được nhiều biện pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý dạy học của các trường.
Đó đều là nguồn tài liệu quan trọng để người viết tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn này. Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về biện pháp quản lý dạy học ở trường TCPH tỉnh Đồng Nai 1. Các khái niệm cơ bản của đề 1. Hoạt động và hoạt động dạy học 1.
Hoạt động Hoạt động, theo quan điểm triết học, “là một phương thức đặc thù của con người trong quá trình quan hệ với thế giới, một quá trình qua đó con người tái sản xuất và cải tạo một cách sáng tạo thế giới tự nhiên, do đó làm cho bản thân trở. thành chủ thể hoạt động và làm cho những hiện tượng của tự nhiên mà con người đang nắm giữ trở thành khách thể của hoạt động của mình. Chính nhờ có hoạt động, lao động mà con người mới có sự hình thành ban đầu, cũng như sự duy trì và phát triển trong tiến trình lịch sử tắt cả những đặc tính người” [37, tr.