Chương 1: Cơ sử in về Quần trị quan hệ khách hàng (CRM) Chương 2: ân hàng TMCP Ngoại thương Nam-Chỉ nhánh Đà nẵng và các hoạt động Quản trị quan hệ khách hàng Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động Quân trị quan hệ khách hàng tại Vieteombank Đà Nẵng CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. NGI GOC RA DOL QUAN TRI QUAN HỆ KHACH HANG (CRM) 1. Khái niệm về khách bàng Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000: Khách hảng là tổ chức hay cá nhân nhận một sản phẩm hay dịch vụ “Trong bồi cảnh cạnh tranh mạnh mẽ và xu thể hội nhập kinh tế quốc tế, tự đo hóa thương mại thì doanh nghiệp can phải có quan niệm đầy đủ hơn, bao quát hơn về khách hàng: Khách hàng không chí đơn thuần lã những người mua hàng của doanh nghiệp, mà rộng hơn, khách hàng còn là những người mà mình phục vụ. những người tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp.
Như vậy, đỗi với mỗi doanh nghiệp, trong kinh doanh luôn có hai loại khách hàng: Khách hàng bên trong và khách hàng bên ngoài. Khách hàng bên trong lả đội ngũ lãnh đạo, các bội phân kỹ thuật, kinh doanh, hỗ trợ khách hàng, các chức năng kế toán, kế hoạch, hành chính. Khách hảng bên ngoải là tắt cả những người đã, đang và sẽ sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp. Khách hàng nào cũng quan trọng và có mồi quan hệ biện chứng với nhau, có khách hàng bên ngoải thì doanh nghiệp vả khách hảng bên trong mới tồn tại.
Ngược lại, nhờ có sự phối hợp, tương tác giữa các bộ phận bên trong doanh nghiệp, thì doanh nghiệp và khách hàng mới có mỗi quan hệ trao đổi, mua bán. Tuy nhiên, trong luận văn nảy khi nói đến khách hàng chủ yếu là nói về khách hàng bên ngoài. Khách hàng đang là của doanh nghiệp hôm nay, chưa chắc đã là của doanh nghiệp ngày mai. Ngược lại, hôm nay họ chưa phải là của chúng ta nhưng ngày mai họ sẽ là của ta.
Điều này có nghĩa la, doanh nghiệp luôn cỏ khách hàng hiện tại, khách hàng tương lai. Để liên tục phát triển và kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải giữ khách hàng cũ, khách hàng trung thành va luôn luôn phải di tìm khách hàng mới. Nhu cầu của khách hàng | Gây rà ị Sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để dip ứng tốt hơn nhu câu của khách + Đưa đến cho Khách hàng | Quyển lựa chọn doanh nghiệp va nên tiếp tục duy trì quan hệ với doanh nghiệp nào. : Tâm quan trọng của việc phục vụ khách hàng.
'Và như vậy, có thể thấy rằng việc làm thoả mãn khách hàng luôn lä 1 nhiệm vụ hàng đầu đối với bắt kỳ doanh nghiệp nào, nhất là trong hoản cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp như hiện nay. Nguồn gốc ra đời của CRM. Sự ra đời của cách tiếp cận Marketing quan hệ Môi trường phức tạp vả không chắc chấn đã đặt ra yêu cầu đối với các Doanh nghiệp cần phải tái cấu trúc nhằm tăng cơ hội tổn tại vả tăng trường. Điều đó dẫn đến những cách tiếp cận mới về Marketing.
Hiện nay, cách tiếp cận theo Marketing quan hệ dang thu hút sự chú ý về cả lý luận lẫn thực hãnh Marketing. Khải niệm Marketing quan hé da nay sinh trong lĩnh vực Marketing dịch vụ và Marketing công nghiệp. Các Doanh nghiệp thực hiện Marketing giao dịch theo mô hình Marketing mix. Marketing mix bao gồm 4 Ps (Product, Price, Place, Promotion), đã thống trị nghiên cứu Marketing tử khi được giới thiệu bởi Neil Borden vào những năm 1950.
Khái niệm này nỗi bật lên từ ý tướng của các nhà làm. Marketing khi kết hợp các thành phẩn, ho đã phổi hợp 4Ps theo cách nảo đó nhằm tạo ra sức cạnh tranh trong ban hang. Tuy nhiên, trong lĩnh vực dịch vụ, Marketing mix gặp phái những bắt lợi. Đặc tỉnh của dịch vụ có những khác biệt đáng lưu ÿ so với đặc điểm của hàng hóa.
Dich vụ thường là võ hỉnh nên khó có thể biểu thị và vì thế khó khăn trong việc ước định giá trị. Thêm vào đó, chủng thưởng đòi hỏi sự tương tác giữa người bán và khách hàng trong quá trình sản xuất ra dịch vụ. Những điểu kiện nảy chứng tỏ rằng mô hình 4 Ps cỏn bị giới hạn và chỉ phù hợp với việc kinh doanh hảng hóa đại trả. Lý thuyết mới và cách tiếp cân mới tiến bộ hơn về Marketing được đưa ra.
Một kiếu mẫu mới phù hợp hơn và làm cho kiếu mẫu Marketing mix mat di vị trí của mình. Giá trị của Marketing quan hệ Marketing quan hệ có 4 giá trị chủ yếu. Đầu tiên, quản trị Marketing nên được mở rộng vào hoạt động quản trị Doanh nghiệp định hướng Marketing. Có nghĩa là cần cỏ định hướng Marketing trong toàn bộ Doanh nghiệp.
Marketing không nên là hoạt động của một bộ phận chuyên biệt. Thứ hai, Marketing quan hệ nhấn mạnh sự hợp tác dài hạn. Doanh nghiệp nên xem xét nhà cung cấp, khách hàng và những đối tác khác, với mục tiêu là tạo ra giá trị chung. Quan hệ phải có ý nghĩa đối với tất cả các đối tượng có liên quan này, với mục địch là duy trì mỗi quan hệ đài hạn với họ.
Giá trị khác của Marketing quan hệ là tất cả các đối tác cần chủ động và chịu trách nhiệm. Mối quan hệ nên tác động lẫn nhau, ví dụ khách hàng cỏ thể đề xưởng sự đối mới hoặc cải tiền sản phẩm hoặc dịch vụ. Cuối cùng, khách hãng nên được xem xét là những cá nhân hơn là dai tra, nguồn thu nhập hơn là chỉ phi và nhiệm vụ của nhà cung cấp là tạo ra giá trị cho khách hảng, không phải lã để kiểm lợi từ khách hàng. Định nghĩa Marketing quan hệ Có nhiễu quan điểm khác nhau về Marketing quan hệ.
Một định nghĩa dễ hiểu được đưa ra bởi Gronroos Christian (1994), theo ông: “Marketing quan hệ nhằm thiết lập duy trì và nẵng cao quan hệ với khách hàng và các đối tác khác sao cho mục tiêu của các đôi tác này phù hợp với nhau. Điểu này được tạo ra gua sự trao đổi với nhau và sự thực hiện cam kết” (Nguồn: Gronroos, C. (1994), From Marketing Mix to Relationship Marketing: Towards a Paradigm Shift in Marketing) Những thay đổi nhanh chóng vả triệt dé đã trình bày ở trên đã đưa đến kết quả là sự tập trung vào Marketing quan hệ. Ngày nay, tắm quan trọng của công nghệ thông tin (IT) trong việc tạo ra, duy trì vả năng cao những quan hệ kinh doanh cẩn được nhắn mạnh.
Sự phát triển kiến thức về công nghệ đã có ánh hướng lớn đến sự phát triển của Marketing và hoạt động quản trị. Có tắc giả cho rằng, Marketing quan hệ sẽ không được thiết lập nếu không có những quan hệ dựa trên công nghệ thông tin, sứ dụng công cụ kỹ thuật tiền tiễn, Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu và thích nghĩ để thay đổi công nghệ nếu họ muốn có thành công trong tương lai. Đề có thể tôn tại trên thì trường, các Doanh nghiệp cẳn phải đáp ửng được với những thay đổi. Sự khác nhau giữa Aarketing giao dịch và Marketing quan hệ Cỏ những cách tiếp cân khác nhau vẻ Marketing tủy thuộc từng tỉnh huồng.
“Theo sự liên tục của cách tiếp cận Marketing, Marketing quan hệ được đánh giá trên kết quả này, Marketing giao dịch lại được đánh giá trên kết quả khác, Theo cách tiếp cận Marketing quan hệ, điểm tập trung là xây dựng những mỗi quan hệ với khách hàng, trong khi theo cách tiếp cận Marketing giao dịch, điểm tập trung là tạo ra những giao dịch riêng lẻ với khách hảng. Có quan điểm cho rằng, những Doanh nghiệp sản xuất hàng hóa đóng gói sẽ có lợi nhiều hơn khi sử dụng cách tiếp cận Marketing giao dịch. Bởi lẽ họ thường không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và vỉ vậy không cẩn phải tập trung vào mỗi quan hệ khách hàng. Ngược lại, các Doanh nghiệp dịch vụ hầu như luôn luôn tiếp xúc gần gũi với khách hàng và vỉ vậy cần tập trung vào những tương tác khách hàng.
Các quan điểm Marketing cũng trình bảy một vài đặc điểm khác biệt thông thưởng giữa hai cách tiếp cận Marketing. Sự khác biệt đầu tiên là về bỗi cảnh thời gian. Trong Marketing giao địch, bồi cảnh thời gian là khá ngắn so với khi áp dụng Marketing quan hệ, vì khi đó Doanh nghiệp hoạch định cho những mối quan hệ dài hạn. Thứ hai, các Doanh nghiệp cỏ chiến lược theo loại "giao dịch" có khả năng sinh lãi nhiều hơn từ việc thực hiện Marketing 4Ps của họ.
Chức năng Marketing trong một Doanh nghiệp có quan hệ đài hạn cũng sử dụng những yếu tổ của 4Ps. Tuy nhiên, vì những người ngoài bộ phận Marketing thực hiện những nhiệm vụ Marketing thiết yêu khi tương tác với khách hàng nên Doanh nghiệp phải tập trung. nhiều hơn cho Marketing tương tác. Cũng có những khác bi trong sự nhạy cảm về giá giữa khách hàng mua những sản phẩm đóng gói và khách bảng sử dụng dịch vụ.
Khách hàng đến với Doanh nghiệp bán hàng hóa đóng gói và là người thực hiện Marketing giao địch thường nhạy cảm về giá hơn. Với loại hàng hóa này, sản phẩm là sợi đây liên kết giữa khách hàng với Doanh nghiệp, không phải là sự kết nỗi mang tính xã hội, vì vậy, khách hàng có thể dễ dàng thay đổi đến nhà cung cấp khác. bán hảng với mức giá rẻ hơn. Ngược lại, Doanh nghiệp dịch vụ thường có sự kết nối kháng khít với khách hàng, vì thông thường họ tạo ra những giá trị không đi với sản phẩm cụ thẻ.
Với sợi đây liên kết này, giá cả trở thành một yếu tổ it quan trọng đối với khách hàng, Khách hàng cũng nhận ra sự khác biệt về chất lượng phụ thuộc chiến lược Marketing mà Doanh nghiệp sử dụng. Khách hàng đến những Doanh nghiệp mà thực hiện Marketing giao dịch thường xem xét cái họ nhận được, được gọi là "chất lượng đầu ra", là nguồn chỉ phối chất lượng. Ngược lại, khách hàng đến Doanh nghiệp có quan điểm tập trung vào mối quan hệ đảnh giá tương tác với Doanh nghiệp được thực hiện như thể nảo, cái đó được gọi là "chất lượng của tương tác”. Sự khác biệt khác giữa hai loại chiến lược nảy là cách kiểm soát sự thỏa mãn của khách hàng.
Doanh nghiệp tập trung vào giao dịch thực hiện kiểm soát sự thóa mãn của khách háng bằng những điều tra khảo sát đặc biệt, trong khi Doanh nghiệp tập. trung vào quan hệ có thể kiểm soát sự thỏa mãn của khách hàng một cách trực tiếp vì họ có tiếp xúc gân gũi vả liên tục với khách hàng vả bằng cách xay dung CSDL với những thông tin cập nhật về mỗi khách hàng.