chương 1 này. Trước hết, Chiến lược là thuật ngữ được dùng sớm nhất trong quân sự – lĩnh vực có sự đối địch. Sau này chiến lược còn đồng nghĩa với mưu lược. Trong kinh tế thị trường, khi có cạnh tranh tương đối mạnh, xuất hiện sự cần thiết của chiến lược và người ta bàn nhiều, nói nhiều về chiến lược.
Trong các tài liệu có rất nhiều cách hiểu, chính thức phát biểu về chiến lược. Sau đây là một số cách hiểu và phát biểu về chiến lược: • Theo Michael Porter thì: Chiến lược là nghệ thuật tạo ra lợi thế cạnh tranh. • Alain Thretar lại cho rằng: Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để ứng phó với cạnh tranh nhằm dành thắng lợi. • Theo Genral Aileret: Chiến lược là kết quả hoạch định mục tiêu, phương cách và phương tiện tổng quát.
• Theo Alfred Chandler: Chiến lược hoạt động của doanh nghiệp là kết quả hoạch định mục tiêu tổng quát, hướng – phương cách hoạt động và các nguồn lực chủ yếu sẽ huy động sử dụng. Kiều Quang Vinh 3 CH QTKD BK 2011A Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh • Theo GS,TS Đỗ Văn Phức [6, tr94], chiến lược hoạt động của doanh nghiệp là kết quả xác định mục tiêu chiến lược, các cặp sản phẩm - khách hàng chiến lược và các nguồn lực chiến lược nhằm giành lợi thế cạnh tranh. Như trên đã trình bày, trong kinh tế thị trường, khi cạnh tranh ngày càng gay gắt doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải phải đặc biệt quan tâm đầu tư cho công tác quản lý. Quản lý doanh nghiệp bao gồm quản lý chiến lược và quản lý điều hành.
Quản lý chiến lược gồm có hoạch định chiến lược, thẩm định - quyết định lựa chọn chiến lược và chỉ đạo thực hiện chiến lược. Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, kinh doanh có cạnh tranh, quản lý chiến lược trong đó hoạch định chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng. Hoạch định chiến lược kinh doanh là quá trình nghiên cứu luận chứng, chiến lược kinh doanh là kết quả của quá trình đó. Nói đến chiến lược hoạt động của doanh nghiệp là nói đến bản chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Bản chiến lược có tên sát với nội dung và nội dung cụ thể, khái quát. Bản chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có nội dung bao gồm: Mục tiêu chiến lược + các cặp sản phẩm – khách hàng chiến lược + các nguồn lực chiến lược. Bản chiến lược chỉ được sử dụng khi nó đảm bảo chất lượng. Hoạch định chiến lược để làm gì, ích lợi gì? Thường bản chiến lược được sử dụng cho nhiều công việc quan trọng sau nó.
Đó là: Thứ nhất: Chiến lược hoạt động là định hướng, cơ sở cụ thể cho việc xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm. Thứ hai: Chiến lược là cơ sở, căn cứ cho việc chỉ đạo chuẩn bị trước, đầy đủ, đồng bộ các điều kiện, nguồn lực cho phần chiến lược chưa chuyển hoá thành kế hoạch. Kiều Quang Vinh 4 CH QTKD BK 2011A Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Chất lượng của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của các cơ sở, căn cứ cho hoạch định chiến lược đó. Các cơ sở, căn cứ cho hoạch định chiến lược là: Kết quả dự báo nhu cầu của thị trường; kết quả dự báo về đối thủ cạnh tranh và kết quả dự báo về năng lực của bản thân doanh nghiệp.
Các cơ sở, căn cứ đảm bảo chất lượng khi: Đầy đủ cả ba cơ sở, căn cứ; từng cơ sở, căn cứ đảm bảo chất lượng: có cùng thời gian với bản chiến lược, phương pháp dự báo được sử dụng phù hợp và chất lượng dữ liệu đảm bảo,. Quản lý chiến lược nói chung, hoạch định chiến lược nói riêng một cách khoa học luôn góp phần to lớn vào việc tạo ra lợi thế cạnh tranh, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cạnh tranh gay gắt. Mục tiêu chiến lược có thể là một, hai hoặc các kỳ vọng sau đây: • Thâm nhập thị trường. • Tăng doanh thu, thị phần, tốc độ phát triển.
• Tăng khả năng sinh lợi, chất lượng tăng trưởng. • Cải thiện vị thế cạnh tranh, phát triển bền vững,. Trên thực tế và trong các tài liệu có rất nhiều cách gọi chiến lược. Doanh nghiệp thường có chiến lược kinh doanh và các chiến lược theo mục tiêu tập trung, theo các lĩnh vực hoạt động, theo các công đoạn, theo các yếu tố đầu vào,.
Thứ nhất: Theo mục tiêu ưu tiên doanh nghiệp trong từng thời đoạn có thể chọn hoạch định: • Chiến lược phát triển theo chiều sâu, tạo ra những điểm độc đáo, khác biệt đáng kể của hàng hoá. • Chiến lược mở rộng hoạt động, đa dạng hoá sản phẩm. • Chiến lược giảm thiểu lãng phí, chi phí, giá thành,. Thứ hai: Theo lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp có thể chọn hoạch định: Kiều Quang Vinh 5 CH QTKD BK 2011A Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh • Chiến lược hoạt động sản xuất.
• Chiến lược hoạt động thương mại. • Chiến lược hoạt động dịch vụ,. Thứ ba: Theo công đoạn doanh nghiệp sản xuất có thể chọn hoạch định: • Chiến lược sản phẩm. • Chiến lược giá.
• Chiến lược phân phối. • Chiến lược xác tiến bán hàng. Thư tư: Doanh nghiệp không thể không hoạch định các chiến lược phát triển, đảm bảo các nguồn lực : • Chiến lược phát triển, đảm bảo vốn. • Chiến lược phát triển, đảm bảo khoa học, công nghệ.
• Chiến lược phát triển, đảm bảo nhân lực,. Thư năm: Phân loại chiến lược kinh doanh theo chu kỳ phát triển của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển của mình có thể trải qua các giai đoạn như: Giai đoạn mới hình thành; giai đoạn phát triển; giai đoạn sung sức và giai đoạn suy yếu. • Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn mới hình thành: 9 Chiến lược dựa vào nguồn lực tại chỗ. 9 Chiến lược dựa vào nhà máy lớn.
9 Chiến lược lợi dụng khe hở. 9 Chiến lược thị trường cục bộ. • Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn phát triển: Chiến lược tăng trưởng,. Kiều Quang Vinh 6 CH QTKD BK 2011A Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh • Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn sung sức: Chiến lược thương hiệu nổi tiếng của doanh nghiệp; Chiến lược phát triển hội nhập; Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm,.
• Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn suy yếu: chiến lược loại bỏ những gì cần và phải loại bỏ,. Đầu thế kỷ XXI, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp làm ăn thành công do có chiến lược hoạt động (định hướng và chuyển hướng kinh doanh) dựa trên cơ sở dự báo tương đối nhu cầu của thị trường, các đối thủ cạnh tranh và năng lực của bản thân công ty. Ví dụ, khi điện áp có nhiều biến động Công ty LIOA sản xuất ổn áp, khi điện áp ít biến động chuyển sang sản xuất dây cáp điện. Khi đời sống của người dân được nâng cao Công ty Xuân Kiên sản xuất hàng nội thất cao cấp; khi xuất hiện nhiều nhà sản xuất hàng nội thất và các bệnh viện cần các loại trang bị mới bằng thép không rỉ Công ty Xuân Kiên chuyển sang sản xuất trang thiết bị y tế hiện đại; khi nhu cầu vận tải tăng đột biến công ty chuyển sang sản xuất ô tô vận tải cỡ nhỏ và trung,.
Quy trình hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn có chiến lược kinh doanh để định hướng và chuẩn bị đầy đủ trước tất cả những gì cần thiết cho chủ động thực hiện đạt hiệu quả cao cần phải đầu tư nghiên cứu tổ chức hoạch định. Hoạch định chiến lược kinh doanh phải tuân theo một quy trình khoa học mới thu được chiến lược có sức thuyết phục cao. Theo GS, TS Đỗ Văn Phức [6, tr142], quy trình hoạch định chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh gồm các giai đoạn như: Phân tích, dự báo các căn cứ, kiểm định độ tin cậy của các căn cứ (tiền đề) để nhận biết (nhận thức) cơ hội kinh doanh - A; Xây dựng một số phương án chiến lược - B; Cân nhắc, lựa chọn phương án chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh - C.
Kiều Quang Vinh 7 CH QTKD BK 2011A Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Giai đoạn A:Phân tích, dự báo các căn cứ, kiểm định mức độ tin dùng của các kết quả làm cơ sở cho nhận biết (nhận thức) cơ hội phát triển kinh doanh: Không có bột không gột nên hồ. Hoạch định chiến lược cần những thông tin mà bằng mắt thường không có được. Phải có các căn cứ (nguyên liệu) là các kết quả dự báo về nhu cầu của thị trường, về các nguồn đáp ứng khác (các đối thủ cạnh tranh) và về năng lực của bản thân chủ thể chiến lược trong cùng thời gian với chiến lược thì mới có thể hoạch định được chiến lược hoạt động kinh doanh. Kết quả dự báo chỉ được sử dụng cho hoạch định chiến lược kinh doanh khi nó có độ tin dùng cao.
Do vậy, cần kiểm định, đảm bảo mức độ tin dùng cao của các kết quả dự báo. Mức độ tin dùng của kết quả dự báo phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phù hợp của phương pháp dự báo được chọn dùng và mức độ sát đúng của bộ dữ liệu. Phương pháp dự báo được chọn dùng phải phù hợp với tính chất biến động của đối tượng dự báo. Dữ liệu cho dự báo trước hết phải là dữ liệu có cùng tương lai với kết quả dự báo.
Dữ liệu quá khứ chỉ là một căn cứ của dữ liệu tương lai. Dự báo tương đối chính xác tương lai để có phương định hướng, chuẩn bị trước là việc làm vô cùng quan trọng đối với kinh doanh nói chung, đối với quản lý chiến lược kinh doanh nói riêng nên vô cùng khó khăn. Trước hết, dự báo những gì xảy ra trong tương lai không thể hoàn toàn chính xác. Và các căn cứ thường có quan hệ hữu cơ với nhau.
Căn cứ này thay đổi thường làm thay đổi các căn cứ khác và ngược lại. Như vậy, việc đảm bảo độ chính xác cao của kết quả dự báo – đảm bảo các căn cứ cho hoạch định chiến lược kinh doanh có vị trí, vai trò to lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp, đối với hiệu quả kinh doanh bền vững của doanh nghiệp. Nó đòi hỏi trí tuệ cao, đầu tư lớn.