Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Mô hình nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, tác giả nêu tổng quan các khái niệm, thành phần và vai trò của thu nhập của ngân hàng và thu nhập ngoài lãi. Đưa ra các lý thuyết nền tảng có liên quan đến thu nhập ngoài lãi là tiền đề để xác định dấu kỳ vọng của các biến. Kế đến, nêu lên khái niệm và đặc điểm của từng yếu tố vi mô và vĩ mô.
Cuối cùng, sàn lọc các bài nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thu nhập ngoài lãi. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi của NHTM 2. Thu nhập và thu nhập ngoài lãi của NHTM 2. Khái niệm Thu nhập của các NHTM gồm thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi.
Thu nhập lãi là các hoạt động đến các thành phần như sau thu nhập từ lãi, thu từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng, thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ và các thu nhập khác. Thu nhập ngoài lãi là nguồn thu nhập của ngân hàng từ các hoạt động ngân hàng phi truyền thống như hoa hồng, phí và các khoản phí liên quan khác (Theo Olowolaju và Philip Segun 2018). Theo Deyoung và Rice (2003) thu nhập ngoài lãi là những khoản thu không trực tiếp liên quan đến các hoạt động lãi suất. Nó bao gồm phí dịch vụ trên tài khoản tiền gửi, thu nhập từ hoạt động sử dụng uy tín ngân hàng và phí dịch vụ.
Theo Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) thu nhập ngoài lãi là khoản thu nhập của NHTM được hình thành”từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực”hiện các sản phẩm dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. 8 Tóm lại, thu nhập ngoài lãi là nguồn thu nhập đến từ hoạt động thu phí dịch vụ, hoạt động đầu tư chứng khoán, hoạt động ngoại hối và các hoạt động khác không bị tác động bởi yếu tố lãi suất. Cách đo lường thu nhập ngoài lãi Thu nhập ngoài lãi có 2 phương pháp đo lường bao gồm: Thứ nhất, đo lường thu nhập ngoài lãi dựa và tỷ lệ từng nguồn thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động. Dựa trên các bài nghiên cứu của Hồ thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017): ICONON = ICOCOM + ICOTRAD + ICOOTH Trong đó: + Thu nhập từ dịch vụ (COM): ICOCOM = COM/(NET+NON) + Thu nhập từ HĐKD và đầu tư (TRAD): ICOTRAD = TRAD/(NET+NON) + TN khác (OTH): ICOOTH = OTH/(NET+NON) Với: ICONON là tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi; ICOCOM là tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ; ICOTRAD là tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh, đầu tư ICOOTH là tỷ lệ thu nhập thuần từ các hoạt động ngoài lãi khác.
NON là thu nhập thuần ngoài lãi và NET là thu nhập thuần từ lãi. Thứ hai, phương pháp dựa trên tỷ trong thu nhập ngoài lãi trên tổng tài sản. Theo DeYoung và Rice (2004), Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018) thì cụ thể: TNNL = TNNL/ Tổng Tài sản Trong đó: Thu nhập ngoài lãi= Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ + Lãi/lỗ thuần từ hoạt động”kinh doanh ngoại hối và vàng + Lãi/lỗ thuần từ mua bán”chứng khoán kinh doanh + Lãi/lỗ“thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần. Lý thuyết liên quan đến thu nhập ngoài lãi.
Lý thuyết về nguồn lực (Resource-based view) của tác giả Wernerfelt (1984), lý thuyết”này nói rằng sự kết hợp những quan điểm”truyền thông về chiến lược của những năng lực đặc biệt của doanh”nghiệp và sự không đồng nhất của năng lực các doanh nghiệp. Đối với ngân hàng, lý thuyết này ảnh hưởng rất lớn về sự cạnh tranh bởi nguồn lực. Nguồn lực ở đây chính là thu nhập của ngân hàng theo Baral (2005), Kouser và cộng sự (2011) Đo lường: Đối với lý thuyết này, nguồn lực của”ngân hàng sẽ được đo lường 2 chỉ tiêu đó là khả năng sinh lời và quy mô (Kỷ yếu hội thảo 40 năm ngân hàng nhà nước Việt Nam, 2015) + Đối với nhóm khả năng sinh lời: Các chỉ tiêu đo lường thông qua tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và thu nhập lãi cận biên (NIM). Theo Olweny và Shipho (2011) khi nguồn lực càng mạnh thì lợi nhuận càng cao điều này nói lên rằng khả năng sinh lời càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao theo Đoàn Việt Hùng (2020) tác giả cho rằng”Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA) thể hiện khả năng của đơn vị trong việc”sử dụng các nguồn lực về tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận.
ROA càng cao thể hiện khả năng quản lý của ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng. Ngoài ra, thu”nhập lãi cận biên là thước đo đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua các tài sản “Có sinh lời”. + Đối với nhóm quy mô: Chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về nguồn lực đó là quy mô tài sản và quy mô vốn. Dựa vào báo cáo tài chính mà tác giả thu thập thu thập, tài sản có sinh”lời (tiền, vàng gửi tại các tổ chức tín dụng khác; khoản cho vay các tổ chức tín dụng khác; khoản cấp tín dụng cho khách hàng; chứng khoán kinh doanh; chứng khoán đầu tư; khoản góp vốn, đầu tư dài hạn) đã chiếm xấp xỉ 80% tổng tài sản.
Đủ để nói lên rằng, quy mô tài sản rất quan trọng đối với các ngân hàng và thể hiện được các đặc tính”hoạt động của ngân hàng như khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, mức độ nhạy cảm của ngân 10 hàng với thị trường và gia tăng nguồn thu nhập của ngân hàng. Kế đến, quy mô về vốn, các NHTM tập chung vào”vốn điều lệ. Đó là nguồn vốn quan trọng thể hiện được khả năng duy trì hoạt động của ngân hàng đồng thời là nguồn lực tài chính tiềm tàng của ngân hàng. Lý thuyết định giá chênh lệch giá (APT) là một lý thuyết chung về định giá tài sản cho rằng quan trọng hơn trong việc định giá tài sản (Holbrook, 2010).
APT tương đối là một kỹ thuật đa dạng vừa”phải để phân tích mô hình giá tài sản. Mô hình APT giả định lập luận rằng hành vi nhận thức của các nhà đầu tư không hợp lý có tác động sâu rộng đến lợi nhuận kỳ vọng của một tài sản tài có thể được mô hình hóa như một hàm tuyến tính của nhiều yếu tố vĩ mô khác nhau, rằng giá cổ phiếu bị ảnh hưởng một phần và không tương quan với hầu hết các định giá tài sản trên thị trường vốn. Lý thuyết mô tả các quyết định của nhà đầu tư ngân hàng trong các yếu tố kinh tế hoặc chỉ số thị trường lý thuyết, trong đó độ nhạy cảm với những thay đổi trong từng yếu tố các biến kinh tế vĩ mô và các biến này không đa cộng tuyến với nhau. Cách đo lường: Bản chất của lý thuyết bao quanh một danh mục đầu tư rủi ro tối ưu được đa dạng hóa hoàn toàn gọi là danh mục thị trường yếu tố được biểu thị bằng hệ số beta dành riêng cho yếu tố.
Tỷ lệ bắt nguồn từ mô hình của APT định nghĩa rằng lợi nhuận kỳ vọng trên giá cổ phiếu được tính trên lãi vốn cộng với mà tất cả các nhà đầu tư được cho là nắm giữ trong ngành ngân hàng, và nguồn duy nhất hiện thực hóa phần bù rủi ro (rủi ro của các biến kinh tế vĩ mô), Rủi ro trong đầu tư là độ nhạy cảm với những biến động trong danh mục thị trường, lợi nhuận sau đó sẽ được sử dụng để định giá tài sản một cách chính xác, giá tài sản phải bằng giá mức giá dự kiến được chiết khấu vào cuối kỳ theo tỷ lệ được mô tả trong mô hình (Burmeister, 2006). Lý thuyết này phù hợp với nghiên cứu vì nó đưa ra những gợi ý về cách thức trong đó tài sản nên được định giá”trên thị trường ngành ngân hàng. APT tương đối là một kỹ thuật đa dạng vừa phải để phân tích mô hình giá tài sản. Mô hình APT giả định lập luận rằng hành vi nhận thức của các nhà đầu tư không hợp lý có tác động sâu rộng đến lợi nhuận kỳ vọng của một tài sản tài chính có thể được mô hình hóa như một hàm tuyến tính của nhiều yếu tố vĩ mô khác nhau.
rằng giá cổ phiếu bị ảnh hưởng một phần và không tương quan với hầu hết các định giá tài sản trên thị trường vốn. Lý thuyết mô tả các quyết định của nhà đầu tư ngân hàng trong các yếu tố kinh tế”hoặc chỉ số thị trường lý thuyết, trong đó độ nhạy cảm với những thay đổi trong từng yếu tố các biến kinh tế vĩ mô và các biến này không đa cộng tuyến với nhau. Bản chất của lý thuyết bao quanh một danh mục đầu tư rủi ro tối ưu được đa dạng hóa hoàn toàn gọi là danh mục thị trường yếu tố được biểu thị bằng hệ số beta dành riêng cho yếu tố. Tỷ lệ bắt nguồn từ mô hình của APT định nghĩa rằng lợi nhuận kỳ vọng trên giá cổ phiếu được tính trên lãi vốn cộng với mà tất cả các nhà đầu tư được cho là nắm giữ trong ngành ngân hàng, và nguồn duy nhất hiện thực hóa phần bù rủi ro (rủi ro của các biến kinh tế vĩ mô) trong thời gian khóa học, Rủi ro trong đầu tư là độ nhạy cảm của nó với những biến động trong danh”mục thị trường, vì bất kỳ rủi ro cụ thể nào của công ty đều có thể được đa dạng hóa bằng cách nắm giữ thị trường cổ phiếu vì lợi ích đa dạng hóa”và giảm độ biến động của toàn bộ danh mục đầu tư (Markowitz, 1959).
Hagstrom (2011), khẳng định rằng trước MPT, giả sử nhà đầu tư mong đợi sự gia tăng. Lý thuyết này trình bày cho các nhà đầu tư hai khía cạnh. Một khía cạnh là lịch sử có thể danh mục đầu tư. Các yếu tố tác động đến thu nhập ngoài lãi 2.
Quy mô của ngân hàng Đây chỉ tiêu để đánh giá nguồn lực và tiềm năng của ngân hàng, quy mô của ngân hàng bao gồm quy mô về vốn và quy mô về tài sản.