CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Ngân hàng thương mại và dịch vụ ngân hàng 1.1 Ngân hàng thương mại Hiện nay có một số khái niệm về Ngân hàng thương mại như sau: - Theo Khoản 3 điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức Tín dụng (Luật số 20/2004/QH11 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2004) quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”. Trong đó, hoạt động ngân hàng theo Luật này quy định là “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. - Theo Điều 5 Nghị định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2009) quy định: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”.
Các loại hình ngân hàng thương mại bao gồm: - Ngân hàng thương mại Nhà nước: là ngân hàng thương mại trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. - Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. - Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong 123doc 4 đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ).
Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. - Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng thương mại liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Tại Việt Nam, từ khi ban hành Pháp Lệnh Ngân Hàng Nhà Nước và Pháp lệnh về các Tổ chức tín dụng, ngành ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng và quy mô.2 Dịch vụ và Dịch vụ ngân hàng Để hiểu về dịch vụ, có nhiều các về các tiếp cận bản chất của dịch vụ như sau: - Dịch vụ là các hoạt động, sự cố gắng hay việc hoàn tất do một bên thực hiện để cung cấp cho một bên khác.
Việc cố gắng hay hoàn tất thường là không thể sờ, thấy được. Bản thân các nhân tố “đầu vào”, “đầu ra” của dịch vụ cũng không sợ, thấy được, do đó, việc cung ứng dịch vụ không đưa đến một sự chiếm hữu nào cả. - Dịch vụ là các hoạt động kinh tế, sáng tạo ra giá trị và cung cấp các lợi ích cho khách hàng vào một thời điểm và không gian cụ thể. Hiện nay có nhiều khái niệm về dịch vụ, nhưng khái niệm của Philip Kotler là tương đối phù hợp nhất.
Theo đó, dịch vụ là bất kỳ biện pháp hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, và chủ yếu là không thể sờ thấy được, và không dẫn đến một sự chiếm hữu một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và có thể không liên quan đên hàng hóa dưới dạng vật chất của nó. Dịch vụ có bốn đặc điểm cơ bản: 123doc 5 - Tính không sờ thấy được: tính chất này xuất phát từ bản chất của dịch vụ. Dịch vụ không thể cảm nhận được trước khi mua.
Quyết định của người mua dịch vụ thường chủ quan hơn là khách quan. - Tính không thể tách rời nguồn gốc: dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó. Một sản phẩm hàng hóa được sản xuất, bán và cuối cùng là tiêu thụ. Trong khi đó, việc hoàn tất và tiêu thụ dịch vụ gần như diễn ra cùng lúc với nhau.
- Tính không ổn định về chất lượng: nói lên sự khác nhau, dù là tiềm ẩn, giữa hai dịch vụ nối tiếp nhau. Chất lượng dịch vụ thay đổi tùy theo người cung ứng, cũng như thời gian và địa điểm cung ứng. - Tính không lưu giữ được: xuất phát từ bản chất không thể “tồn kho” hay “lưu giữ" được của dịch vụ. Về dịch vụ ngân hàng, hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng.
Có quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi.) chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng. Nhưng hiện nay có một quan niệm khác về dịch vụ ngân hàng được sử dụng phổ biến hơn cho rằng tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại đều được coi là hoạt động dịch vụ. Quan niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong dự thảo Hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết, đàm phán trong quá tình gia nhập, phù hợp với nội dung Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ ngân hàng Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, có thể xét đến một số nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ ngân hàng như sau: - Năng lực tài chính: Năng lực tài chính mang đến quyết định đối với quy mô hoạt động của ngân hàng, chi phí cho đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại… Nguồn vốn càng lớn càng tạo niềm tin cho công chúng, tăng khả năng thu hút vốn cho ngân hàng, tăng cơ hội đầu tư lớn cho công nghệ hiện đại phục vụ cho việc đa dạng và phát triển các dịch vụ ngân hàng. 123doc 6 - Nhu cầu của khách hàng: Nhu cầu của con người là vô tận.
Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi nhu cầu, đến sự thay đổi của dịch vụ ngân hàng có vai trò quan trọng trong thành công hay thất bại của chiến lược sản phẩm. Khách hàng của lĩnh vực dịch vụ ngân hàng thường có các nhu cầu về thu nhập, nhu cầu tài trợ, nhu cầu quản lý rủi ro, nhu cầu thanh toán, chuyển dịch tiền tệ, nhu cầu tư vấn và nhu cầu thông tin. Nhu cầu luôn thay đổi theo thời gian và không gian, theo những điều kiện, nhân tố khác nhau. Nhu cầu của khách hàng cá nhân bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý, lối sống, trình độ dân trí, phong tục tập quán… Nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi chiến lược kinh doanh, sự tác động của các yếu tố trong môi trường vi mô và vĩ mô.
Do đó, bên cạnh việc nhận biết các nhu cầu hiện tại, ngân hàng còn phải biết dự đoán các nhu cầu tương lai của khách hàng, để có thể đưa ra những sản phẩm mới phù hợp với sự thay đổi của nhu cầu khách hàng. - Sự phát triển của công nghệ ngân hàng: Sự phát triển của công nghệ thông tin trong những năm gần đây đã làm thay đổi căn bản các dịch vụ truyền thống của ngân hàng. Điều này thể hiện qua việc tự động hóa trong thanh toán, các dịch vụ ngân hàng điện tử, việc sử dụng các máy ATM, máy POS… Công nghệ thông tin giúp ngân hàng phát kiến ra ngày càng nhiều sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng. - Trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực: Trong xu thế phát triển và cạnh tranh như hiện nay, nếu như công nghệ được xem là yếu tố quan trọng tác động đến sự hoàn thiện và phát triển của dịch vụ ngân hàng chính là năng lực quản trị điều hành và chất lượng nguồn nhân lực.
Nhân tố con người được xem là nguồn lực thiết yếu đối với mỗi ngân hàng. Chất lượng dịch vụ ngân hàng cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào khả năng phục vụ của nhân viên ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhanh chóng và chính xác, đội ngũ nhân viên phải được đào tạo bài bản, nắm vững quy trình nghiệp vụ, biết làm chủ công nghệ và tác phong phục vụ chuyên nghiệp. 123doc 7 - Áp lực cạnh tranh: Trong một môi trường đầy cạnh tranh như hiện nay, các ngân hàng và ngay cả các tổ chức tài chính phi ngân hàng ngày càng đưa ra nhiều sản phẩm mới để mở rộng thị phần, gia tăng thu nhập.
Việc theo dõi sát sao các chiến lược sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh sẽ là cơ sở giúp ngân hàng thấu hiểu các sản phẩm hiện tại trên thị trường, cơ sở để phát kiến các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao hơn - Chính sách của chính phủ: Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt quan trọng, là huyết mạch của nền kinh tế quốc gia. Do đó, ngân hàng luôn là đối tượng quản lý đặc biệt của bất kỳ chính phủ nào. Chính phủ quản lý thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách. Một sự thay đổi về chính sách sẽ có những tác động nhất định đến hoạt động của các ngân hàng, cũng như các danh mục dịch vụ ngân hàng của họ.
- Giá cả dịch vụ ngân hàng: Giá cả của dịch vụ ngân hàng là số tiền mà khách hàng hay chính ngân hàng phải trả, hoặc để được quyền sử dụng một số tiền nhất định trong một thời gian và với những điều kiện thỏa thuận, hoặc sử dụng các tiện ích, dịch vụ do ngân hàng cung cấp.