Ảnh hưởng của động lực đến việc chia sẻ tri thức của nhân viên trong tổ chức

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu kinh doanh ảnh hưởng của động lực đến chia sẻ trí thức của nhân viên trong tổ chức, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Bách Khoa

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

214
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tác động của động lực đến việc chia sẻ tri thức

Nghiên cứu chỉ ra rằng động lực là yếu tố quyết định trong việc thúc đẩy chia sẻ tri thức trong tổ chức. Các yếu tố động lực có thể chia thành hai loại: động lực nội tạiđộng lực ngoại tại. Động lực nội tại bao gồm sự thích giúp đỡ người khác và nhu cầu kết nối xã hội. Ngược lại, động lực ngoại tại bao gồm sự khuyến khích từ tổ chức, sự tăng cường danh tiếng và lợi ích tương hỗ. Điều này cho thấy rằng nhân viên sẽ có xu hướng chia sẻ tri thức hơn khi họ cảm thấy được khuyến khích và có động lực từ bên ngoài.

1.1. Động lực nội tại và ngoại tại

Các yếu tố động lực nội tại như sự thích giúp đỡ người khác tạo ra một môi trường tích cực cho việc chia sẻ tri thức. Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên có xu hướng chia sẻ tri thức khi họ cảm thấy hài lòng và có động lực từ chính bản thân mình. Trong khi đó, động lực ngoại tại như sự khuyến khích từ tổ chức có thể tạo ra áp lực tích cực để nhân viên tham gia vào quá trình này. Sự kết hợp giữa hai loại động lực này tạo ra một hệ sinh thái thuận lợi cho việc chia sẻ tri thức trong tổ chức.

II. Mô hình chia sẻ tri thức trong tổ chức

Mô hình chia sẻ tri thức được xây dựng dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) và lý thuyết hành động hợp lý (TRA). Mô hình này cho thấy rằng động lực có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ và ý định của nhân viên trong việc chia sẻ tri thức. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận đều có tác động mạnh mẽ đến hành vi thực tế của nhân viên. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một văn hóa tổ chức khuyến khích và hỗ trợ cho việc chia sẻ tri thức.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức

Nghiên cứu đã xác định được nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức trong tổ chức. Trong đó, sự khuyến khích từ tổ chức là yếu tố quan trọng giúp nhân viên cảm thấy tự tin hơn khi chia sẻ tri thức. Bên cạnh đó, sự tăng cường danh tiếng và lợi ích tương hỗ cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy hành vi này. Các nhà quản lý cần chú trọng đến việc tạo ra một môi trường làm việc tích cực, nơi mà nhân viên cảm thấy được động viên và có lợi ích khi tham gia vào quá trình chia sẻ tri thức.

III. Chiến lược khuyến khích chia sẻ tri thức

Để tối ưu hóa việc chia sẻ tri thức, các tổ chức cần xây dựng các chiến lược khuyến khích hiệu quả. Việc áp dụng công nghệ thông tin như hệ thống quản lý tri thức có thể giúp tối ưu hóa quy trình chia sẻ tri thức. Hơn nữa, việc tạo ra một văn hóa tổ chức cởi mở, nơi mà nhân viên cảm thấy an toàn khi chia sẻ ý tưởng và thông tin là rất quan trọng. Các nhà lãnh đạo cũng cần thể hiện vai trò của mình trong việc khuyến khích nhân viên tham gia vào quá trình này.

3.1. Vai trò của lãnh đạo trong việc khuyến khích chia sẻ tri thức

Lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường khuyến khích chia sẻ tri thức. Họ cần thể hiện sự hỗ trợ và đánh giá cao những nỗ lực của nhân viên trong việc chia sẻ tri thức. Việc tổ chức các buổi họp mặt, hội thảo và các hoạt động nhóm cũng là cách hiệu quả để tăng cường sự hợp tác và chia sẻ tri thức giữa các nhân viên. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc mà còn xây dựng mối quan hệ tốt đẹp trong tổ chức.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Xã hội đã chuyển qua thời đại xã hội tri thức. Lực lượng lao động xã hội đã có sự chuyển biến rõ rệt từ những công nhân “cổ xanh” thành những công nhân “cổ trắng”. Drucker (1993) đã nhận xét rằng: “Trong thời kỳ 1880, khoảng chín phần mười số người lao động là lao động chân tay; ngày nay, con số này giảm xuống một phần năm. Bốn phần năm lực lượng lao động là những người lao động tri thức" (Drucker, 1993, trang 50).

Do đó, tri thức là sức mạnh và là tài sản rất quan trọng trong công ty. Toàn cầu hóa đã làm cho việc tiếp cận và mở rộng các thị trường dễ dàng hơn. Nhiều công ty chọn các nguồn lực tốt và rẻ nhất cho hoạt động của mình. Vì thế các lợi thế so sánh truyền thống đã mất đi, hoặc ít nhất đã yếu đi.

Vì thế, Drucker (1993) kết luận: “Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức, trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản không phải là vốn mà là và sẽ là tri thức và tri thức đã và đang trở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị - và có thể là duy nhất - của lợi thế cạnh tranh”. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã thay đổi hoàn toàn công việc. Thu thập và lưu trữ một khối lượng lớn thông tin rất dễ dàng, truyền tải chúng một cách nhanh chóng. Các công việc được hoàn thành dựa vào công nghệ, đặc biệt là máy tính, ngày càng nhiều.

Sự quan trọng của công nghệ là không thể phủ nhận. Công nghệ với hai lợi ích chính là lưu trữ và truyền tải thông tin cho phép xây dựng một hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin, tri thức hiệu quả. Nhưng công nghệ không tạo ra lợi thế cạnh tranh. Bằng cách chia sẻ tri thức trong tổ chức một cách hiệu quả, công ty có thể tạo ra các yếu tố cạnh tranh mới, nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dài của mình (Serban & ctg, 2002).

Trong những năm qua, nhiều nhà nghiên cứu chiến lược đã phát triển nhiều khung nghiên cứu để giúp các tổ chức xây dựng các lợi thế cạnh tranh. Porter (1980) xây dựng mô hình năm tác lực, nhưng sau đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những thiếu sót của mô hình này là bỏ qua đặc điểm của từng doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh -2- tranh. Do đó, các nghiên cứu hiện nay đã cho thấy rằng chia sẻ tri thức là một trong những chìa khóa chính để tạo ra lợi thế cạnh tranh (Grant, 1996; Nonaka, Toyama và Nagata, 2000, Prahalad và Hamel, 1990; Spender, 1996). Chia sẻ tri thức mang đến cơ hội duy nhất biến tri thức thành hệ thống, giúp công ty tạo ra lợi thế về thời gian giữ cho sự cạnh tranh được liên tục, tạo ra giá trị kinh tế và giá trị thị trường không thể chối cãi được (Cockrell & Stone, 2010).

Chia sẻ tri thức có thể giúp cho nhân viên của công ty làm việc hiệu quả hơn, tự mình đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, giảm bớt sai lầm và thỏa mãn yêu cầu của khách hàng đúng lúc nhất. Chia sẻ tri thức cũng giúp các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định chinh sách đưa ra được các quyết định, chính sách hiệu quả hơn cho tổ chức của mình. Lý thuyết kinh tế trước đây cho rằng mọi tài sản đều dễ bị giảm giá trị khi thu hồi, bị hao mòn khi sử dụng, nhưng điều này không đúng với tri thức. Với tri thức, khi một người đang dùng, những người khác cũng có thể sử dụng được.

Và tri thức càng sử dụng nhiều thì càng tăng giá trị. Đây là quy luật tăng lợi nhuận: càng sử dụng, càng cung cấp nhiều giá trị - từ đó tạo ra một chu trình tự tăng cường. Không như các tài nguyên có giới hạn như đất, vốn, và nhân công, tài sản tri thức và trí tuệ là những nguồn tài khuyên không giới hạn có thể sinh ra nhiều lợi nhuận qua hệ thống sử dụng và ứng dụng chúng. Tri thức rộng giúp có cái nhìn đa chiều về cùng một hiện tượng, một biến đổi bất thường trên thị trường, từ đó vừa có khả năng chống đỡ, vừa có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ.

Như vậy, tri thức là tài sản quan trọng của bất kỳ công ty nào dù qui mô công ty là lớn hay nhỏ. Trong hầu hết những nghiên cứu gần đây dựa trên lý thuyết chia sẻ tri thức của công ty (Grant, 1996), ý tưởng chính là tri thức phải được nhận diện, thu thập, lưu giữ và chia sẻ để công ty có thể tối đa hóa giá trị và lợi nhuận tài sản hữu hình và vô hình. Chia sẻ tri thức đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý tri thức. Sự thành công của hệ thống quản lý tri thức phụ thuộc vào việc chia sẻ tri thức (Sheng và ctg, 2010).

Chia sẻ tri thức là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trong tạp chí “Journal of knowledge management” từ 2007 đến 2013. Chia sẻ tri thức đã được công nhận như là một nhân tố tích cực cho sự sống còn của một tổ chức. Xác định các yếu tố thúc đẩy nhân viên chia sẻ tri thức vì lợi ích công ty -3- được coi là một vấn đề ưu tiên cao cho các tổ chức hiện nay (Hall, 2001; Smith và Farquhar, 2000; Prusak, 1999; Boisot và Griffiths, 1999). Yếu tố phổ biến nhất và khó khăn nhất của chia sẻ tri thức đó chính là con người.

Làm sao để khuyến khích các nhân viên chia sẻ tri thức trong công ty là vấn đề của rất nhiều công ty hiện nay. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới cho thấy các yếu tố động lực của con người ảnh hưởng lớn đến chia sẻ tri thức trong tổ chức. Một nghiên cứu trong các công ty Hàn Quốc cho thấy động lực bên trong (sự thích giúp đỡ và nhu cầu liên kết) ảnh hưởng dương đến sự chia sẻ tri thức trong tổ chức (Jeon và ctg, 2011; Chennamaneni, 2006). Động lực bên ngoài (hình ảnh, danh tiếng cá nhân, lợi ích tương hỗ) cũng ảnh hưởng dương đến chia sẻ tri thức trong tổ chức (Jeon và ctg, 2011, Chennamaneni, 2006).

Nghiên cứu của Chennamaneni (2006) cũng chỉ ra rằng yếu tố động lực bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tích cực đến thái độ chia sẻ tri thức trong tổ chức. Việc chia sẻ tri thức ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay rất yếu. 1 Trong khi đó, nhiều công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí khoa học nước ngoài đã khẳng định chia sẻ tri thức đóng vai trò làm cho hiệu quả kinh doanh tăng lên rất đáng kể. Ở Việt Nam, cũng chưa có nhiều nghiên cứu về chia sẻ tri thức.

Với đề tài này, trong khả năng hữu hạn tìm kiếm các nghiên cứu tương tự từ các website tương đối uy tín trên Internet như ssrn.com, google scholar, emeraldinsight. và cơ sở dữ liệu thư viện, chưa tìm thấy nghiên cứu nào kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố động lực đến chia sẻ tri thức ở Việt Nam. Do đó, đề tài nghiên cứu “ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘNG LỰC ĐẾN CHIA SẺ TRI THỨC CỦA NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC” được hình thành với mong muốn giúp các nhà quản lý nhận dạng được các ảnh hưởng của các yếu tố động lực đến chia sẻ tri thức và có những tác động phù hợp nhằm nâng cao việc chia sẻ tri thức trong công ty, làm giàu thêm nguồn tri thức để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong xã hội kinh tế dịch vụ, tri thức như hiện nay. 1 Nguồn: http://www.vn/story/quan-tri-chia-se-tri-thuc-va-nhung-thach-thuc-tai-viet-nam -4- 1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Đề tài có những mục tiêu nghiên cứu sau: Nhận dạng các thành phần trong chia sẻ tri thức.

Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết TPB trong chia sẻ tri thức dưới góc độ cá nhân trong các tổ chức tại Việt Nam. Đo lường mức độ tác động của các thành phần động lực đến chia sẻ tri thức Phân tích sự khác biệt của tác động của các thành phần động lực đến chia sẻ tri thức ở công ty vốn đầu tư trong nước so với công ty vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đề xuất một số kiến nghị để khuyến khích việc chia sẻ tri thức trong tổ chức.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nhân viên và nhà quản lý làm việc trong công ty vốn đầu tư trong nước và công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Vê phạm vi ngành, nghiên cứu chọn các ngành xây dựng, tài chính, công nghệ thông tin và viễn thông, dược phẩm, thương mại, giao thông vận tải, xuất nhập khẩu vì đây là những ngành kinh tế được đại hội đại biểu Đảng bộ TPHCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 xác định là nhóm ngành cần thúc đẩy phát triển để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.

2 Phạm vi nghiên cứu giới hạn là các công ty trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vì TP HCM được xem là trung tâm kinh tế phát triển nhất của cả nước.4 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU Các bước tiến hành nghiên cứu được trình bày như Hình 1. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật 2 Nguồn: http://www.vn/news/NewsDetail.aspx?id=23112 -5- thảo luận nhóm tập trung.

Thông tin thu thập từ nghiên cứu định tính nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung thang đo. Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi. Thông tin thu nhập từ nghiên cứu định lượng dùng để sàng lọc biến quan sát. Phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS được sử dụng ở bước này.

Vấn đề, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Cơ sở lý thuyết Mô hình nghiên cứu, Thang đo sơ bộ Nghiên cứu sơ bộ Thang đo chính thức Nghiên cứu chính thức Thu thập dữ liệu Phân tích dữ liệu Kiểm định giả thuyết Diễn dịch kết quả Báo cáo kết quả và kiến nghị Hình 1.1: Các bước tiến hành nghiên cứu (Nguồn: Nguyễn Đình Thọ, 2011) -6- Nghiên cứu chính thức cũng thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Mục đích của nghiên cứu này là khẳng định lại các thành phần cũng như giá trị và độ tin cậy thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tên "Ảnh hưởng của động lực đến việc chia sẻ tri thức của nhân viên trong tổ chức" của tác giả Nguyễn Duy Hải, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Hùng tại Trường Đại Học Bách Khoa, năm 2013, nghiên cứu về vai trò của động lực trong việc khuyến khích nhân viên chia sẻ tri thức trong môi trường làm việc. Bài viết chỉ ra rằng động lực không chỉ ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức mà còn tạo ra một văn hóa tổ chức tích cực, giúp nâng cao hiệu quả làm việc và sự sáng tạo của nhân viên. Điều này mang lại lợi ích cho cả tổ chức và cá nhân, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của quản trị kinh doanh và động lực trong tổ chức, có thể tìm hiểu thêm qua các bài viết sau: Luận văn thạc sĩ về thương lượng tập thể: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, nơi phân tích về động lực trong thương lượng tập thể, hay Luận văn thạc sĩ về quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh Đà Nẵng, cung cấp cái nhìn về động lực trong quản lý khách hàng. Thêm vào đó, Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Hài Lòng Của Người Nộp Thuế Đối Với Công Tác Quản Lý Thuế Tại Chi Cục Thuế Thành Phố Nha Trang cũng là một bài viết thú vị về động lực và sự hài lòng trong công việc. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về động lực và chia sẻ tri thức trong môi trường tổ chức.