CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Xã hội đã chuyển qua thời đại xã hội tri thức. Lực lượng lao động xã hội đã có sự chuyển biến rõ rệt từ những công nhân “cổ xanh” thành những công nhân “cổ trắng”. Drucker (1993) đã nhận xét rằng: “Trong thời kỳ 1880, khoảng chín phần mười số người lao động là lao động chân tay; ngày nay, con số này giảm xuống một phần năm. Bốn phần năm lực lượng lao động là những người lao động tri thức" (Drucker, 1993, trang 50).
Do đó, tri thức là sức mạnh và là tài sản rất quan trọng trong công ty. Toàn cầu hóa đã làm cho việc tiếp cận và mở rộng các thị trường dễ dàng hơn. Nhiều công ty chọn các nguồn lực tốt và rẻ nhất cho hoạt động của mình. Vì thế các lợi thế so sánh truyền thống đã mất đi, hoặc ít nhất đã yếu đi.
Vì thế, Drucker (1993) kết luận: “Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức, trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản không phải là vốn mà là và sẽ là tri thức và tri thức đã và đang trở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị - và có thể là duy nhất - của lợi thế cạnh tranh”. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã thay đổi hoàn toàn công việc. Thu thập và lưu trữ một khối lượng lớn thông tin rất dễ dàng, truyền tải chúng một cách nhanh chóng. Các công việc được hoàn thành dựa vào công nghệ, đặc biệt là máy tính, ngày càng nhiều.
Sự quan trọng của công nghệ là không thể phủ nhận. Công nghệ với hai lợi ích chính là lưu trữ và truyền tải thông tin cho phép xây dựng một hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin, tri thức hiệu quả. Nhưng công nghệ không tạo ra lợi thế cạnh tranh. Bằng cách chia sẻ tri thức trong tổ chức một cách hiệu quả, công ty có thể tạo ra các yếu tố cạnh tranh mới, nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dài của mình (Serban & ctg, 2002).
Trong những năm qua, nhiều nhà nghiên cứu chiến lược đã phát triển nhiều khung nghiên cứu để giúp các tổ chức xây dựng các lợi thế cạnh tranh. Porter (1980) xây dựng mô hình năm tác lực, nhưng sau đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những thiếu sót của mô hình này là bỏ qua đặc điểm của từng doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh -2- tranh. Do đó, các nghiên cứu hiện nay đã cho thấy rằng chia sẻ tri thức là một trong những chìa khóa chính để tạo ra lợi thế cạnh tranh (Grant, 1996; Nonaka, Toyama và Nagata, 2000, Prahalad và Hamel, 1990; Spender, 1996). Chia sẻ tri thức mang đến cơ hội duy nhất biến tri thức thành hệ thống, giúp công ty tạo ra lợi thế về thời gian giữ cho sự cạnh tranh được liên tục, tạo ra giá trị kinh tế và giá trị thị trường không thể chối cãi được (Cockrell & Stone, 2010).
Chia sẻ tri thức có thể giúp cho nhân viên của công ty làm việc hiệu quả hơn, tự mình đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, giảm bớt sai lầm và thỏa mãn yêu cầu của khách hàng đúng lúc nhất. Chia sẻ tri thức cũng giúp các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định chinh sách đưa ra được các quyết định, chính sách hiệu quả hơn cho tổ chức của mình. Lý thuyết kinh tế trước đây cho rằng mọi tài sản đều dễ bị giảm giá trị khi thu hồi, bị hao mòn khi sử dụng, nhưng điều này không đúng với tri thức. Với tri thức, khi một người đang dùng, những người khác cũng có thể sử dụng được.
Và tri thức càng sử dụng nhiều thì càng tăng giá trị. Đây là quy luật tăng lợi nhuận: càng sử dụng, càng cung cấp nhiều giá trị - từ đó tạo ra một chu trình tự tăng cường. Không như các tài nguyên có giới hạn như đất, vốn, và nhân công, tài sản tri thức và trí tuệ là những nguồn tài khuyên không giới hạn có thể sinh ra nhiều lợi nhuận qua hệ thống sử dụng và ứng dụng chúng. Tri thức rộng giúp có cái nhìn đa chiều về cùng một hiện tượng, một biến đổi bất thường trên thị trường, từ đó vừa có khả năng chống đỡ, vừa có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ.
Như vậy, tri thức là tài sản quan trọng của bất kỳ công ty nào dù qui mô công ty là lớn hay nhỏ. Trong hầu hết những nghiên cứu gần đây dựa trên lý thuyết chia sẻ tri thức của công ty (Grant, 1996), ý tưởng chính là tri thức phải được nhận diện, thu thập, lưu giữ và chia sẻ để công ty có thể tối đa hóa giá trị và lợi nhuận tài sản hữu hình và vô hình. Chia sẻ tri thức đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý tri thức. Sự thành công của hệ thống quản lý tri thức phụ thuộc vào việc chia sẻ tri thức (Sheng và ctg, 2010).
Chia sẻ tri thức là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trong tạp chí “Journal of knowledge management” từ 2007 đến 2013. Chia sẻ tri thức đã được công nhận như là một nhân tố tích cực cho sự sống còn của một tổ chức. Xác định các yếu tố thúc đẩy nhân viên chia sẻ tri thức vì lợi ích công ty -3- được coi là một vấn đề ưu tiên cao cho các tổ chức hiện nay (Hall, 2001; Smith và Farquhar, 2000; Prusak, 1999; Boisot và Griffiths, 1999). Yếu tố phổ biến nhất và khó khăn nhất của chia sẻ tri thức đó chính là con người.
Làm sao để khuyến khích các nhân viên chia sẻ tri thức trong công ty là vấn đề của rất nhiều công ty hiện nay. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới cho thấy các yếu tố động lực của con người ảnh hưởng lớn đến chia sẻ tri thức trong tổ chức. Một nghiên cứu trong các công ty Hàn Quốc cho thấy động lực bên trong (sự thích giúp đỡ và nhu cầu liên kết) ảnh hưởng dương đến sự chia sẻ tri thức trong tổ chức (Jeon và ctg, 2011; Chennamaneni, 2006). Động lực bên ngoài (hình ảnh, danh tiếng cá nhân, lợi ích tương hỗ) cũng ảnh hưởng dương đến chia sẻ tri thức trong tổ chức (Jeon và ctg, 2011, Chennamaneni, 2006).
Nghiên cứu của Chennamaneni (2006) cũng chỉ ra rằng yếu tố động lực bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tích cực đến thái độ chia sẻ tri thức trong tổ chức. Việc chia sẻ tri thức ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay rất yếu. 1 Trong khi đó, nhiều công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí khoa học nước ngoài đã khẳng định chia sẻ tri thức đóng vai trò làm cho hiệu quả kinh doanh tăng lên rất đáng kể. Ở Việt Nam, cũng chưa có nhiều nghiên cứu về chia sẻ tri thức.
Với đề tài này, trong khả năng hữu hạn tìm kiếm các nghiên cứu tương tự từ các website tương đối uy tín trên Internet như ssrn.com, google scholar, emeraldinsight. và cơ sở dữ liệu thư viện, chưa tìm thấy nghiên cứu nào kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố động lực đến chia sẻ tri thức ở Việt Nam. Do đó, đề tài nghiên cứu “ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘNG LỰC ĐẾN CHIA SẺ TRI THỨC CỦA NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC” được hình thành với mong muốn giúp các nhà quản lý nhận dạng được các ảnh hưởng của các yếu tố động lực đến chia sẻ tri thức và có những tác động phù hợp nhằm nâng cao việc chia sẻ tri thức trong công ty, làm giàu thêm nguồn tri thức để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong xã hội kinh tế dịch vụ, tri thức như hiện nay. 1 Nguồn: http://www.vn/story/quan-tri-chia-se-tri-thuc-va-nhung-thach-thuc-tai-viet-nam -4- 1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Đề tài có những mục tiêu nghiên cứu sau: Nhận dạng các thành phần trong chia sẻ tri thức.
Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết TPB trong chia sẻ tri thức dưới góc độ cá nhân trong các tổ chức tại Việt Nam. Đo lường mức độ tác động của các thành phần động lực đến chia sẻ tri thức Phân tích sự khác biệt của tác động của các thành phần động lực đến chia sẻ tri thức ở công ty vốn đầu tư trong nước so với công ty vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đề xuất một số kiến nghị để khuyến khích việc chia sẻ tri thức trong tổ chức.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nhân viên và nhà quản lý làm việc trong công ty vốn đầu tư trong nước và công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Vê phạm vi ngành, nghiên cứu chọn các ngành xây dựng, tài chính, công nghệ thông tin và viễn thông, dược phẩm, thương mại, giao thông vận tải, xuất nhập khẩu vì đây là những ngành kinh tế được đại hội đại biểu Đảng bộ TPHCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 xác định là nhóm ngành cần thúc đẩy phát triển để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
2 Phạm vi nghiên cứu giới hạn là các công ty trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vì TP HCM được xem là trung tâm kinh tế phát triển nhất của cả nước.4 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU Các bước tiến hành nghiên cứu được trình bày như Hình 1. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật 2 Nguồn: http://www.vn/news/NewsDetail.aspx?id=23112 -5- thảo luận nhóm tập trung.
Thông tin thu thập từ nghiên cứu định tính nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung thang đo. Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi. Thông tin thu nhập từ nghiên cứu định lượng dùng để sàng lọc biến quan sát. Phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS được sử dụng ở bước này.
Vấn đề, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Cơ sở lý thuyết Mô hình nghiên cứu, Thang đo sơ bộ Nghiên cứu sơ bộ Thang đo chính thức Nghiên cứu chính thức Thu thập dữ liệu Phân tích dữ liệu Kiểm định giả thuyết Diễn dịch kết quả Báo cáo kết quả và kiến nghị Hình 1.1: Các bước tiến hành nghiên cứu (Nguồn: Nguyễn Đình Thọ, 2011) -6- Nghiên cứu chính thức cũng thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Mục đích của nghiên cứu này là khẳng định lại các thành phần cũng như giá trị và độ tin cậy thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết.